Friday, 13 March 2015

Câu chuyện Anh Ba Sàm


Một ngày đầu tháng 5 ở Hà Nội, công an Việt Nam đột ngột ập vào nhà, cũng là công ty, của một blogger nổi tiếng – Nguyễn Hữu Vinh, được biết đến dưới cái tên Anh Ba Sàm. Vinh và trợ lý là cô Nguyễn Thị Minh Thúy – một người mẹ của hai đứa con song sinh 7 tuổi – bị bắt ngay lập tức.

Vụ bắt khẩn cấp rõ ràng nhằm làm Vinh bất ngờ. Tuy nhiên, công an không kiểm soát được trang tin vốn đông người đọc Ba Sàm News, và trang này vẫn tiếp tục hoạt động. Trên thực tế, chỉ 5 ngày sau khi Vinh và Thúy bị bắt, hai cộng sự khác của ông đã ra một tuyên bố đầy thách thức: “Nguyễn Hữu Vinh bị bắt, nhưng Ba Sàm thì không”. Tuyên bố này hàm ý rằng một phong trào viết blog mạnh mẽ hơn, viết vì sự thay đổi, sẽ tiếp tục nổi lên ở Việt Nam.

Vụ bắt bớ gây một làn sóng phẫn nộ lớn trong giới đấu tranh. Phong trào Con Đường Việt Nam, một tổ chức xã hội dân sự hoạt động vì quyền con người ở Việt Nam, cũng ra một tuyên bố vào ngày 7/5, nêu rõ: “Việc tiếp tục tước đoạt quyền tự do ngôn luận của các công dân trong nước như ông Nguyễn Hữu Vinh, bà Nguyễn Thị Minh Thúy và những nhà hoạt động, blogger khác chứng tỏ chính quyền Việt Nam không có thiện tâm hòa giải với chính người dân mình và cương quyết khước từ mọi đóng góp của người dân vào tiến trình giữ nước và dựng nước chung”.

Chính quyền phản công. Sử dụng hệ thống báo chí do công an và quân đội kiểm soát, chính quyền buộc tội Vinh và Thúy “đăng tải các bài viết có nội dung xấu, thông tin sai lệch, làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội lên mạng Internet”, vi phạm Điều 258 Bộ luật Hình sự.

Trong một bài viết đặc biệt hằn học, một trang mạng của công an buộc tội Vinh: “Y chuyên viết về các vấn đề chính trị xã hội Việt Nam với phong cách bình luận chống đối, luôn tìm cách làm cho mọi thứ của Việt Nam xấu xa, tồi tệ giống với con người của y”.

Anh đã luôn có mặt ở những nơi đó. (Ảnh: No-U Hà Nội)

Người muốn thắp lửa

Nguyễn Hữu Vinh không phải luôn luôn là người được phong trào dân chủ ưa thích. Bản thân vốn là một sĩ quan an ninh, ban đầu ông cũng bị nghi ngờ. Sinh năm 1956 trong một gia đình cán bộ cao cấp, ông có đầy đủ điều kiện để cũng trở thành một quan chức trong hệ thống cấp bậc của nhà nước cộng sản.

Ngay sau khi Vinh bị bắt, các blogger đã tìm lại tiểu sử gia đình ông, để nhắc lại rằng cha của Vinh, cụ Nguyễn Hữu Khiếu, từng làm Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô hai nhiệm kỳ. Vào cái thời mà Liên Xô còn là “ông anh cả” của Việt Nam trong Chiến tranh Lạnh, làm đại sứ là một đặc quyền, và như chính Vinh từng viết trong một hồi ký ngắn vào năm 2012, ông và gia đình hồi đó sống một cuộc sống mà toàn bộ phần còn lại của xã hội chỉ có thể mơ tưởng.

Ngôi nhà nơi ông sinh sống hồi nhỏ bây giờ là nhà của thủ tướng đương nhiệm. “Khi người dân miền Bắc hầu như không biết đến hương vị bơ, sữa, thì mỗi sáng hắn tản bộ vài bước qua số 2 Hoàng Diệu, kế bên dinh thự của Tổng Bí thư Lê Duẩn, để mua những chai sữa tươi còn nóng hổi, những thỏi bơ, pa-tê, ổ bánh mì thơm phức”.

Vinh thậm chí còn được gặp Hồ Chí Minh một lần khi mới lên 5 tuổi – đó được coi là đặc ân đối với người dân miền Bắc Việt Nam hồi ấy.

Quan trọng nhất, nhờ thành phần gia đình, ông được tiếp cận với những cuốn sách mà dân thường hoàn toàn không thể động đến. Một trong số đó, gọi là “tài liệu tham khảo đặc biệt”, gồm những bài viết được Thông Tấn Xã Việt Nam dịch chọn lọc từ báo chí nước ngoài sang tiếng Việt.

Những năm 1960’, loại này có chữ “Mật-Không phổ biến”, chỉ cấp bộ thứ trưởng trở lên được cung cấp, sau này thêm cấp vụ, cục. Rồi khoảng cuối 1990’ thì bán tự do. Dù thế nào thì những tài liệu này cũng đã giúp hắn “tự diễn biến” kha khá trong bao nhiêu năm “theo đảng”” – Vinh viết. Từ những tài liệu này mà ông biết đến sự tàn bạo của chế độ cộng sản Mao Trạch Đông, mà tiếc thay đó lại là lý tưởng mà chính quyền miền Bắc Việt Nam thời ấy cố vươn tới.

Chiến tranh leo thang, Vinh sơ tán về quê, nơi ông chứng kiến cuộc sống nghèo đói của những người dân ở dưới trong bậc thang xã hội. Nhưng niềm tin của ông vào lý tưởng cộng sản chỉ thật sự đảo lộn khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, và ông có có cơ hội nhìn thấy khoảng cách phân chia sâu sắc giữa “miền Nam tư bản” và “miền Bắc cộng sản”. Ông không mất nhiều thời gian để đi đến kết luận rằng đời sống dưới chế độ tư bản, bất chấp những hạn chế của nó, vẫn thịnh vượng hơn và khác hẳn cái cuộc sống được mô tả trong các tài liệu tuyên truyền của người cộng sản.

Hắn được “mở mắt” thêm nhiều nữa” – Vinh viết. “Rồi thêm một thứ “diễn biến” khác là hắn đã liều bỏ không biết bao thời gian và tiền túi để lọ mọ học tiếng Anh và vi tính từ lúc mọi người còn coi là thứ xa lạ”.

Để nhóm lên ngọn lửa

Luôn quyết liệt, đam mê, và can đảm” – Phạm Xuân Cần, bạn học cũ của Vinh ở Học viện An ninh, viết, hòa thêm vào cơn phẫn nộ của cộng đồng blogger sau vụ bắt giữ Vinh. Ông Cần nhớ lại Vinh đã là một sinh viên của Học viện như thế nào, sau đó trở thành một sĩ quan an ninh, rồi làm việc ở Ban Việt kiều. Kinh nghiệm làm việc của Vinh với các trí thức Việt Nam ở nước ngoài – một số trong đó đã lưu vong từ năm 1975 – bổ sung thêm vào những hiểu biết của ông về “miền Nam tư bản”, khiến ông bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ: “Bao nhiêu con người với những bộ óc tài ba đã bị phung phí”.

Năm 1999, gần như ngay sau khi Việt Nam thông qua Luật Doanh nghiệp, Vinh ra khỏi biên chế Nhà nước và thành lập công ty riêng, VPI, công ty thám tử tư đầu tiên ở Việt Nam. Công việc làm ăn của Vinh tiến triển tốt, và lợi nhuận của nó đủ làm Vinh nghĩ đến chuyện theo đuổi những sự nghiệp khác.

Năm 2005, khi mạng xã hội 360 (mà giờ đây đã sập) của Yahoo! xuất hiện, Vinh cũng tham gia làm blog như bất kỳ thanh thiếu niên Việt Nam nào. Ông tạo ra trang blog Anh Ba Sàm trên nền Yahoo, ban đầu chỉ đăng tải các bài mà ông viết cho báo chí nhà nước, cho đến khi ông nhận ra nhu cầu của những người dân Việt Nam, muốn biết “thế giới nghĩ gì về chúng ta”.

Thế là Vinh bắt đầu dịch các tin bài trên báo chí nước ngoài về Việt Nam sang tiếng Việt, và lượng độc giả tăng dần. Blog Anh Ba Sàm cũng cung cấp cả những tài liệu về mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, mà cho đến tận bây giờ vẫn còn là một vấn đề chính trị nhạy cảm.

Mặc dù trang Anh Ba Sàm thu hút được một số lượng độc giả khá lớn (đối với một website chính trị), nhưng Vinh không dừng lại ở đó. Ông đi xa hơn trong sự nghiệp “khai dân trí” với sáng kiến xuất bản một bản tổng hợp những tin tức quan trọng nhất mỗi ngày. Vinh cũng thêm vào đó các comment (lời bình luận) – kết hợp giữa những suy nghĩ sâu sắc của một trí thức với văn phong dí dỏm, sắc sảo. Và các comment đã nhanh chóng trở thành đặc thù của trang Anh Ba Sàm, thu hút sự quan tâm của hàng trăm nghìn người đọc tiếng Việt trên khắp thế giới. Đó là một con số khá cao, đặc biệt khi mà lượng phát hành của tờ báo lớn Tuổi Trẻ chỉ đạt trung bình khoảng 200.000 bản.

Tin tức được cập nhật 24/7. Đúng như kỳ vọng của độc giả, blog dành sự chú ý đặc biệt cho những câu chuyện mà nền báo chí quốc doanh của Việt Nam không được phép đưa tin. Món điểm tin hàng ngày này đã thu hút tới 100.000 độc giả thường xuyên” – David Brown, một nhà cựu ngoại giao người Mỹ thường có các bài viết được dịch đăng trên Anh Ba Sàm, đã viết như thế về trang mạng này vào tháng 3/2013, khi nó chịu một đợt tấn công nặng nề của các hacker “ủng hộ chính quyền”.

Luôn đúng giờ, tuân thủ đạo đức báo chí, tức là chính xác, trung lập và bảo vệ nguồn tin, tôn trọng bản quyền. Đó là những nguyên tắc mà chúng tôi tuân theo trong suốt những năm qua” – Đinh Ngọc Thu, hiện là biên tập viên chính của trang Anh Ba Sàm, nói. Thu tham gia “điểm tin” cùng Vinh vào năm 2009, và lý do duy nhất khiến cô không bị bắt cùng Vinh và Thúy là vì cô đang sống ở California.

Quan hệ của Vinh với một số người trong bộ máy Nhà nước, xuất phát từ cương vị trước đây của ông trong các cơ quan nhà nước, cũng là những nguồn tin hữu ích. Tuy nhiên, đồng thời, chúng cũng gây nghi ngờ rằng ông là “an ninh trá hình”. Câu hỏi mà nhiều người đặt ra là tại sao Nguyễn Hữu Vinh mãi không bị bắt? Làm sao ông có thể “sống sót” qua rất nhiều đợt công an đàn áp blogger?

Bây giờ thì câu trả lời đã rõ ràng: Đó chỉ là vấn đề thời gian.

Hà Nội mùa xuân năm 2014. Ảnh: No-U Hà Nội

Công an vào cuộc

Chính quyền Việt Nam, với phần lớn là những gương mặt già nua, có lẽ không để ý nhiều đến sức mạnh của Internet, nhưng bộ máy an ninh của họ thì đã lưu tâm rất nhanh chóng. Bất kỳ người nào viết blog về các vấn đề chính trị sớm muộn cũng thấy có vấn đề với mạng lưới công an dày đặc ở Việt Nam. Vì thế, thật dễ hiểu khi Anh Ba Sàm được công an chú ý rất sớm, coi như một điểm tập kết của các lực lượng “phản động”.

Và dù sao thì đấy cũng là một niềm tin có cơ sở. Trang web đối kháng nào ở Việt Nam, hay nói đúng hơn là bằng tiếng Việt, cũng có lượng độc giả trung thành riêng của nó. Bạn đọc của Ba Sàm, như ông mô tả, có rất nhiều trí thức và đảng viên Đảng Cộng sản. Một tỷ lệ lớn trong số họ có thể vẫn còn trung thành với ý thức hệ cộng sản đã lạc hậu, và cái mà họ cần là “sự thật như nó vốn có” – trung lập và chính xác, không có sự kiểm duyệt của nhà nước.

Độc giả quả thật đã tạo thành một cộng đồng gắn kết, và bản thân độc giả cũng có người đọc của chính họ – có nhiều người vào Anh Ba Sàm chủ yếu để đọc các comment của Vinh và các blogger (“còm sĩ”) khác dưới mỗi bài. Rất nhiều còm sĩ đã trở nên nổi tiếng trong “đại gia đình bạn đọc Anh Ba Sàm”.

Chỉ có một đội ngũ rất ít người vừa lo nội dung vừa lo bảo mật, nên trang mạng thường xuyên bị tấn công. Ông Brown, nhà cựu ngoại giao, viết:

… ngày 9/3, blog Ba Sàm bị tấn công triệt để. Bài vở, comment của mấy năm trời mất sạch. Tài khoản email của đội ngũ biên tập viên cũng mất. Nhóm Ba Sàm cho đến giờ vẫn chưa lấy lại được quyền kiểm soát trang anhbasam.wordpress.com. Tuy nhiên, đó vẫn còn là một bi kịch có thể xử lý được. Một ít nội dung đã được sao lưu dự phòng trên các máy chủ đặt ở nước ngoài”.

… Một độc giả ngây thơ có thể kết luận rằng nhóm Anh Ba Sàm là một lũ phản động bất mãn, sống ở Mỹ, mưu lật đổ chính quyền Hà Nội”.

Sự thật là Vinh và cộng sự của ông chẳng nhận khoản trợ giúp tài chính nào từ bất cứ ai. Trên thực tế, khi nền kinh tế sa sút, công ty thám tử tư của Vinh cũng gặp khó khăn và đã gần trên bờ vực phá sản khi Vinh và Thúy bị bắt.

Một bạn đọc từng có đôi lần gặp Vinh kể lại một cuộc trò chuyện của chị với Vinh. Một cách nghi ngờ, bạn đọc đó hỏi: “Tại sao anh làm tất cả những việc này?”.

Ông đáp: “Bởi vì tôi ở vị thế tốt hơn bất cứ ai để làm việc này, cho nên nếu không làm, tôi sẽ cảm thấy có tội”.

Và ông bảo: “Bởi vì tôi đáp ứng đủ ba điều kiện. Thứ nhất, điều kiện kinh tế của tôi đủ tốt. Tôi có VPI, tôi không đến nỗi nghèo đói. Thứ hai, tôi có kiến thức về mạng. Và thứ ba, quan trọng nhất, là tôi hiểu họ – công an. Tôi đã từng ở trong họ, tôi hiểu họ”.

Tuy nhiên, có vẻ như cuối cùng ông đã thua. Người cựu sĩ quan an ninh đã không nghĩ rằng những đồng nghiệp cũ của ông có thể bắt ông, và ông bị bắt vào lúc không ngờ nhất.

Bản án đối với ông được dự đoán là sẽ nặng nề, bởi vì các tòa án của công an luôn xử nghiêm những người bị coi là “phản bội” nguồn gốc cộng sản của họ. Như Cù Huy Hà Vũ, con của một quan chức cộng sản cấp cao khác, cũng đã bị kết án 7 năm tù vào năm 2011.

Nhưng nói một cách lạc quan, chẳng phải đây là lúc để Vinh nghỉ ngơi hay sao? Ông đã làm việc quá nhiều, đấu tranh quá kiên trì trong suốt 7 năm qua, làm kiệt quệ cả bản thân ông lẫn các cộng sự. Và mặc dù ông có rất nhiều độc giả, cuối cùng, về cơ bản đó vẫn là một cuộc chiến đấu trong cô đơn.

Nhưng ông vẫn cứ blog.

California, 4/7/2014

ANH BA SAM’S NEWS BLOG MARCHES ON DESPITE HIS ARREST


One day last May in Hanoi, Vietnamese police launched a sudden raid into the house and business of a long-famous blogger, Nguyen Huu Vinh, better known as Anh Ba Sam (meaning Brother Gossiper). Vinh and his assistant Nguyen Thi Minh Thuy, a mother of seven-year-old twin children, were detained immediately.

The sudden raid and arrests apparently caught Vinh by surprise. The very high-traffic Ba Sam News at basam.info, however, stayed out of police control and kept on running. In fact, just five days after Vinh and Thuy’s arrest, his colleagues published a defiant statement, “Nguyen Huu Vinh was arrested, yes, but Anh Ba Sam will never be.” The statement carried implications of an even more powerful blogging and writing movement for change in Vietnam.

The arrest prompted a huge outcry among dissidents. The Vietnam Path Movement, a civil society organization that works to promote human rights inside of Vietnam, released a statement on May 7, stating, “By depriving Mr. Nguyen Huu Vinh, Mrs. Nguyen Thi Minh Thuy, and other activists’ rights to freedom of expression, the Vietnam government adamantly refuses all contributions from the people toward building a stronger nation.”

The government hit back. Using media owned by the police and the army, the government accused Vinh and Thuy of “publishing online articles with bad contents and misleading information to lower the prestige and create public distrust of government offices, social organizations and citizens” under Article 258 of the Vietnamese Penal Code.

In one particular colorful posting, the police-owned newspaper accused Vinh of “reporting and commenting on current social and political issues of Vietnam with a deliberately critical tone”, “trying to make Vietnam look as bad and ugly as he is.”

Somewhere in the crowd, there was always him - the citizen journalist. 
Photo courtesy of No-U Hanoi.

The man who wanted to light the candle

Nguyen Huu Vinh was not always the darling of the democracy movement. A former public security officer himself, Vinh was mistrusted at first. Born in 1956 to a high-ranking communist official, he had all the good reasons to himself become a high-ranking official, too, in the hierarchy of the communist state.

Right when Vinh was arrested, bloggers looked up his family background to be reminded that his father, Nguyen Huu Khieu, was twice the Vietnamese ambassador to the Soviet Union. As the Soviets were Vietnam’s “Big Brother” in the Cold War, being ambassador there was an enormous privilege, and as Vinh himself admitted in a short memoir in 2012, he and his family led a life that all the other parts of the society then could just dream of.

The house where he grew up is now the residence of the prime minister. “While butter, milk and the like were still unknown to people in Northern Vietnam, I just needed to take half a mile walk to number 2 Hoang Dieu street [a store dedicated to the upper echelon of the VCP] to get hot fresh milk, butter, pâté and bread.”

Vinh even met Ho Chi Minh once as a child of five, considered a special favor for Vietnamese in the North.

Most importantly, thanks to his family origin, he benefited from books that were totally inaccessible to ordinary people. One of such things, referred to as “special documents for reference,” were selected articles from foreign media translated by the Vietnam News Agency into Vietnamese. Vinh wrote:

“In the 1960s, these documents were labeled as ‘Confidential. No circulation,’ and only officials from ministerial level upward could access them. They would later on be provided also for lower administrative levels, and be sold at the end of the 1990s. No matter what, these documents helped to change me substantially during my years of ‘following the Party.’”

It was from those documents that he learned about the brutality of Mao’s China, which, ironically, was the ideal that the Vietnamese government at that time was trying to reach.

The Vietnam War escalated, and Vinh was evacuated to the countryside, where he saw the poverty for people in the lower rungs of the social. But his belief in the communist ideology only truly turned upside-down after the war ended in 1975, and he was able to view the deep rift between the “capitalist South” and the “communist North” of Vietnam. It did not take him much time to conclude that life in a capitalist system, with all its faults, was much more prosperous than and different from the one described in communist propaganda materials.

“My eyes were opened,” wrote Vinh, “and more than that, I ventured to spend a lot of time and money learning English and computer skills right from the days those things were strange to most people.”

To build a fire

“He was always determined, enthusiastic, and brave,” said Pham Xuan Can, a former classmate of Vinh’s at the Academy of Public Security who joined the public outcry online following Vinh’s arrest. Can recalled how Vinh became a student at the Academy, then became a public security officer before working at the Department of the Overseas Vietnamese. His experience of working with Vietnamese intellectuals in foreign countries, some almost in exile since 1975, added up with his past knowledge of “the capital South” to keep him obsessed by an idea, “how much social capital were wasted as a result of bad policies.”

In 1999, almost immediately after Vietnam’s adoption of the Enterprise Law, Vinh quit his government position and set up his own business, VPI, the very first private detective agency in Vietnam. Vinh’s business went well and its profits were enough for him to pursue other interests.

In 2005, when Yahoo!’s now extinct 360 blogging platform arrived, Vinh found blogging like any Vietnamese teenager. He created his Anh Ba Sam Yahoo blog in 2007 and initially filled it with articles he wrote for the state-owned media, until he realized the demand of Vietnamese people who want to know “what the world is thinking of us.”

So Vinh began translating foreign news stories about Vietnam, and his readership grew. Anh Ba Sam’s blog also provided source materials about China-Vietnam relations, which even until this day remains a politically sensitive issue.

Though Ba Sam won a relatively large readership for a political website, Vinh did not stop there. He went further in the cause of “enlightening the people” with the initiative of publishing a daily digest of the most important news items. Vinh also added his own comments, a mix of profound intellectual thoughts with cute, witty humor, and the comments became the characteristic of Ba Sam, winning the attention of hundreds of thousands Vietnamese speakers around the world. This was a quite high number, especially when the widely circulated Tuoi Tre Daily could only reach 200,000 copies or so.

“It’s up with the news 24/7. As might be expected, the blog has given particular emphasis to the stories that Vietnam’s state-supervised media has been unable to report. Its daily digest is the hook that has caught the attention of 100,000-plus regular readers,” David Brown, a former U.S. diplomat and an author whose articles were often translated and posted by Ba Sam, wrote on Asia Sentinel about the site in March 2013 when it was under a serious attack by “pro-government” hackers.

“Being on time, adhering to ethical codes of accuracy, neutrality and confidentiality of sources, and respecting copyrights, those are the principles that we kept to during the recent years,” said Dinh Ngoc Thu, now the main editor of Basam.info. Thu joined with Vinh in “news reviewing” in 2009, and the only reason why she was not arrested with Vinh and Thuy was because she lives in California.

Vinh’s connections with some people in the state apparatus, resulting from his previous positions in public offices, were also helpful news sources. However, at the same time, they raised suspicions about him being an “undercover police”. A haunting question for many was why Nguyen Huu Vinh was not arrested after such a long time? How could he “survive” many police suppressions of bloggers?

Now the answer is clear: It was just a matter of time.

Photo courtesy of No-U Hanoi, early 2014.

Police came in

The Vietnamese government, with mostly old faces, may not have noticed the power of the Internet, but its police machinery did so quickly. Anyone blogging about political issues will sooner or later found him/herself in trouble with the extensive network of police in Vietnam. So it was understandable that Ba Sam was identified very soon by the police as a rallying point of “anti-state” forces.

And it was a well-founded belief, anyway. Every dissident site in Vietnam, or in Vietnamese to be exact, has its own loyal readers. Ba Sam’s readers, as he described, incorporated many intellectuals and members of the Communist Party. A large proportion of them may still be loyal to the obsolete ideology of communism, and what they need is “fact as it is”, neutral and accurate without any state censorship.

Readers made up a close-knit community indeed, and readers themselves had readers – there were people who accessed Ba Sam mostly to read the comments by Vinh and other bloggers below each post. Many of such online commentators became famous to the “great family” of Ba Sam’s readers.

With only a small team in charge of both content providing and security ensuring, the site was subject to continuous attacks. Brown, the diplomat, wrote in sympathy:

“… on March 8, when the Ba Sam blog was thoroughly hacked. Several years’ reportage and commentary were deleted. The e-mail accounts of the blog’s editorial team were also compromised. The Ba Sam team has so far been unable to regain control of anhbasam.wordpress.com. That’s a manageable tragedy, however. All but a few days’ content was backed up on offshore servers.”

“… A naive reader might conclude that the Anh Ba Sam team are in fact renegades and grudge-bearing reactionaries based in the United States and dedicated to the overthrow of the Hanoi regime.”

The truth was that Vinh and his colleagues did not receive any financial assistance from anybody. In fact, as the economy went south, Vinh’s private detective agency also floundered and was almost on the brink of bankruptcy when Vinh and Thuy were detained.

One reader who met Vinh several times related her conversation with Vinh. Suspicious, the reader asked Vinh, “Why do you keep doing all these things?”

He replied, “Because I’m in a better position to do this than anyone else. So if I don’t do, I’ll feel guilty”.

And he explained, “Because I meet three conditions. First, my financial conditions are good enough. With VPI, I am not indigent. Second, I have Internet knowledge; and third, most importantly, I know them – the police – well. I was among them and I understand them.”

Yet, it seems he lost the battle in the end. The former public security officer did not expect his former colleagues to arrest him and was caught off-guard.

The sentence against him is expected to be harsh, as the police-dominated courts are always tough on those considered to have “betrayed” of their Communist Party origins. Cu Huy Ha Vu, another son of a cabinet-level Communist leader, was sentenced up to seven years of imprisonment in 2011. Vu, however, was released early and arrived in the U.S. in April, a month before Vinh’s arrest.

Optimistically, is it not a time for him to rest? He has worked too hard, struggled for too long in the past seven years, and exhausted himself as well as his colleagues. Despite the many readers he had, in the end, it was basically a fight in solitude.

But he kept blogging.

California, July 4, 2014

Monday, 2 March 2015

Vụ Trang Trần: Có một con voi trong phòng…

Trong tiếng Anh, có thành ngữ “elephant in the room”, hoặc “elephant in the living room”, dịch sát nghĩa là “có một con voi trong phòng (khách)”. Thành ngữ này chỉ một sự thật hiển nhiên, rõ ràng, mọi người đều biết, nhưng ai nấy đều lờ đi, không đả động đến vì ngại, vì sợ hoặc vì kiêng kỵ gì đó.

Để minh họa, có thể lấy ví dụ là vụ người mẫu Trang Trần bị CA phường Hàng Buồm bắt khẩn cấp và khởi tố về tội chống người thi hành công vụ. Ngay sau khi clip “Trang Trần chửi công an” bị tung lên mạng và nhân vật chính bị bắt giữ, cộng đồng mạng Việt Nam nổi sóng tranh cãi. Người phê phán Trang Trần vô văn hóa; kẻ khen cô trung thực, sống thật với lòng mình. Người phân tích luật pháp để thấy bắt Trang Trần là đúng (hoặc sai), kẻ lại chỉ trích “bọn dân chủ” cơ hội, tranh thủ vụ Trang Trần để xả cái sự căm ghét công an và cảm giác hả hê khi công an bị chửi tận mặt, v.v.

Nhưng đa số đều vô tình hoặc chủ ý khéo léo lờ đi một “con voi trong phòng khách”. Con voi ấy là gì vậy? Xin đăng tải dưới đây một số ít ý kiến đề cập đến nó.

1. Luật gia Trịnh Hữu Long:

Mọi người đều đồng ý với nhau rằng mọi quyền tự do đều cần có giới hạn. Lý do của việc đặt ra giới hạn là để đảm bảo quyền tự do của người khác và lợi ích chung của xã hội. Mỗi người cần bớt một chút tự do của mình để góp vào cái tự do chung của xã hội. Vấn đề là cái giới hạn ấy nằm ở đâu, và cái "một chút tự do" ấy là bao nhiêu. Đến đây thì bắt đầu cãi nhau không có hồi kết. Định lượng là một công việc không đơn giản, nhất là trong những xã hội đông dân và đa dạng về thành phần.

Vụ việc của Trang Trần, tuy nhỏ, và yếu tố duy nhất khiến nó ồn ào là cái danh hiệu siêu mẫu của cô, lại thể hiện đầy đủ những đặc trưng văn hóa pháp lý Việt Nam. Luật Việt Nam đã đúng khi quy định về hành vi chống người thi hành công vụ, cũng đúng khi quy định cả hai mức trừng phạt nặng nhẹ khác nhau là hành chính và hình sự. Nhưng vấn đề ở đây là “như thế nào là chống người thi hành công vụ” và ranh giới giữa mức hành chính và hình sự nằm ở đâu? Xác định được hai điều này cũng có nghĩa là xác định được ranh giới tự do của con người.

Các xã hội thiết lập những cơ chế riêng để đi tìm cái ranh giới đó. Cơ chế của hệ thống án lệ (Anh, Mỹ, Úc) thì thiên về việc trao cho các thẩm phán quyền giải thích hiến pháp và thiết lập các giới hạn. Cơ chế của hệ thống dân luật (Pháp, Đức, Nhật) thì thiên về sử dụng các văn bản pháp luật do lập pháp và hành pháp đặt ra. Hai hệ thống này tỏ ra vượt trội và trên thực tế nó đã tạo ra các xã hội thịnh vượng nhất trên hành tinh.

Điều tiên quyết để hai hệ thống trên vận hành được là cấu trúc nhà nước tam quyền phân lập và dựa trên nền tảng chính trị dân chủ. Hai yếu tố này giúp cho các cơ quan nhà nước được đặt trong tình trạng bị kiểm soát liên tục và buộc phải lựa chọn những giải pháp tốt nhất có thể, đồng nghĩa với việc họ sẽ tìm mọi cách để xác định đúng giới hạn tự do của con người. Dù có thể các mô hình đó còn khiếm khuyết và chưa tìm được cái cần tìm, cỗ máy đó vẫn vận hành và ngày càng tiến gần đến cái giới hạn hợp lý hơn.

Còn ở những xã hội chỉ có một đảng cầm quyền như Việt Nam, về cơ bản là không có cỗ máy đó, nỗ lực tìm kiếm giới hạn hợp lý là vô vọng. Hệ thống pháp luật và nhà nước Việt Nam có cái vỏ của hệ thống dân luật Pháp, nhưng thiếu hẳn hai yếu tố tam quyền phân lập và nền tảng chính trị dân chủ. Bản thân Việt Nam cũng không nhận mình thuộc về hệ thống dân luật Pháp, mà tự gọi là mô hình nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Mô hình này trao quyền quyết định cho Đảng Cộng sản Việt Nam, với quyền năng tuyệt đối và không bị ai giám sát. Với địa vị đó, cái ranh giới tự do của con người luôn bị đẩy về phía người dân và mở rộng tối đa không gian tự do của đảng cầm quyền. Vì thế, trong cách hành xử với Trang Trần, chính quyền đương nhiên lựa chọn cách giải thích pháp luật và xác định giới hạn tự do có lợi nhất cho họ.

Vậy nên nói gì thì nói, câu chuyện cuối cùng vẫn quay về với cái vòng kim cô chính trị mà Việt Nam đang đeo trên đầu. Có cố tình lảng tránh đến đâu, viện dẫn kiến thức bác học nào và biện minh bằng tinh thần bác ái cao đến đâu đi chăng nữa, câu trả lời cuối cùng chỉ có một. Loại bỏ Đảng ra khỏi các tranh luận pháp luật chỉ thể hiện hoặc là đánh giá không đúng mức vai trò của Đảng trong đời sống pháp luật, hoặc là cố tình lảng tránh. Tôi không hứng thú với những tranh cãi lặt vặt về luật thực định lắm, vì đó không phải cái cần nói.

2. Luật sư Vi Katerina Trần:

… Quyền diễn giải pháp luật ở Việt Nam thật ra là thẩm quyền của ai? Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, cho nên có thể thấy cả hai hệ thống pháp luật trên thế giới, án lệnh và dân luật đều không thể là cơ sở để trả lời vấn đề này.

Tôi không lên tiếng biện minh cho hành vi của cô Trang Trần. Tuy nhiên, hệ thống tư pháp ở Việt Nam bị xem thường quá mức và người dân không thể có một phán xét công bằng khi cơ quan hành pháp (đại diện là công an) nắm cả quyền diễn giải pháp luật và trước khi có phán xét của tòa án, dư luận đều dựa vào các tuyên bố của công an để định tội sẵn. Như thế, vấn nạn án tại hồ sơ không chỉ là sự thiếu trách nhiệm và vô năng của hệ thống tư pháp hay sự lạm quyền và tiếm quyền của cơ quan hành pháp mà còn là trách nhiệm của bất kỳ ai chấp nhận lối hành xử xem thường pháp luật. Tôi cho rằng hành vi xem thường pháp luật được thể hiện rất rõ khi một xã hội không coi trọng vai trò của ngành tư pháp, nơi đại diện cho pháp luật. Không phải ngẫu nhiên mà quyền thẩm định và diễn giải luật pháp tối thượng ở Hoa Kỳ được nằm trong tay Tòa Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.

Trở lại việc (…) ở Mỹ, cảnh sát có thể bắt một người say rượu và có hành vi chống người thi hành công vụ. Điều đó không sai. Tuy nhiên, khi cảnh sát bắt người, có những chuẩn mực pháp lý mà người thi hành công vụ phải tuân theo hay không? Đương nhiên là có. Nếu người thi hành công vụ lạm quyền thì họ có bị pháp luật chế tài hay không? Cũng đương nhiên là có. Và người bị cảnh sát cáo buộc say rượu và có hành vi chống người thi hành công vụ có cơ hội phản biện hay không? Chắc chắn có. Đó là bởi vì đến cuối cùng, tòa án mới là nơi quyết định ai có tội ai không. Đơn cử ví dụ ở Mỹ, là hồ sơ của của Rodney King, một người đã bị cảnh sát Los Angeles bắt vì vi phạm luật giao thông và bị nghi ngờ có sử dụng chất kích thích khi lái xe. Vì có 4 viên cảnh sát đã lạm quyền và sử dụng vũ lực, chính những người cảnh sát này cũng phải đối diện pháp luật vì những hành vi của họ.

Một người được cho là vô tội cho đến khi tòa án phán quyết có tội. Cô Trang Trần chỉ bị công an bắt, KHÔNG AI CÓ QUYỀN định tội lúc này vì đó là nguyên tắc suy đoán vô tội. Một người khẳng định người khác có tội trước khi tòa tuyên án, thì với tôi, đó là sản phẩm của chế độ công an trị!

Sau cùng, quyền con người hay nhân quyền, mọi người ai cũng có. Tôi tuy không bênh vực cô Trang Trần, nhưng tôi không thấy lý do gì để quyền con người của cô ấy, nếu bị vi phạm, thì không đáng cho tôi lên tiếng nếu tôi cảm thấy đó là việc nên làm.

Việc "xử làm gương" trong trường hợp này cũng có thể được hiểu là "đánh dằn mặt".

3. Đoan Trang:           

Rất mong các bạn, khi kêu gọi "thượng tôn pháp luật", cũng nên chú ý tới hai vấn đề: 1. Luật nào, do ai đặt ra, bản chất của nó như thế nào? 2. Ai là người giữ quyền diễn giải luật pháp ở Việt Nam?

Cái mà tôi muốn nói ở đây là sự bất cập trong việc thực thi công lý ở Việt Nam. Ví dụ, như thế nào là “chống người thi hành công vụ”, và ai là người định nghĩa/ diễn giải việc đó? (Trong lịch sử tư pháp Việt Nam, tôi biết có trường hợp bị một toán công an xã đánh hội đồng, nạn nhân tự vệ bằng cách xô công an ra để chạy, và cuối cùng vẫn bị bắt ngay tại chỗ, tống đi tù (không án) vì tội “chống người thi hành công vụ”).

Trang Trần chửi và đánh công an thì các báo đều đưa tin, nhưng không thấy báo nào nói về bộ mặt tím một nửa bên của Trang Trần, chẳng biết là do công an đánh hay có nguyên nhân gì khác. (Tôi cũng đoán trước rằng nếu có thì thể nào câu trả lời cũng sẽ là “Trang Trần say rượu và trong lúc cự cãi với công an thì ngã đập mặt vào bàn/ ghế/ v.v.”).

Vấn đề ở đây là, có ai nhận thấy rằng Trang Trần đang hoàn toàn ở thế yếu và không thể tự vệ? Ngay từ đầu, tất cả thông tin đều do công an đưa ra. Việc diễn giải hành vi của Trang Trần cũng là công an toàn quyền quyết định. Đấy là chưa nói đến việc căn cứ Bộ luật Tố tụng Hình sự, công an phường Hàng Buồm không thể “bắt khẩn cấp” Trang Trần được. Ai đảm bảo công an đang không lạm quyền trong vụ Trang Trần và tất cả các vụ tương tự?

Chúng ta có thể chỉ trích Trang Trần xả láng và ngoa ngoắt bao nhiêu cũng được, nhất là khi giờ này cô ấy đang ở trong tay công an, đang bị giam và không thể có cơ hội lên tiếng. Nhưng sao không ai đặt vấn đề về các sai phạm (có thể có) của công an: Còng tay, đánh người khi người đó đang say và về thể lực, thế lực thì người đó yếu hơn hẳn công an; bắt khẩn cấp là hành động bắt giữ tùy tiện và sai luật (Bộ luật Tố tụng Hình sự của chính Việt Nam); từ chối quyền tiếp cận luật sư của Trang Trần; khống chế và có biểu hiện ép cung để buộc Trang Trần phải viết giấy, quay video nhận lỗi; làm nhục công dân khi quay và tung video nhận lỗi của Trang Trần lên mạng...

Có ý kiến cho rằng những thành phần như “bọn dân chủ” mà dính vào vụ này thì càng làm khổ Trang Trần hơn, bởi vì không dưng lại đẩy vụ án thành “án điểm”, xử làm gương. Nói như vậy chẳng hóa ra tòa án xử theo dư luận? Thấy dư luận như thế thì càng phải xử nặng cho dư luận sáng mắt, cho chừa… – tòa án hay là trẻ nít lên ba vậy?

(Ồ mà nếu xử theo dư luận thật, thì sao tòa không “xử làm gương” luôn thủ phạm trong hàng chục vụ dân thường tử vong ở đồn công an?)

Lại có người “khuyên” rằng nếu đấu tranh cho nhân quyền thì nên chọn trường hợp khác mà bảo vệ, chứ đừng phí công cho Trang Trần vì cô ta sai. Điều đó cũng hệt như khi có các ý kiến khuyên mọi người đừng hơi đâu bảo vệ ông Kim Quốc Hoa và báo Người Cao Tuổi, vì “bên ấy làm báo kém nghiệp vụ lắm, sơ hở lắm, làm báo kiểu ấy không sai mới lạ”, v.v. Nói vậy thì hỏi đến bao giờ trong số các nạn nhân của tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam mới có người xứng đáng để chúng ta lên tiếng bảo vệ đây?

Lời kết

Đến đây, hẳn chúng ta đều đã xác định được “con voi trong phòng khách” kia là gì. Nói về luật pháp và nền hành pháp, tư pháp của một đất nước, không thể nào không đề cập tới chính trị, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam, khi “tà trị” (chứ không phải “chính trị”) đang chi phối mọi mặt của đời sống và kìm giữ sự phát triển của con người. Nói đến luật pháp, đến cái gọi là “nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam mà lại không nói đến vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản thì khác nào tảng lờ một  “con voi trong phòng khách”.

Hành pháp lộng hành, tùy tiện, thì được bao nhiêu người bênh vực, thương cảm, đòi “xử nghiêm công dân để “làm gương, răn đe”. Trong khi đó, tư pháp ngồi đuổi ruồi và làm cảnh bao lâu thì không thấy mấy ai quan tâm. Điều đó, không gì khác, cũng là một biểu hiện của xã hội công an trị.

Wednesday, 18 February 2015

Lời tự thú trước đêm giao thừa

Thật chẳng vui vẻ gì khi phải viết những dòng này, vào lúc này.

Trong khoảng nửa năm nay, kể từ mùa hè 2014 khi còn đang ở Mỹ, tôi đã thường xuyên nhận được từ nhiều trang Facebook nặc danh những tin nhắn đe dọa với một nội dung chung: Sẽ đưa các clip và hình ảnh nude, sex của tôi – Phạm Đoan Trang – lên mạng Internet, nếu tôi tiếp tục các hoạt động mà họ gọi là “chống phá”.

Tôi im lặng không trả lời một tin nhắn nào, vì tôi biết tác giả của chúng chỉ có thể là ai hoặc làm việc cho ai, và tôi… không biết phải nói gì.

Đó là một câu chuyện buồn, đã xảy ra từ gần 6 năm về trước, trong một vụ việc mà tôi tự gọi là “vụ bê bối 2009” của tôi với cơ quan an ninh điều tra của Việt Nam.

Hẳn nhiều người còn nhớ, vào cuối mùa hè năm 2009, có ba blogger bị bắt tạm giam 9 ngày ở một trong những vụ bắt nổi tiếng của năm (nối sau vụ bắt doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và luật sư Lê Công Định). Ba blogger ấy là Mẹ Nấm, Người Buôn Gió, và tôi – khi đó còn là phóng viên của chuyên trang Tuần Việt Nam thuộc báo điện tử VietNamNet.

Cả ba blogger bị bắt vì bị cho là có dính líu đến một “âm mưu” in áo phông chống dự án khai thác bauxite Tây Nguyên.

Trong ba blogger, có lẽ tôi là người “oan” nhất, theo nghĩa tôi không hề tham gia in áo, chưa từng trông thấy áo, cũng như không một lần được hỏi ý kiến về vụ áo xống đó. Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ lại câu chuyện ấy, với một ý nghĩ buồn trong đầu: “Áo em chưa mặc một lần…”.

Cũng về sau này, trong ba blogger, có lẽ tôi là người ít nói về câu chuyện năm ấy nhất, không phải vì sợ an ninh, sợ bị trả thù, hay sợ bất kỳ điều gì khác, mà vì hai lý do chính:

Lý do thứ nhất, tôi xấu hổ. Xấu hổ vì mình bị bắt một cách lãng xẹt, và hồi ấy, tôi ngu ngơ lắm, đần độn lắm, tôi đâu biết gì về chính trị, luật pháp, nhân quyền, v.v. Tôi đã là một người hoàn toàn ngây thơ và nhút nhát. Tôi đã khóc mếu, đã van lạy, xin khai báo thành khẩn – những việc mà không bao giờ tôi nghĩ mình có thể làm trong đời nếu mình vô tội. Nhưng than ôi, làm sao một đứa con gái nhà lành, chưa từng có chuyện dính dáng đến pháp luật và cơ quan công quyền, sống một thời tuổi trẻ và tuổi thơ tràn đầy thi ca nhạc họa, lại có thể có đủ bản lĩnh để đương đầu với những kẻ được đào tạo để thị uy, trấn áp người khác?

Mà cũng chính vì thế, tôi thấy xấu hổ thay cho cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an: Làm sao mà họ có thể biến chuyện in mấy cái áo phông thành một âm mưu xâm hại an ninh quốc gia được? Làm sao mà họ có thể thấy tự hào, hãnh diện vì đã cả phá thành công một “chuyên án” như thế? Nói cách khác, người bị bắt đã lố bịch, kẻ đi bắt người còn lố bịch hơn.

Lý do thứ hai, tôi đã trải qua những giờ phút rất đau khổ. Và đó là lý do còn ám ảnh tôi mãi mãi về sau này, cho đến tận bây giờ.

Họ – cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công an – đã thu giữ máy tính của tôi trái phép, trong lúc tôi đang bị giam ở B14.

Họ đã xâm nhập máy tính của tôi – đương nhiên là trái phép – và tệ hơn thế nữa, phục hồi lại toàn bộ một số bức ảnh riêng tư mà tôi hoặc đã xóa đi, hoặc đang lưu trong một folder bí mật nào đó mà chính tôi cũng không ý thức nhớ (vì có bao giờ tôi từng nghĩ đến chuyện mình có thể bị bắt, máy tính có thể rơi vào tay an ninh).

Đó là những bức ảnh ghi lại cảnh quan hệ của tôi – vào cái thời mà tôi cho là mình lãng mạn nhất và cũng ngây thơ nhất. Thời mà tôi quan niệm “yêu là phải hết mình”. Thời mà tôi như sống trong một thế giới đầy những hình ảnh đẹp đẽ, những giai điệu huyền ảo: làm báo, yêu anh, và nghe guitar cổ điển, nghe nhạc Beatles. Tôi đi đâu, trong đầu cũng rực sáng những hình ảnh ấy: bóng nụ cười của anh, ánh mắt của anh, đôi môi, bàn tay…

Tôi đã nghĩ về tình yêu (và tình dục) như cái gì đó thật sự thiêng liêng, rất đỗi thiêng liêng.

Và vì thế, tôi đã đau khổ đến mức nào khi những điều thiêng liêng ấy bị làm cho vấy bẩn, khi sự riêng tư của mình bị xâm phạm, chà đạp. Tôi không bao giờ quên cảm giác chua xót khi hàng chục cặp mắt an ninh cùng soi vào những bức ảnh đó. Tôi không bao giờ quên được ý nghĩ đau đớn lướt qua đầu mình khi đó: Phải rồi, tôi đã có vài mối tình, và đã chụp ảnh ghi lại một số khoảnh khắc nhạy cảm. Nhưng tôi làm thế chỉ vì tình cảm – đối với người mình yêu, và với chính cơ thể mình, tuổi xuân của mình. Tôi làm thế không phải để cho cả một tiểu đội an ninh xem, rồi đem ra bình phẩm và răn dạy rằng phàm là trí thức, là người có đạo đức, thì phải thế này, thế kia…

Tôi đã im lặng, cố gắng để câu chuyện buồn thảm của năm 2009 ấy trôi vào quá khứ vĩnh viễn. Nhưng ký ức của tôi không ngủ được, cứ lâu lâu nó lại bị đánh thức bởi những tin nhắn đe dọa nặc danh, những lời lẽ của dư luận viên bóng gió trên mạng. Tôi hiểu rằng, không sớm thì muộn, những bức ảnh ấy cũng sẽ bị tung ra, chúng có thể bị rò rỉ trên một trang mạng “chống phản động” nào đấy, và/hoặc sẽ được gửi đến những người mà tôi không muốn họ biết đến chúng nhất. Tệ hơn nữa, chúng có thể được xử lý, được chỉnh sửa, được công bố kèm những thông tin thêm thắt, nhào nặn và bịa đặt khác (giống như cách mà dư luận viên lâu nay vẫn làm đối với người đấu tranh dân chủ) để cố tình tạo ra những câu chuyện kinh khủng về tôi.

Tôi không muốn thanh minh gì, ngoài một điều duy nhất: Tôi đã làm thế chỉ vì tình cảm đối với người mình yêu và với chính cơ thể mình, tuổi xuân của mình.

Và bây giờ, tôi buộc lòng phải viết những dòng này, trong một đêm cuối năm mà lẽ ra tôi phải thấy rất vui, vì tôi đang được ăn Tết ở Việt Nam, sau hơn hai năm xa nước.

Tôi thích thú gì khi phải tung lên mạng những chuyện hết sức riêng tư, mà lại là vào đêm trước giao thừa?

Tôi thích thú gì khi phải tố cáo những chuyện liên quan đến một cơ quan công quyền thật sự rất lớn và rất oai, là cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an Việt Nam?

Tôi thích thú gì khi phải nói rằng an ninh Việt Nam đã “mẫn cán” đến mức thọc mũi vào đời tư của một phụ nữ và ra sức huấn thị, dạy đạo đức cho người phụ nữ (độc thân) ấy?

Nhưng, dù chua xót đến mấy, tôi cũng đành phải viết lời “tự thú” cuối năm này, bởi vì biết đâu, một ngày nào đó những bức ảnh riêng tư của tôi sẽ được bôi đen bôi đỏ, khoanh tròn, v.v. trên mạng?

Tôi muốn có lời xin lỗi trước đến những người sẽ bị ảnh hưởng vì sự cố đó, nếu nó xảy ra. Tôi muốn nói rằng, tôi đã không thể tự vệ được, cũng như đang không thể chịu trách nhiệm về những bức ảnh riêng tư của mình một khi nó đã được lưu đầy đủ trong hồ sơ của cơ quan an ninh.

Tôi cũng muốn cầu nguyện một điều trước phút giao thừa – dù tôi không phải người có đạo – rằng ước sao những câu chuyện đau lòng tương tự do an ninh Việt Nam gây ra sẽ không bao giờ xảy ra với bất kỳ ai trên đất nước này nữa. Ước sao lực lượng an ninh Việt Nam cũng biết bảo vệ, tôn trọng nhân quyền, trong đó có quyền riêng tư của công dân, như họ đã và đang tích cực bảo vệ chế độ.

Hà Nội, 11h đêm 17/2/2015 (29 Tết)

Friday, 13 February 2015

Bộ 4T “đánh” báo Người Cao Tuổi: Khi hành pháp làm càn

  • Phạm Đoan Trang - Nguyễn Anh Tuấn - Trịnh Hữu Long

Tóm tắt vụ “Bộ 4T vs. báo Người Cao Tuổi”

Thứ hai, ngày 9/2/2015, Bộ Thông tin Truyền thông (sau đây gọi tắt là Bộ 4T) tổ chức họp báo đấu tố báo Người Cao Tuổi, tiến hành xử phạt hành chính, thu hồi giấy phép của phiên bản điện tử của báo, thu hồi thẻ nhà báo của Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa, đề nghị cách chức ông Hoa, và chuyển hồ sơ vụ việc sang Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an.

Sau đó, thứ ba, 10/2, theo một nguồn tin riêng, Ban Tuyên giáo đã chỉ thị cho các báo không được đưa tin “ngược chiều” về vụ việc của báo Người Cao Tuổi. Và có lẽ đó là lý do khiến các bài báo ủng hộ Người Cao Tuổi nói chung và ông Kim Quốc Hoa nói riêng không còn trên báo chí chính thống. Ngay cả các bình luận (comment) của độc giả bày tỏ sự ủng hộ đối với ông Kim Quốc Hoa cũng biến mất dưới mỗi bài báo được đăng tải.

Chỉ đạo báo chí xong, từ thứ tư, 11/2, cơ quan chức năng bắt đầu xử lý Người Cao Tuổi. Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa phải làm việc với công an, cùng lúc đó, hai tờ báo của Bộ 4T là VietNamNet và Info.net tích cực đăng hàng loạt bài viết ủng hộ Bộ nhà: “Việc thanh tra báo Người Cao Tuổi là đúng quy định”, “Tướng quân đội nói về xử lý sai phạm báo Người Cao Tuổi”, “Làm báo như Người Cao Tuổi không sai mới lạ”, “Người Cao Tuổi sai phạm, chủ quản ở đâu”… Chắc rằng chuỗi bài này chưa dừng lại, khi mà Bộ 4T tuyên bố “sẽ cứng rắn hơn nếu báo Người Cao Tuổi gây phức tạp tình hình”.

Một mặt không cho báo chí đưa tin “ngược chiều” với mình, mặt khác vẫn chỉ trích và kết tội một tờ báo nhỏ, giới chức quản lý ở Việt Nam đã thể hiện một thái độ rất không đẹp. Tuy nhiên, chưa bàn tới lối hành xử đó, thì cung cách phát ngôn của Bộ 4T cũng đã cho thấy nhiều bất cập trong tư duy và năng lực của một đội ngũ được nắm quyền quản lý giới truyền thông.

Nhà báo Kim Quốc Hoa, Tổng Biên tập báo Người Cao Tuổi. 
Nguồn ảnh: báo Pháp luật (tháng 4/2014)

Đôi co với một tờ báo

Ngày 12/2/2015, VietNamNet đăng bài “Làm báo như Người Cao Tuổi không sai mới lạ”, phỏng vấn Phó cục trưởng Cục Báo chí Lưu Đình Phúc – Trưởng đoàn Thanh tra của Bộ 4T. Bài phỏng vấn được đăng trên trang chủ, với nhiều thông tin được nhấn mạnh, như các phát biểu của ông Phúc kết tội báo Người Cao Tuổi khoác danh nghĩa chống tham nhũng để “tham nhũng, tiêu cực”.

Mặc dù vậy, quá nửa bài báo vẫn chỉ là những ý kiến của ông Phúc loanh quanh về trình tự, thủ tục của quá trình thanh tra – mà theo đó thì giữa những thông tin mà ông đưa ra và ba bài viết của báo Người Cao Tuổi có một số điểm không thống nhất. Chẳng hạn như ông bảo, “tổng số thời gian thanh tra tại báo Người Cao Tuổi… là 45 ngày làm việc… không phải là 64 ngày làm việc như nội dung bài viết trên báo Người Cao Tuổi đã nêu”.

Trước đó, báo Người Cao Tuổi đã có ba bài viết chỉ ra rằng Đoàn Thanh tra của Bộ 4T có nhiều sai phạm, nhiều điểm trái pháp luật – Luật Thanh tra, Luật Báo chí, Luật Khiếu nại, v.v. Báo chỉ ra đầy đủ các điểm vi phạm, hoặc nói rõ rằng các bài viết “sai phạm” mà Thanh tra nêu ra thì đến nay đều đã quá thời hiệu, mà báo chưa từng nhận được đơn thư khiếu nại nào của các cá nhân và tổ chức liên quan. Song, ông Cục phó Lưu Đình Phúc không bàn cụ thể đến một điểm nào trong những điểm Người Cao Tuổi đã nêu.

Ông Phúc cũng lờ đi chi tiết quan trọng, là ngày 31/1, Đoàn Thanh tra của ông mới làm việc với Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa để trao đổi về nội dung thanh tra, mà lại đòi phải có giải trình về trên 52 nội dung “chậm nhất là ngày 3/2/2014”. Bản thân báo Người Cao Tuổi cũng đã có công văn (số 32/CV-BNCT) ngày 4/2 gửi Đoàn Thanh tra kiến nghị cần thời gian giải trình.

Bộ 4T chơi khó như vậy, có khác nào mụ dì ghẻ trộn đỗ với gạo, bắt cô Tấm nhặt xong hết mới được đi chơi?

Vậy nhưng ông Lưu Đình Phúc lờ chuyện đó đi, ông bảo “hết thời hạn, Người Cao Tuổi không gửi báo cáo giải trình theo yêu cầu”, rồi ông suy đoán: “Có thể thấy báo đã không hợp tác với Đoàn Thanh tra, cố tình kéo dài thời gian giải trình…”.

Đôi co với báo Người Cao Tuổi ở một số chi tiết và tránh né, tảng lờ nhiều chuyện khác, đó là lối hành xử không nên có ở một quan chức (“quan báo”) đối với dân.

Loanh quanh hết nửa bài rồi vị đại diện Bộ 4T bắt đầu dùng chiêu ngụy biện “đánh vào tình cảm” khi ông quay sang răn báo chí: “Chống tham nhũng phải khách quan, trung thực”, “phải đưa tin có trách nhiệm”, “nâng cao ý thức công dân”, v.v.

Phàm là ngụy biện đánh vào tình cảm của số đông thì các nội dung nghe đều bùi tai và thuyết phục cả. Có điều, trong trường hợp này, phát biểu của ông Lưu Đình Phúc chỉ cho thấy nhận thức về pháp luật và quản trị của ít nhất là một bộ phận quan chức, công chức Việt Nam còn nhiều bất cập.

Cần tìm hiểu thêm về hành chính

Trên nguyên tắc, trong mỗi nền hành chính, đều có những cơ quan thanh tra thực hiện chức năng kiểm soát nội bộ ngành, ví dụ Bộ Thông tin Truyền thông có thể có thanh tra làm nhiệm vụ giám sát, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Bộ. Ở Việt Nam, do Bộ 4T còn được hưởng đặc quyền “quản lý báo chí”, nên thanh tra Bộ nghiễm nhiên nắm thêm quyền sinh quyền sát với giới truyền thông.

Dù vậy, cần phải hiểu rằng đây chính là điểm mấu chốt dẫn đến khả năng hành pháp lạm quyền, cửa quyền. Để tránh vấn nạn đó, chỉ có một cách là tư pháp phải độc lập và có quyền lực ngang bằng hai nhánh hành pháp, lập pháp.

Nói đơn giản là, hành pháp - ở đây là Bộ 4T - có thể thanh tra báo chí, nhưng chỉ dừng lại ở đó mà thôi, muốn xử phạt báo chí thì họ phải chuyển hồ sơ vụ việc sang bên tư pháp - ở đây là tòa án. Ngoài ra, Bộ 4T có quyền thanh tra báo chí, song cơ quan báo chí lại cũng có quyền không chấp hành và quyền khởi kiện Bộ ra tòa. Người Cao Tuổi không nhất thiết phải tuân thủ mọi hình thức xử phạt của Bộ (thu hồi giấy phép báo điện tử, tước thẻ nhà báo hay cách chức tổng biên tập); họ có thể đâm đơn kiện Bộ 4T, kết quả thế nào sẽ do tòa án quyết định.

Tiếc rằng đó chỉ là nguyên tắc, còn trên thực tế ở Việt Nam, do nhánh hành pháp quá mạnh nên mới có thể làm càn: xử phạt hành chính, thu hồi tên miền báo điện tử, rút thẻ nhà báo của tổng biên tập Kim Quốc Hoa. Bộ 4T đã hành xử chẳng khác nào một vị quan tòa lộng quyền khi vừa đưa ra kết luận buộc tội Người Cao Tuổi, vừa thi hành án luôn.

Chưa kể, công chức của Bộ còn răn dạy báo chí tác nghiệp phải thế này, thế kia: “Tôi cho rằng, khi đã cho đăng bài viết thì Tổng biên tập phải có đủ tài liệu, căn cứ, chứ không có tài liệu gì trong tay, phóng viên các tỉnh gửi bài về cho đăng ngay là không ổn. Cũng ở báo này, khi thanh tra chúng tôi còn phát hiện, báo nhận bài của bạn đọc qua email, cho đăng ghi là nhóm phóng viên điều tra. Khi bị khiếu nại, báo trả lời bằng văn bản là không phải của phóng viên viết, đó là của bạn đọc gửi tới. Làm báo như vậy thì không sai mới là lạ!”.

Ông Lưu Đình Phúc đã không ý thức được một điều đơn giản, rằng: Tác nghiệp báo chí là công việc nội bộ của một tòa soạn, không ai có quyền yêu cầu họ giải trình. Tòa soạn chịu trách nhiệm trước dư luận về các thông tin họ đăng tải. Nếu báo đưa tin sai, ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức nào thì cá nhân, tổ chức đó mới là người có thẩm quyền kiện tòa soạn ra tòa dân sự để giải quyết việc riêng của họ với nhau. Ở đây, không có khía cạnh nào mà Bộ 4T hay bất kỳ cơ quan hành pháp nào khác có thể tham gia.

Không được hình sự hóa hoạt động báo chí!

Việc chuyển hồ sơ vụ việc sang Cơ quan An ninh Điều tra thuộc Bộ Công an, và sau đó khởi tố báo Người Cao Tuổi theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, là hành động hình sự hóa những hoạt động báo chí thuần túy dân sự. Đây là một biểu hiện của xã hội công an trị. Trong khi đó, nguyên tắc đơn giản và phổ cấp ở các nền luật pháp trên thế giới là: Không hình sự hóa các vi phạm của báo chí; ai bị hại thì người đó kiện cơ quan báo chí, chứ đó không phải việc của một bộ có tên là Bộ 4T.

Người Cao Tuổi ghi tên tác giả là “nhóm phóng viên” hay “nhóm bạn đọc” thì đó cũng chỉ là vấn đề nghiệp vụ chỉ của tờ báo mà thôi. Một anh công chức ở Bộ 4T không có thẩm quyền phán xét nghiệp vụ của báo, nhất là khi chưa có phóng viên hay bạn đọc nào cảm thấy bị xâm hại lợi ích.

Và cuối cùng, về Điều 258 Bộ luật Hình sự: Nếu điều luật này nhằm chống lại việc “xâm hại lợi ích nhà nước”, thì điều tối thiểu khi vận dụng nó là phải nêu rõ nhà nước ở đây là ai, cơ quan nào cảm thấy họ bị hại, địa chỉ giao dịch ở đâu, bị hại như thế nào? Không thể nói chung chung là “nhà nước” – một thực thể không tên tuổi, không địa chỉ.

Nếu những thông tin mà báo Người Cao Tuổi đưa ra ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước thì chỉ duy nhất Chủ tịch nước mới có quyền phát ngôn lợi ích đó là gì và bị ảnh hưởng tới đâu. Nếu “nhà nước” thấy thông tin đó ảnh hưởng tới lợi ích của mình thì phải kiện báo Người Cao Tuổi ra tòa dân sự để tranh cãi đúng sai. Còn hình sự hóa vụ việc và dùng sức mạnh cưỡng chế chỉ là cách phản ứng của những người đuối lý và ưa bạo lực.

Ảnh: Lê Anh Dũng/ VietNamNet


Wednesday, 11 February 2015

Tân Hiệp Phát và chuyện người cắn chó

Vụ Tân Hiệp Phát lắm cái vô lý nhở?

1. Đường đường là một tập đoàn lớn, sở hữu thương hiệu nổi tiếng, thừa đủ tài chính và quan hệ để thuê luật sư, để làm truyền thông và giải quyết khủng hoảng... thế mà lại có thể bị "uy hiếp" bởi một cá nhân, đến nỗi phải dùng mẹo bẫy cá nhân đó rồi đi mách công an. Tân Hiệp Phát thật là mong manh yếu đuối dễ sợ.

2. Công an, sau khi nghe Tân Hiệp Phát mét, bèn bắt “đối tượng” Võ Văn Minh bỏ bót cái đã, rồi sau đó lại cũng là cơ quan giám định của Bộ Công an vào cuộc “xác minh, làm rõ” sự việc. Hay nhở, đến giờ nhà cháu mới lại càng hiểu thế nào là xã hội công an trị: Công an bắt người, công an điều tra, công an giám định, ít nữa người ta ra tòa cũng là tòa án của công an xử, sau đấy người ta vô tù thì nhà tù cũng là do công an làm quản giáo, cai tù nốt.

Giám định với pháp y với “khoa học hình sự” kiểu ấy, thảo nào lâu nay bao nhiêu người chết trong đồn công an đều được cơ quan chức năng của Bộ Công an xác định là do tự tử.

Việc cho rằng tập đoàn Tân Hiệp Phát bị một cá nhân “uy hiếp, tống tiền” khiến nhà cháu nghĩ: Nếu bây giờ một anh Nguyễn Văn Tèo nào đấy đâm đơn kiện đồng chí X. vì bị chó nhà X. cắn, có khi cuối cùng Bộ Công an sẽ chứng minh được điều ngược lại ấy chứ, rằng chính anh Tèo đã cắn con chó nhà X., buộc con chó phải tự vệ chính đáng.

Và thế là anh Tèo đã mắc tội hành hung gây thương tích lại còn thêm tội vu khống nữa.