Tuesday, May 21, 2013

"Nói với mình và các bạn": Mặt trái của biểu tình


Dưới đây là bài viết thứ 9 trong loạt bài “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”. Mục đích mà loạt bài hướng tới là góp phần giúp độc giả, nhất là các bạn trẻ, hiểu hơn về chính trị, về sự tham gia, về tự do ngôn luận và sự phân biệt giữa tự do ngôn luận với xúc phạm người khác, về hiến pháp, quyền lập hiến và quyền tẩy chay hiến pháp, bất tuân dân sự, về kỹ thuật bầu cử và làm thế nào để có bầu cử tự do, công bằng.

Ở bài trước, chúng ta đã nói rằng văn hoá chính trị là cái quyết định một xã hội nhìn chung sẽ có thái độ như thế nào trước các hoạt động chính trị như biểu tình, đình công, kiện tụng… Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng biểu tình có những mặt trái của nó. Làm thế nào để giảm thiểu tác hại tiêu cực của biểu tình đây?

Phạm Đoan Trang

 
* * *

Kỳ 9

MẶT TRÁI CỦA BIỂU TÌNH

Một trong những mặt trái của biểu tình – và nó càng trở nên nghiêm trọng trong văn hoá chính trị “phản biểu tình” của Việt Nam – là sự cản trở tự do đi lại. Vì “phố phường chật chội, người đông đúc”, biểu tình có nguy cơ gây ảnh hưởng đến giao thông, mà đấy là người biểu tình ở nước ta còn chưa sử dụng biện pháp phong toả đường đi lối lại, cắm trại, dựng rào v.v. đấy nhé. 

Ở một quốc gia dân chủ, với văn hoá chính trị thừa nhận và ủng hộ biểu tình, thì để vừa đảm bảo quyền tự do biểu đạt của nhóm người biểu tình, vừa đảm bảo quyền tự do đi lại của những người khác, chính quyền sẽ phải có các biện pháp như bố trí lực lượng hỗ trợ người biểu tình (dẹp đường, hướng dẫn giao thông...), đảm bảo những không gian công cộng thích hợp cho việc biểu tình. Ở Việt Nam thì khác: Chính quyền gộp tất cả những người đi biểu tình vào một rọ, gồm các “đối tượng” hoặc là phản động nhân danh yêu nước, hoặc là bị bọn phản động lợi dụng, lôi kéo. Từ quan niệm đó đến hành động cụ thể như thế nào thì chúng ta đều đã biết, nên người viết sẽ không “kể lể” thêm, mà sẽ bàn về các trường hợp có mâu thuẫn, xung đột thật sự liên quan đến biểu tình, ở phần tiếp sau.

“Ông Nguyễn Sinh Hùng và thế lưỡng nan”

Biểu tình hoàn toàn có thể cản trở nghiêm trọng quyền tự do đi lại của một cá nhân cụ thể. Ví dụ, đó là khi những người biểu tình chặn cổng Văn phòng Quốc hội, không cho ông Nguyễn Sinh Hùng ra đường khi đã hết giờ làm. (Xin các bạn lưu ý, đây chỉ là một ví dụ giả tưởng, trên thực tế bản thân người viết cũng không biết chính xác ông Nguyễn Sinh Hùng làm việc ở đâu). Trong trường hợp này, chúng ta đối diện với một thứ mà các nhà khoa học ưa gọi là “thế lưỡng nan”: 

  • Vì ông Nguyễn Sinh Hùng là Chủ tịch Quốc hội, là quan chức, cho nên ông có nghĩa vụ phải lắng nghe ý kiến của người dân, tôn trọng quyền tự do biểu đạt và biểu tình của công dân;
  • Vì ông Nguyễn Sinh Hùng là một công dân Việt Nam, nên ông có quyền riêng tư, quyền tự do đi lại, tự do về thân thể, và ông phải được đi đâu tuỳ ý sau khi đã hết giờ làm việc. Do đó, khi bị cản trở tự do đi lại, ông có quyền khởi kiện. 

Trên giác độ luật pháp thuần tuý, công dân Nguyễn Sinh Hùng quả thật có thể kiện những kẻ đã xâm phạm quyền của ông. Tuy nhiên, trong văn hoá chính trị ở nhiều nước, người ta thường quan niệm lãnh đạo, quan chức là luôn phải ở một thế chịu thiệt thòi trước công luận hơn người dân, và sẽ rất nực cười nếu lãnh đạo, quan chức muốn “ăn thua đủ” với dân – cái này trong tiếng Việt gọi là “tiểu nhân”. Đương nhiên là ông Hùng có quyền kiện và có thể kiện, nhưng nếu ông làm thế thì sẽ rất buồn cười trong mắt các chính trị gia đồng nhiệm, đồng nghiệp của ông ở nước ngoài. 

Tương tự, chúng ta sẽ không thể thấy Tổng thống Clinton hay đảng Dân chủ tìm cách can thiệp, đóng cửa tờ báo nào dám bôi nhọ ông và chuyện tình ái, bồ bịch của ông. Tổng thống Bush cũng không thể truy tìm và khởi kiện kẻ nào dám vẽ bẩn vào ảnh ông rồi vác đi biểu tình, rồi đốt… Bởi vì văn hoá chính trị của người Mỹ, về căn bản, ủng hộ quyền tự do biểu đạt, ngôn luận của công dân và buộc lãnh đạo phải chấp nhận “chịu thiệt”, “tỏ ra quân tử” trong mắt dư luận. 

Bên cạnh đó, chúng ta cũng đừng quên rằng, trong các chế độ dân chủ, ghế của quan chức phụ thuộc vào lá phiếu của người dân, nên quan chức có xu hướng nhượng bộ trước những phản ứng của người dân và tìm cách thuyết phục họ, chứ không dám đối đầu.

Nếu chúng tôi thích “biểu tình chống biểu tình”, thì sao?

Trường hợp nói trên là khi biểu tình cản trở quyền tự do đi lại của một cá nhân cụ thể - một quan chức. Còn trường hợp sau đây hơi khác. 

Giả sử sau khi Trung Quốc ra lệnh cấm đánh bắt cá trên vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa, người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Việt Nam chỉ nói vài câu phản đối như thường lệ. Giả sử khoảng 300 người ở quận Nhất, TP.HCM nổi giận – trong đó một nửa phẫn nộ với Trung Quốc, một nửa bất mãn về chính sách ngoại giao của Chính phủ Việt Nam – và họ xuống đường biểu tình. Giả sử cùng lúc, có khoảng 300 người dân ở quận Hai, TP.HCM lại suy nghĩ ngược lại hoàn toàn – một nửa trong số họ cho rằng Trung Quốc cấm đánh bắt cá là đúng (cần phải bảo vệ và khai thác tiết kiệm tài nguyên thuỷ hải sản chứ, bất luận tài nguyên ấy của quốc gia nào), một nửa ủng hộ chính sách ngoại giao của Việt Nam (phản ứng ở mức độ như người phát ngôn đã phản ứng thôi chứ còn làm gì hơn được nữa).

Câu hỏi đặt ra là: 300 người ở quận Hai có thể đi biểu tình phản đối 300 người ở quận Nhất không? 

Câu trả lời: Có, nếu như đúng là tất cả công dân Việt Nam đều được hưởng quyền tự do ngôn luận và tự do tụ tập.

Vậy sẽ ra sao nếu trên đường phố, các nhóm cư dân bất đồng quan điểm cứ biểu tình qua lại như thế? 

Chẳng sao cả, chuyện đó là… bình thường trong một xã hội dân chủ, có nền văn hoá chính trị thiên về các giá trị dân chủ, tự do, nhân quyền. Có điều, trong mọi trường hợp, bạo lực phải bị lên án và loại bỏ; xúc phạm danh dự, nhân phẩm người khác là một tội có thể bị kiện và bị xử lý theo pháp luật. Khi ấy, vai trò của luật pháp và của Nhà nước càng trở nên quan trọng hơn trong việc bảo vệ quyền tự do ngôn luận và tụ tập của các bên, quyền tự do đi lại của những người khác, giữ gìn trật tự trị an và điều hoà các lợi ích mâu thuẫn. Việc này, tất nhiên, chưa bao giờ dễ dàng.

Vai trò của lực lượng công an là bảo vệ người biểu tình chứ không phải là vật người biểu tình như thế này. 
Ảnh: Một dân phòng (hoặc công an mặc thường phục) đánh biểu tình viên Phan Nguyên, ngày 12/6/2011.

Tuy nhiên, bạn cần lưu ý một điểm quan trọng: Sẽ là một nhà nước lưu manh, phản động, nếu chính nhà nước bí mật tổ chức cho một nhóm trong xã hội chuyên đi “biểu tình chống biểu tình”. Nói cách khác, nếu chính quyền dùng tiền ngân sách, dùng quyền lực của lãnh đạo, để huy động lực lượng “phản biểu tình”, “đấu tranh với các luận điểm sai trái, thù địch” của một số công dân, mà thực chất là tấn công vào quyền tự do ngôn luận của những công dân ấy, thì đó là biểu hiện của một nhà nước độc tài đáng ghê tởm. 

Khi văn hoá chính trị khó chấp nhận biểu tình

Ở đâu cũng vậy, biểu tình có những hành động đặc thù như gây tiếng ồn, phong toả đường đi lối lại, thậm chí có khi còn kéo theo bạo lực – giữa công an, cảnh sát với những người tuần hành, hoặc giữa chính những người dân với nhau, nhóm phản đối gây lộn với nhóm ủng hộ như trong ví dụ giả tưởng nêu trên. Đó chính là các mặt trái của biểu tình, và trong văn hoá chính trị của Việt Nam thì những hạn chế đó càng bị khuếch đại: Bạn hãy hình dung một nơi đường phố chật hẹp, bụi bặm, vỉa hè là không gian kinh doanh (mà đoàn người đi biểu tình có thể gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh đó), và đa số dân chúng thì tới gần 70 năm nay không có ý niệm nào về việc “tự nhiên ra ngoài đường hò hét”.

Liệu văn hoá chính trị như thế có tạo ra một môi trường tâm lý-xã hội ủng hộ biểu tình và các hoạt động chính trị khác không? Chúng ta thấy ngay là không. 

Vậy khi văn hoá chính trị về cơ bản là chống lại việc biểu tình, thì một số ít người muốn thể hiện chính kiến thông qua hành động biểu tình có thể và nên làm gì? Có nên hò hét, chửi bới kể tội “phe kia”, đốt cờ/ảnh, phong toả đường xá v.v.? Chúng ta sẽ tiếp tục vấn đề gây tranh cãi này ở kỳ sau, với câu chuyện về một hình thức hoạt động chính trị khác, xuất phát từ một phương pháp đấu tranh của vị anh hùng dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi: bất tuân dân sự.

Kỳ sau: Bất tuân dân sự hay phản động?

 

Tuesday, May 14, 2013

"Nói với mình và các bạn": Biểu tình, đình công trong văn hoá chính trị Việt Nam


Dưới đây là bài viết thứ 8 trong loạt bài “Nói với mình và các bạn: Vẻ đẹp của chính trị”. Ở bài trước, chúng ta đã nói rằng biểu tình, đình công là hình thức hoạt động chính trị có hiệu quả đối với những người tham gia, ở chỗ nó tác động mạnh tới cộng đồng, nó gây chú ý và khiến người biểu tình (hoặc đình công) có thể tạo sức ép chính trị. Nhưng đối với những người khác, biểu tình không thể không gây thiệt hại, nhẹ nhất cũng gây khó chịu. 

Nói cách khác, ở Việt Nam, nó còn gây tranh cãi, ít nhất là cũng có một số người dân hiện nay căm ghét nó – con số này không hề nhỏ. Vì sao? 

Phạm Đoan Trang


* * *

Kỳ 8

BIỂU TÌNH, ĐÌNH CÔNG TRONG VĂN HOÁ CHÍNH TRỊ VIỆT NAM

Mùa đông năm 2008, nhà báo Nguyễn Hoàng Linh (Tổng Biên tập tờ Nhịp Cầu Thế Giới của cộng đồng người Việt ở Hungary) chuẩn bị rời Budapest về Hà Nội nghỉ Giáng sinh. Vé máy bay đã mua, đồ đạc đã đóng gói, đã hẹn hò đầy đủ với người thân, bạn bè ở Việt Nam, nhưng sát ngày khởi hành, ông Linh sững sờ trước nguy cơ không đi được: Toàn bộ nhân viên Sân bay Quốc tế Budapest, giới tài xế xe buýt của Công ty Giao thông Công cộng Budapest BKV, phối hợp cùng ngành đường sắt, đang tổng đình công đòi tăng lương. Giao thông cả nước bị đình trệ. Hành khách và hành lý đều vạ vật, ngổn ngang trên sân bay.

Ông Linh gọi điện về Việt Nam báo rằng chuyến bay có thể bị hoãn vô thời hạn. Người thân, bạn bè của ông nghe tin, ai cũng bực bội “cái bọn đình công”: Ích kỷ, nhỏ nhen, lợi dụng đúng thời điểm mùa Giáng sinh, nhu cầu đi lại của nhân dân đang cao, để đình công, thật hãm tài.

Điều kỳ lạ là chính những người trong cuộc – dân Hungary và du khách ngoại quốc, “nạn nhân” trực tiếp của cuộc đình công – thì lại rất chịu đựng và không có ý kiến gì đặc biệt. Nhà báo Nguyễn Hoàng Linh tìm hiểu và thấy tuyệt nhiên không thấy ai có thái độ cáu kỉnh, trách móc. Thậm chí mọi người còn tỏ ra thông cảm với giới nhân viên đình công và ai cũng nhất trí là phải có sự phối hợp giữa sân bay, xe buýt với đường sắt, sao cho… thiệt hại lên đến mức cao nhất, bởi có vậy mới mong Chính phủ Hungary lùi bước trước các nghiệp đoàn.

Hành khách bị kẹt trên Sân bay Quốc tế Budapest, tháng 12/2008. (Ảnh: Nguyễn Hoàng Linh)

Vì sao khác biệt?

Điều gì làm nên sự khác biệt giữa thái độ của người Việt Nam và người Hungary trước biểu tình và/hoặc đình công? Có thể đến lúc này bạn đã nhìn ra nguyên nhân rồi: Đó là sự khác biệt trong văn hoá chính trị của hai nước.

Các nhà khoa học định nghĩa văn hoá chính trị là “tập hợp các thái độ, giá trị, tình cảm, thông tin và kỹ năng về / liên quan đến chính trị của người dân trong một xã hội”, văn hoá chính trị “tạo nên môi trường tâm lý - xã hội, nơi diễn ra các xung đột chính trị, nơi người ta ban hành chính sách”. 

Để dễ hiểu, bạn có thể hình dung văn hoá chính trị gồm hai thành tố căn bản: nhận thức chính trị (hiểu biết của người dân về chính trị) và tình cảm chính trị (cảm xúc, sở thích, yêu/ghét liên quan đến chính trị). 

Đương nhiên là nhận thức chính trị và tình cảm chính trị của người dân mỗi nước mỗi khác. Nói về nhận thức chính trị, nếu bạn hỏi một người Mỹ xem Tổng thống Mỹ sống và làm việc ở đâu, nhiều khả năng ông/bà ta sẽ trả lời đúng, là Nhà Trắng. Còn nếu bạn hỏi ông bác và bà dì của bạn xem Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam sống và làm việc ở đâu, có khi bác và dì bạn mỗi người sẽ có một câu trả lời khác nhau, và ta chẳng biết câu nào đúng. 

Nói như vậy, không có nghĩa là tác giả bài viết này cho rằng dân Mỹ nhận thức chính trị cao hơn dân Việt Nam, bởi vì một câu hỏi và câu trả lời khó nói lên được gì. Ngoài ra, giả sử có nghĩ thế thật, tác giả cũng không dám nói, vì… sợ cái thành tố thứ hai trong văn hoá chính trị, là tình cảm chính trị.

Về tình cảm chính trị cũng vậy, nó rất đa dạng. Ngay trong cùng một nước Mỹ, tại cùng một thời điểm, có người xem việc Mỹ phát động chiến tranh chống khủng bố, bắt đầu từ Afghanistan (năm 2001), là cần thiết, nên làm, đáng ủng hộ; ngược lại, có người thì căm ghét, phản đối. Tuy nhiên, cũng có những tình cảm chung của cả một cộng đồng, trên cơ sở những giá trị chung, hay là những quan niệm chung về cái tốt, cái xấu. Ví dụ ta có thể tin rằng đại đa số người Mỹ thích sự độc lập, thích quan niệm rằng dân chủ thì lành mạnh hơn là độc tài. Tình cảm ấy của họ dựa trên một giá trị chung mà họ đề cao, là tự do. 

Tương tự, đại đa số người Việt Nam, nếu được khảo sát, sẽ nói rằng họ có thiện cảm với nước Lào hơn với Trung Quốc, mặc dù trên thực tế có thể họ chẳng biết nhiều về Lào, hoặc biết về Lào ít hơn về Trung Quốc. Vì một trong các giá trị chung của dân Việt Nam hiện nay có lẽ là tinh thần dân tộc chủ nghĩa (nationalism). Chúng ta tin rằng nationalism là một phẩm chất tốt đẹp, ngược với ở châu Âu, nơi nó lại đang bị coi là xấu, tiêu cực.

Và, tình cảm chính trị có thể khiến cho nhiều bạn đọc Việt Nam “ném đá” một tác giả nào đó ngay tắp lự nếu hắn dám nói rằng dân Mỹ nhận thức chính trị cao hơn dân Việt Nam.

Vì chúng ta thuộc về văn hoá chính trị Việt Nam…

Văn hoá chính trị - gồm nhận thức chính trị và tình cảm chính trị - là cái tạo nên sự khác biệt trong thái độ của một xã hội, một cộng đồng nào đó đối với biểu tình, đình công, và các hoạt động chính trị khác như thành lập đảng phái, vận động, kiện tụng, làm truyền thông, v.v.

Văn hoá chính trị là cái khiến cho, sau khi ba sinh viên Đại học Luật TP.HCM ra tuyên bố kêu gọi “công lý cho Đoàn Văn Vươn”, những người ra mặt phản đối họ nhất lại chính là… Đoàn trường. Và khi họ đòi Đoàn trường xin lỗi, nếu không sẽ kiện, một số “luật gia, luật sư tương lai”, bạn của họ, đã mở một chiến dịch công kích họ, thành lập cả “Hội những người bảo vệ hình ảnh của sinh viên Luật”. Nếu ở một nền văn hoá chính trị khác, với nhận thức chính trị khác, có lẽ các “luật gia, luật sư tương lai” đó phải phấn khởi khi có một vụ kiện như thế, và hơn ai hết, phải ủng hộ việc đồng nghiệp, đồng môn của mình làm.

Văn hoá chính trị là cái khiến cho một số người dân, khi ra công viên Nghĩa Đô ở Hà Nội sáng chủ nhật 5/5/2013 để tham gia “dã ngoại nhân quyền”, phải đối diện với ánh nhìn thiếu thiện cảm của những người khác. Và đây là một comment thể hiện tình cảm chính trị của nhiều người Việt Nam với “đám biểu tình”: “Họ đứng nói chán họ đi một vòng hồ, họ nói chán chẳng có ai nghe nên họ chuyển sang nói bằng loa nhưng cũng chẳng có ai quan tâm, nên họ về. Cả công viên bao nhiêu người qua lại chơi đùa, có ai để ý họ đâu? Người ta vẫn cứ chơi, hai quả đồi vẫn đông tấp nập mà”.

Đến đây câu hỏi đặt ra là: Vậy, có văn hoá chính trị tốt, văn hoá chính trị xấu không? Trả lời: Điều chắc chắn là văn hoá chính trị mỗi nơi mỗi khác, và thật khó tuyên bố cụ thể văn hoá chính trị nước này thì tốt, nước kia thì xấu. Thế nhưng, cũng có những giá trị chung, những giá trị phổ quát, mà nếu đã coi mình thuộc về nhân loại tiến bộ thì chúng ta sẽ tự nhiên thừa nhận, ví dụ những quyền căn bản của con người. Chúng ta khó có thể chấp nhận một xã hội nơi phụ nữ ngoại tình bị ném đá đến chết, người đồng tính bị xử tử, rồi ta bảo rằng “vì luật pháp, vì văn hoá chính trị của họ là như thế, tốt xấu kệ họ, nói chung đều đáng tôn trọng cả”. 

Người viết xin để bạn đọc tuỳ ý đánh giá xem văn hoá chính trị Việt Nam hay dở thế nào. Còn về phong trào đình công ở Hungary tháng 12/2008, sau nhiều ngày giao thông bị tê liệt, Chính phủ Hungary và các nghiệp đoàn của bên đình công đã đạt được thỏa thuận vào phút cuối với sự nhượng bộ của chính quyền. Và nhà báo Nguyễn Hoàng Linh về Việt Nam, mang theo một trải nghiệm hồi hộp và thú vị về "bất tuân dân sự".




 

Sunday, May 12, 2013

Bản hiến pháp "vang vọng tiếng dân"


Bản tiếng Anh ở phía dưới. Please scroll down for the English translation.

Tôi viết bài này cách đây gần 3 năm. Bây giờ nếu viết lại, có thể tôi sẽ viết khác nhiều, nhất là sẽ có cảm giác ngờ vực ở tính dân chủ của cuộc bầu cử Quốc hội khoá I khi theo thống kê thời đó, “89% cử tri trên cả nước đã đi bầu, có nhiều nơi tới 95%”. 

Nhưng tôi vẫn tin hiến pháp 1946 mà Quốc hội khoá I thông qua là bản hiến pháp vì nhân dân nhất trong các bản hiến pháp của Việt Nam, ít nhất thì nó cũng không dành ưu tiên cho một đảng chính trị nào, không chủ trương đấu tranh giai cấp; nó bảo đảm quyền tư hữu tài sản của công dân và quy định “Nghị viện họp công khai, công chúng được vào nghe”. 

 * * *

BẢN HIẾN PHÁP “VANG VỌNG TIẾNG DÂN”

Nói về Hiến pháp 1946, rất nhiều người cho rằng đó là hiến pháp nhân bản nhất, dân chủ nhất và đoàn kết dân tộc nhất. Không chỉ thế, bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam còn được hình thành, soạn thảo và thông qua trong một hoàn cảnh lịch sử, đầy cam go gian khổ nhưng vẫn đảm bảo tinh thần “dân là gốc”, dân là tất cả.

Theo PGS sử học Lê Mậu Hãn, “nói tới Hiến pháp 1946 là phải nói tới Hồ Chí Minh và cuộc Tổng tuyển cử 1946”. Bản hiến pháp đầu tiên của Việt Nam ra đời năm 1946, nhưng tư tưởng của Hồ Chí Minh về một nhà nước dân chủ cộng hòa, một chính quyền của toàn dân, thì đã hình thành từ rất lâu trước đó. Ngay từ năm 1919 khi gửi “Bản yêu sách của nhân dân An Nam” đến Hội nghị Versailles, Người đã thể hiện tư tưởng lập hiến của mình. Trong 8 điều yêu sách, điều thứ bảy yêu cầu phải có hiến pháp cho nhân dân Việt Nam: “Bảy xin Hiến pháp ban hành/ Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” (Việt Nam yêu cầu ca – diễn ca của bản yêu sách, do Hồ Chí Minh soạn để tuyên truyền).

Ngày 3-9-1945, chỉ một ngày sau lễ Tuyên bố độc lập, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói tới việc “phải có một hiến pháp dân chủ”, và đề nghị Chính phủ “tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” để bầu ra Quốc dân đại hội xây dựng hiến pháp.

Ngày 8-9, Chính phủ ra Sắc lệnh 14-SL nêu rõ: “… nhân dân Việt Nam do Quốc dân đại hội thay mặt là quyền lực tối cao để ấn định cho nước Việt Nam một hiến pháp dân chủ cộng hòa”. Sắc lệnh cũng tuyên bố tiến hành Tổng tuyển cử.

Cuộc Tổng tuyển cử lịch sử

Cuộc tuyển cử dân chủ - nơi ngọn nguồn phản ánh tinh thần Hiến pháp 1946 – đã diễn ra trong tình hình chính trị - kinh tế - xã hội cực kỳ khó khăn, trong hoàn cảnh thù trong giặc ngoài. Đó thực chất là một cuộc đấu tranh hết sức quyết liệt để bảo vệ quyền làm chủ của người dân, quyền tự quyết của dân tộc. Về đối nội, các tài liệu về lịch sử Quốc hội ghi lại: Các báo như Việt Nam, Thiết Thực, Đồng Tâm… (của hai đảng Việt Quốc, Việt Cách) nói xấu Việt Minh quyết liệt, kêu gọi tẩy chay Tổng tuyển cử vì cho là trình độ dân trí của nước ta còn thấp, quần chúng không đủ năng lực thực hiện quyền công dân, cần tập trung chống Pháp chứ không nên mất thì giờ vào bầu cử v.v.

Đáp lại, báo Cứu Quốc của Mặt Trận Việt Minh số ra ngày 24-11-1945 khẳng định: “Chỉ Tổng tuyển cử mới để cho dân chúng có dịp nói hết những ý muốn của họ (…). Sau hết, cũng chỉ có Tổng tuyển cử mới có thể cấp cho nước Việt Nam một hiến pháp mới ấn định rõ ràng quyền lợi của quốc dân…”.

Về đối ngoại, ở miền Bắc, Tàu Tưởng và tay sai ra sức gây rối, phá hoại Tổng tuyển cử (cướp hòm phiếu, hành hung tự vệ tại Hải Phòng). Ở Nam Bộ, thực dân Pháp khủng bố ác liệt, ném bom nhiều nơi. Hàng chục người đã chết và bị thương, nhưng người dân vẫn đi bỏ phiếu lưu động, đổ xương máu thực hiện quyền tự do dân chủ. 89% cử tri trên cả nước đã đi bầu, có nhiều nơi tới 95%.

Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam ra đời như thế.

Chính Quốc hội này, vào sáng 2-3-1946, đã họp kỳ họp đầu tiên với thời gian ngắn kỷ lục: 4 tiếng đồng hồ, trong hoàn cảnh nền độc lập nước nhà bị thực dân Pháp lăm le xâm phạm. Tại đây, Quốc hội bầu ban dự thảo Hiến pháp gồm 11 người: Trần Duy Hưng, Tôn Quang Phiệt, Đỗ Đức Dục, Cù Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, Huỳnh Bá Nhung, Trần Tấn Thọ, Nguyễn Cao Hách, Đào Hữu Dương, Phạm Gia Đỗ, Nguyễn Thị Thục Viên. Tất cả đều là những nhà trí thức, đại diện cho các đảng phái khác nhau (như Phạm Gia Đỗ là thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng, tức Việt Quốc).

Quyết liệt và dân chủ

Theo một số tài liệu, Hiến pháp 1946 tập hợp những kiến nghị phong phú của toàn dân và tham khảo kinh nghiệm về Hiến pháp các nước Âu – Á. Tuy nhiên, PGS sử học Lê Mậu Hãn cho biết, sau nhiều năm nghiên cứu, ông vẫn không tìm ra được nguồn văn bản cụ thể mà Hiến pháp có tham khảo. Song những người soạn thảo Hiến pháp 1946 đều là trí thức xuất thân từ hệ thống đào tạo của Pháp, hấp thu tư tưởng phương Tây, nên có thể nói bản hiến pháp có tinh thần dân chủ, pháp quyền rõ nét.

Ban dự thảo Hiến pháp đã soạn bản hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam cũng trong một thời gian rất ngắn, chỉ có vài tháng, và bắt đầu công bố trước Quốc hội từ ngày 2-11-1946. Đỗ Đức Dục là người thuyết trình. Đại diện của các đảng trong Quốc hội cho ý kiến đánh giá và phản biện: Hồ Đức Thành – đại diện Việt Nam Cách mạng Đồng minh Hội tức Việt Cách; Hoàng Văn Đức – đại diện nhóm dân chủ; Lê Thị Xuyến – đại diện nhóm xã hội; Nguyễn Đình Thi – đại diện Việt Minh; Trần Trung Dung – đại diện Việt Quốc; Trần Huy Liệu – đại diện nhóm mácxít.

Theo các tài liệu về lịch sử Quốc hội Việt Nam khóa I, quá trình tranh luận, tranh cãi để thông qua Hiến pháp 1946 diễn ra quyết liệt và dân chủ. GS sử học Lê Mậu Hãn cho biết, bàn thảo căng thẳng nhất là ở việc quyết “một viện hay hai viện”. Chẳng hạn, Trần Trung Dung không đồng ý với chế độ một viện, sợ chế độ này không thích hợp với Việt Nam, nơi dân chúng chưa được huấn luyện nhiều về chính trị. Phạm Gia Đỗ cũng phản đối chế độ một viện vì coi đó là “độc tài của đa số”. Tuy nhiên, phần đông đại biểu lại tán thành một viện. Đào Trọng Kim nói rằng một viện là phù hợp, “chế độ tập quyền và phân công rất thích hợp để có thể ứng phó mau lẹ với thời cuộc”.

Trần Trung Dung nói nhiều đến quyền tự do của công dân và chỉ trích Chính phủ trong một năm cầm quyền chưa cho dân chúng được hưởng quyền tự do. Phạm Văn Đồng ngắt lời, phản bác Trần Trung Dung phê phán như thế là không đúng trong điều kiện Chính phủ phải nỗ lực đấu tranh đối ngoại gay go để giữ vững độc lập…

Sau nhiều buổi thảo luận và tranh luận từng điều cụ thể, tới ngày 9-11-1946, Quốc hội đã biểu quyết thông qua bản hiến pháp đầu tiên với 240/242 phiếu thuận. Hai phiếu không tán thành là của Nguyễn Sơn Hà và Phạm Gia Đỗ. Đại biểu Nguyễn Sơn Hà bỏ phiếu chống vì Hiến pháp không có điều nói về tự do kinh doanh. Còn Đại biểu Phạm Gia Đỗ bảo lưu việc phản đối chế độ một viện.

Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: “Hơn 10 ngày nay các đại biểu đã khó nhọc làm việc. Quốc hội đã thu được một kết quả làm vẻ vang cho đất nước là đã thảo luận xong bản hiến pháp”. Tuy “chưa hoàn toàn” nhưng nó “tuyên bố với thế giới nước Việt Nam đã độc lập, dân tộc Việt Nam đã có đủ mọi quyền tự do (…), phụ nữ Việt Nam đã được ngang hàng với đàn ông để hưởng chung mọi quyền tự do đó của một công dân”.

Do hoàn cảnh chiến tranh đang lan rộng, nên Quốc hội, mặc dù thông qua Hiến pháp, đã quyết định không đưa Hiến pháp ra trưng cầu dân ý, đồng thời biểu quyết chưa ban hành, thi hành Hiến pháp ngay. Việc bầu Nghị viện nhân dân (Điều 24 quy định Nghị viện do công dân Việt Nam bầu ra, ba năm một lần) cũng không thể tổ chức được.

Dù vậy, được soạn thảo và thông qua một cách dân chủ, bởi một Quốc hội được bầu ra một cách dân chủ, Hiến pháp 1946 là bản hiến pháp có rất nhiều giá trị. Nó khẳng định quyền tự do, quyền làm chủ đất nước của toàn dân, thể hiện sâu sắc tư tưởng giải phóng dân tộc, độc lập – tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đánh giá về nó, TS luật Phạm Duy Nghĩa, trong một bài trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ, đã gọi đó là bản hiến pháp mà “mỗi câu chữ đều vang vọng tiếng dân”. Còn PGS sử học Lê Mậu Hãn thì nhận định: “Chúng ta vẫn còn nợ Hiến pháp 1946 nhiều lắm”.



Các ứng viên ĐBQH khoá I ra mắt cử tri tại Việt Nam Đại học Xá (nay là ĐH Bách khoa Hà Nội). Ảnh tư liệu trong sách ảnh "50 năm Chính phủ Việt Nam" của NXB Thông tấn.

* * *

I wrote the below article almost three years ago. If I were to write it again now, I would make a number of revisions, especially expressing my doubt about the democracy of the 1946 election for the first National Assembly of Vietnam when, according to statistics then, “89% voters nationwide went to the polls; in some parts of the country the voting turnout amounted to 95%.”

But, no matter how “incredibly positive” the statistics look, I still believe that the 1946 Constitution, which was adopted by the first National Assembly, is the most democratic and humane of all Vietnamese constitutions (see footnote), at least in that it does not give priority to any political party or advocate class struggle. It ensures private ownership, and it proclaims that “all of the Parliament’s meetings shall be open to the public.”


THE CONSTITUTION THAT ECHOED ALL PEOPLE’S VOICES

Looking back at the 1946 Constitution of Vietnam, many would say it was the most humane, democratic constitution that united the whole country. It’s not just that, after all. The first constitution of Vietnam, though initiated, drafted, and ratified under significantly difficult circumstances, ensured the “people-centered” spirit, putting people over all.

“Discussions on the 1946 Constitution automatically point to the role of Ho Chi Minh and the general election in early 1946,” said Le Mau Han, associate professor on Vietnam’s modern history. He said Ho Chi Minh’s thoughts of a democratic republic state had been traced back to decades before the first constitution of Vietnam was composed in 1946. As far back as in 1919 when the “Claims by An Nam People” was submitted to the Versailles Convention, it reflected his constitutional theory. The seventh of eight claims urged that the people of Vietnam should be protected by a constitution. “Seven, we request a constitution would be issued. Above all, all things shall be under the divine rule of law,” Ho Chi Minh wrote in his “Song of Vietnam’s Claims,” a versified version for the purpose of propaganda.

On September 3rd 1945, just one day after the Declaration of Independence, Ho Chi Minh in the first meeting of the interim government mentioned the need of “a democratic constitution”, and he requested the government to “conduct as soon as possible a general election securing universal suffrage” to establish the national assembly for the constitution building process.

On September 8th 1945, the Government issued Order 14-SL, which stated that “the people of Vietnam, represented by the supreme power of the National Assembly, would write a democratic constitution for the country of Vietnam.” The Order also declared general election to be held.

The historic general election

The democratic general election – the original source of the spirit of the 1946 Constitution – took place under extremely hard economic and social circumstances when the country faced domestic and foreign enemies. It was, in fact, a fierce struggle to ensure the sovereign rights of the people and national self-determination. Archival records of the national assembly show: newspapers like Vietnam, Pragmatism, Consensus, etc. (owned by Viet Quoc [Vietnam National Party], Viet Cach [Vietnam Revolutionary Party]), in their efforts to defame Viet Minh, called for a boycott of the general election, arguing that social awareness was too low for people to enforce their civic right and the country should therefore focus on the struggle against colonialist France rather than wasting time on voting.

National Salvation, a newspaper of the Viet Minh Front, on November 24th 1945 responded by affirming “Only a general election can give people a chance to voice their desires […]. After all, only a general election can give Vietnam a new constitution to ensure the rights of its people.”

In the North of Vietnam, Nationalist Chinese (Chiang Kai-shek’s Koumintang army) and their Vietnamese supporters attempted to destroy the general election by plundering the ballot box, attacking guard men in Hai Phong. In the south, French army launched brutally terrorist bombards. Scores of people were killed or injured, but people still went for voting, shedding their blood to exercise their rights of freedom and democracy. 89% of the population went for voting. The percentage even reached 95% elsewhere.

That’s how the first national assembly of Vietnam was established.

This national assembly on March 2nd 1946 saw the first session within the shortest time ever of four hours, given the threat of a new French invasion looming over the inchoate national independence. During the meeting, a 11-member working committee on constitution drating was set up, including Tran Duy Hung, Ton Quang Phiet, Do Duc Duc, Cu Huy Can, Nguyen Dinh Thi, Huynh Ba Nhung, Tran Tan Tho, Nguyen Cao Hach, Dao Huu Duong, Pham Gia Do, lady Nguyen Thi Thuc Vien. All of these were intellectuals coming from different political parties, for example, Pham Gia Do was a member of Viet Quoc, that is the Vietnam Quoc dan Dang. 

Ardent and democratic

It is said that the 1946 constitution was a rallying point of people’s vehement petitions, and it took a page out of the constitutions of many European and Asian countries. As Associate Professor Le Mau Han said, the specific sources that the 1946 Constitution learnt from remain unknown after years. The writers of the Constitution, however, were all intellectual minds originating from French schools where they absorbed Western thoughts. It is thus pertinent to say the Constitution was marked with a spirit of democracy and rule of law.

The working committee wrote the first Constitution of Vietnam in just a few months, and submitted it to the National Assembly on November 2nd 1946. Do Duc Duc was the orator. Representatives of parties giving their evaluations included Ho Duc Thanh of Viet Cach, Hoang Van Duc of the democratic group, Le Thi Xuyen of the social group, Nguyen Dinh Thi of Viet Minh, Tran Trung Dung of Viet Quoc, Tran Huy Lieu of the Marxist group.

Discussions and debates prior to the ratification of the 1946 Constitution took place in a highly vehement and democratic atmosphere. Le Mau Han said, the debate was the most vehement when it came to the choice between unicameralism and bicameralism. Tran Trung Dung, for example, deprecated unicameralism, saying it might not be suited to Vietnam, where people had long been politically illiterate. Pham Gia Do also refuted unicameralism, arguing that it was nothing more than “the tyranny of the majority.” However, most of the congressmen approved of unicameralism. Dao Trong Kim said it was advisable as “centralization and allocation is highly applicable to real-life situations.”

Tran Trung Dung spoke much of citizens’ freedoms which he condemned the government of not bringing to the people. He was interrupted by Pham Van Dong, who said Tran Trung Dung was wrong in his condemnation given the Government was trying to struggle in their foreign policies to preserve independence.

After a great many discussions and debates on every single article, on November 9th 1946, the National Assembly put the first constitution to the vote and it was passed with 240/242 votes in favour. The two votes against it were from Nguyen Son Ha and Pham Gia Do. Nguyen Son Ha voted against the Constitution as it failed to include economic freedom of commerce, while Pham Gia Do reserved his opposition against unicameralism.

President Ho Chi Minh said in his speech, “After more than ten days of hard working, the National Assembly reached a glorious result when the discussion process was completed. Although the constitution may not be perfect, it declared to the world that Vietnam is now an independent nation-state, the people of Vietnam now enjoy all freedoms (…), Vietnamese women are now equal to men as citizens enjoying such freedoms.

As the war was expanding, the National Assembly, though voting the Constitution through, decided not to submit it to a referendum. They also agreed that the Constitution would not be issued or enforced immediately. The vote for the establishment of People’s Parliament (once every three years, as stated by the 24th Article) was also delayed.

Despite that all, the 1946 Constitution is of a great value as it was drafted and passed in a democratic way by a democratically-elected National Assembly. It affirms all people’s right to freedom, right to be the master of their country, and demonstrates Ho Chi Minh’s thoughts of national liberation, independence and freedom.  Pham Duy Nghia, Ph.D. in laws, once described it as a constitution of which “every single word, every single sentence echoes the voice of the people,” in an interview by Tuoi Tre (Youth) newspaper. Associate Professor Le Mau Han gave another appraisal when he said, “We are much indebted to the 1946 Constitution.”

--------
Photo: Candidates for the first session of the National Assembly in a meeting to present themselves to the public at the Hanoi University of Science and Technology. (Thong tan Publishing House)

Note: Vietnam has four constitutions to date: 1946, 1959, 1980, 1992, and one constitutional amendment of 2001. The current one which is subject to reform is the 1992 Constitution. Its revision draft, compiled by and at the will of the ruling Communist Party, is expected to be ratified by the communist-dominated National Assembly in October 2013.