Friday, November 14, 2014

Dân biểu Zoe Lofgren: “Chính quyền VN cần biết là có nhiều người đang theo dõi họ”


Chiều 13/11, tại văn phòng dân biểu Zoe Lofgren ở Washington D.C., nhà báo-blogger Đoan Trang đã có cuộc trò chuyện với bà Zoe Lofgren, nhân cuộc vận động của các blogger liên quan đến vụ án Anh Ba Sàm.

Dân biểu Zoe Lofgren: Nhìn chung, tôi giả định rằng chính phủ Việt Nam cần Mỹ, vì vấn đề Trung Quốc. Vì thế cho nên chúng tôi sẽ không để lỡ cơ hội này đâu (cười). Ngược lại, chúng tôi sẽ tận dụng nó để đòi hỏi một số tiến triển về nhân quyền ở Việt Nam.

Như tôi được biết thì ở Việt Nam có hàng trăm tù nhân lương tâm, mà Anh Ba Sàm chỉ là một trong số đó. Bạn đánh giá như thế nào về blogger này?

Đoan Trang (ĐT): Vâng, chưa có thống kê chính thức nhưng ở Việt Nam hẳn phải có hơn 100 tù nhân lương tâm. Tuy nhiên, Nguyễn Hữu Vinh là một trường hợp rất đặc biệt. Ông cũng lập ra blog và website, như nhiều người khác, và các website của ông thu hút hàng nghìn người đọc. Đây là logo và slogan của website Thông Tấn Xã Vỉa Hè. Slogan của nó là “phá vòng nô lệ”. Ông ấy tin rằng có thể phá vòng nô lệ bằng cách nâng cao dân trí, bằng cách làm cho người dân hiểu về các giá trị của dân chủ và tự do.

Nhưng điều quan trọng hơn ở ông, với cá nhân tôi, đó là, ông gần như đã cho những nhà báo quốc doanh như tôi, như chúng tôi, thấy một cách làm báo mới: khách quan, chính xác, bảo vệ nguồn tin. Thật ra đa số nhà báo Việt Nam lâu nay vẫn được huấn luyện để tin rằng báo chí là một công cụ tuyên truyền của Đảng và Nhà nước, và nhiệm vụ của nhà báo là giải thích và phổ biến chủ trương, đường lối, chính sách của lãnh đạo cho dân chúng. Ba Sàm đã cố gắng thay đổi điều đó. Bằng việc đăng tải nhiều bài viết, bài dịch mà báo chí quốc doanh không thể đăng, kèm bình luận, ông ấy muốn nói với dân chúng, trong đó có cả các nhà báo, rằng có vô số điều đang diễn ra ngoài kia và nhiệm vụ của truyền thông là phải truyền tải chúng. Ông ấy từng nói: “Những bài viết, sự kiện, những cơ quan, tổ chức… có điều gì hay/dở, những con người tốt/xấu đều có thể được hội tụ về đây, phơi bày, cọ sát, so sánh, được đông đảo cư dân mạng khắp trong ngoài nước tức khắc nhận biết. Kẻ xấu bị vạch mặt phải biết sợ, người tốt được động viên, gắn bó”.

Zoe Lofgren: Rất hay…

ĐT: Vâng, và blogger chúng tôi rất nhớ ông ấy. Tôi nhớ hình ảnh ông ở các cuộc biểu tình ở Hà Nội, với cái đèn treo trước trán như thế này này. Ông ấy đã luôn có mặt ở những nơi đó: biểu tình, tuần hành trên đường phố, cưỡng chế đất đai, những cuộc họp mặt của giới blogger… Ông ấy đã luôn ở đó, chụp ảnh, làm tin và đưa lên blog.

Zoe Lofgren: Hay quá. Bạn biết đấy, nước Mỹ cũng không phải hoàn hảo. Chúng tôi có rất nhiều vấn đề. Nhưng điều quan trọng là cần có những kênh truyền tải thông tin, điều quan trọng là chúng ta phải trung thực, phải thừa nhận những vấn đề ấy, và tìm cách xử lý chúng.

ĐT: Tôi nghĩ Ba Sàm cũng nghĩ vậy. Và ông ấy đã là một kênh như thế. Ông thành lập website Thông Tấn Xã Vỉa Hè từ tháng 9/2007, và đã sống trong sự sách nhiễu, theo dõi của lực lượng an ninh suốt gần một thập niên qua.


Zoe Lofgren: Sức khỏe của ông ấy hiện thế nào?

ĐT: Theo tôi biết thì không được tốt. Có một vài vấn đề.

Zoe Lofgren: Sở dĩ tôi hỏi vậy, vì đôi khi dường như những người có vấn đề về sức khỏe thì có cơ may được can thiệp để trả tự do sớm hơn. Chính phủ nói chung không muốn thừa nhận các vấn đề về sức khỏe của tù nhân là do họ gây ra, cho nên họ sẽ tìm cách “đuổi” các tù nhân ra sớm. Có lẽ thế.

ĐT: Tôi biết là Nguyễn Hữu Vinh bị một chứng bệnh gì đó – tôi không biết tên gọi tiếng Anh của nó là gì – nó khiến ông ấy chịu lạnh rất kém. Cái khổ là Hà Nội đang vào đông rồi, mà ông ấy thì không được gặp gia đình để có thể nhận chăn màn tiếp tế…

Zoe Lofgren: Ông ấy bị giam ở Hà Nội à?

ĐT: Không, ở một trại giam ngoại thành Hà Nội. Tôi được biết là vợ của ông Vinh đã cố tìm cách gặp ông ấy và gửi chăn màn cho ông ấy, nhưng không được. Miền Bắc đang vào đông, thời tiết cũng lạnh như ở D.C. đây. Và ta thử hình dung xem, ông ấy phải nằm trên bệ xi măng để ngủ. Một cảm giác ớn lạnh đến xương.

Zoe Lofgren: Quá tệ. Tôi nghĩ là chúng tôi có thể cùng thảo một lá thư gửi chung đến chính quyền Việt Nam. Tôi cũng sẽ liên hệ với Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Việt Nam để xem họ có đề xuất gì thêm về trường hợp này không.

ĐT: Với trường hợp Minh Thúy, tình hình có lẽ còn tệ hơn. Tôi muốn nói đến người cộng sự của ông Vinh. Hoàn cảnh gia đình của cô ấy hiện nay rất khó khăn. Cô Thúy đã ly dị và có hai đứa con nhỏ mới 7 tuổi. Hiện giờ chúng ở với bà ngoại.

Zoe Lofgren: Cô ấy đang bị giam ở đâu? Có cùng trại giam với ông Vinh không?

ĐT: Nói thật là chúng tôi không có cách nào tiếp cận với cô ấy cả. Cá nhân tôi không biết cô ấy đang ở đâu, nhưng có lẽ cũng tại trại giam đó. Cả ông Vinh và cô Thúy đều bị bắt cùng một ngày.

Zoe Lofgren: Thật tội nghiệp. Chúng ta phải đề cập cả đến cô ấy nữa. Chúng ta nên làm cho chính quyền Việt Nam nhận ra rằng có rất nhiều người đang theo dõi họ, xem họ làm gì.

ĐT: Cảm ơn bà. Tôi xin nói thêm rằng, chúng tôi không muốn coi vụ việc của Nguyễn Hữu Vinh chỉ là một vụ việc cá nhân, cũng như không chỉ đòi hỏi trả tự do cho ông Vinh. Chúng tôi muốn xem xét lại toàn bộ Bộ luật Hình sự và các điều khoản mơ hồ, hà khắc của nó…

Zoe Lofgren: Tôi biết rồi. Các bạn muốn một sự thay đổi, các bạn muốn Việt Nam tự do, dân chủ chứ gì?

ĐT: (cười) Trời ơi, sao mà bà nói giống một nhân viên an ninh Việt Nam thế?

Dù sao đi nữa, nếu bà cũng như bất kỳ dân biểu Mỹ nào lên tiếng, như bà Loretta Sanchez chẳng hạn, thì bà phải chuẩn bị tinh thần là sẽ sớm được đưa vào danh sách những nhân vật bị báo chí của công an và quân đội ở Việt Nam tấn công. Tôi có một người bạn làm giám đốc điều hành của một tổ chức nhân quyền quốc tế. Anh này có lần bị “dư luận viên” hay là báo chí của công an, quân đội gì đó gọi là “con lừa”. Tôi kể lại cho anh ấy nghe, anh cười phá lên: “Chẳng sao cả. Tôi là đảng viên Đảng Dân chủ mà. Biểu tượng của đảng Dân chủ là con lừa”.

Zoe Lofgren: Haha, tôi cũng vậy.

ĐT: Phải nói thật là tôi không hiểu tại sao chính quyền lại bắt Anh Ba Sàm và Minh Thúy. Họ hết sức ôn hòa. Tôi tin những người như ông Vinh là cơ hội mà chính quyền Việt Nam có thể nắm lấy nếu họ muốn một sự chuyển đổi ôn hòa về chính trị. Mong muốn duy nhất của ông Vinh là khai dân trí, nâng cao dân trí, thay đổi nhận thức của người dân, để từ đó dân chủ và tự do sẽ đến với Việt Nam. Có lẽ họ ghét ông ấy vì ông ấy có tính hài hước chăng? Ông ấy có nhiều comment châm biếm họ lắm. Ông ấy còn cười chính mình nữa. Bà biết đấy, ông ấy tự xưng là “Anh Ba Sàm” (gossiper).

Zoe Lofgren: Và ông ấy cũng châm biếm, biến chủ nghĩa cộng sản thành trò đùa, phải không?

ĐT: Đúng như vậy.

Zoe Lofgren: Thì đó là cái mà những người cộng sản ghét nhất. Khi nào người dân bắt đầu cười nhạo họ là khi họ bắt đầu phải lo sợ.

----------

Dân biểu Zoe Lofgren sinh năm 1947, nguyên là một luật sư, tốt nghiệp ĐH Stanford ngành khoa học chính trị và lấy bằng luật (juris doctor) tại trường luật của ĐH Santa Clara. Bà là đảng viên đảng Dân chủ, vào Hạ viện từ năm 1995. Bà cũng là một chuyên gia về sở hữu trí tuệ và đặc biệt, luôn ủng hộ quyền của người nhập cư.


Friday, November 7, 2014

Quyền im lặng gây “phiền nhiễu” như thế nào?

(Luật Khoa tạp chí)  Công luận Việt Nam vừa có vài tuần ồn ào lên với vấn đề “quyền im lặng”. Cần phải nói rằng, với giới luật học, khái niệm này không quá xa lạ, nhưng với đông đảo người dân thường, dường như nó vẫn là một điều gì rất khó hiểu và khó thực hiện: Tại sao lại cho “bọn tội phạm” quyền im lặng? Như thế có gây khó khăn cho hoạt động điều tra không? Mà gây khó khăn cho hoạt động điều tra, suy cho cùng, là gây tốn kém nguồn lực của xã hội, và nguy hiểm nhất là dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm… LKTC tin rằng những câu hỏi đó là thắc mắc chung của rất nhiều người về vấn đề quyền im lặng. Hy vọng bài viết sau đây có thể giải đáp phần nào thắc mắc của các bạn.

Một ý kiến tiêu biểu cho những ý kiến băn khoăn về quyền im lặng, là của Đại biểu Đỗ Văn Đương, Ủy viên thường trực Ủy ban Tư pháp của Quốc hội: “Quyền im lặng không phải quyền con người, mà quyền bào chữa mới là quyền cơ bản của người phạm tội trong tố tụng hình sự. (…) Nếu mở rộng quá nhiều quyền dẫn tới tùy tiện thì lại gây ra nhiều khó khăn, trở ngại cho công tác điều tra, giải quyết vụ án”. (Chương trình Sự kiện và Bình luận, VTV, 27/9/2014).

Vậy, thực sự thì quyền im lặng có phải quyền con người không?

Từ giác độ luật pháp nhân quyền quốc tế

Tháng 7-2007, Ủy ban Nhân quyền của LHQ ban hành bản Bình luận Chung (General Comment) số 32, trong đó, Điều 14 của Bình luận Chung này chuyên về “quyền được bình đẳng trước tòa án và quyền được xét xử công bằng”.

Điều khoản đó được coi như một chuẩn mực của công pháp quốc tế về nhân quyền. Nó phát biểu rằng:

Ngay cả trong quá trình điều tra hình sự, người bị bắt vẫn phải tiếp tục được hưởng các quyền và quyền tự do căn bản, mặc dù có những hạn chế nhất định vốn là tính chất cố hữu của việc bị tước đoạt tự do thân thể. Bên cạnh quyền được gặp luật sư, các cơ chế bảo vệ người bị bắt trong quá trình thẩm vấn còn bao gồm việc cấm ép người bị bắt phải nhận tội hoặc tự khai điều gì bất lợi cho bản thân, bác bỏ những bằng chứng thu được bằng biện pháp tra tấn hoặc ngược đãi, và quyền có phiên dịch, quyền được tiếp cận những hồ sơ, biên bản ghi lại tiến trình thẩm vấn”.

“Bất kỳ ai bị tình nghi hoặc bị cáo buộc phạm tội đều có quyền được giả định là vô tội và được đối xử như là người vô tội cho đến bị chứng minh là có tội, theo luật định, tại một phiên xét xử trong đó họ được bảo đảm tất cả những gì cần thiết để bào chữa. Nghĩa là:

  • Nguyên tắc suy đoán vô tội phải được bảo đảm cả trong giai đoạn điều tra lẫn trong giai đoạn xét xử;
  • Việc bị giam trước khi xét xử, bảo lãnh bị từ chối, hay bất kỳ phát hiện nào về trách nhiệm dân sự phải chịu, cũng không có ảnh hưởng nào làm tổn hại đến nguyên tắc suy đoán vô tội; và 
  • Các cơ quan nhà nước có nghĩa vụ tự kiềm chế để không kết án trước khi xét xử, chẳng hạn, bằng cách tránh đưa ra các phát biểu công khai xác nhận bị cáo có tội.

Tất cả những người bị cáo buộc phạm tội hay bị bắt đều không ai có thể bị ép phải thú tội, tự buộc tội mình hoặc khai điều gì chống lại bất kỳ người nào khác. Tất cả những người bị cáo buộc phạm tội đều có quyền giữ im lặng trong suốt quá trình thẩm vấn”.

Một án lệ của Tòa án Nhân quyền châu Âu năm 1995 cũng đưa đến nguyên tắc: Bị cáo không phải chịu trách nhiệm về những chậm trễ do bị cáo gây ra khi sử dụng quyền im lặng hay khi không chủ động hợp tác với cơ quan tư pháp. Chỉ có thể quy sự chậm trễ trong tiến trình tư pháp cho bị cáo trong trường hợp bị cáo có hành vi cố ý cản trở phiên tòa.

Như vậy, câu trả lời là: Quyền im lặng là một trong các quyền con người – ấy là theo chuẩn mực quốc tế về nhân quyền. Nó là một phần của quyền được bình đẳng trước tòa án, quyền được xét xử công bằng, quyền của các nghi can – tức là những người bị tình nghi phạm tội và đang bị điều tra… (LKTC sẽ tiếp tục có các bài viết giới thiệu về những quyền này).

Địa chỉ trang Luật Khoa: http://luatkhoa.org 

Quyền im lặng có gây khó khăn cho công tác điều tra?

Câu trả lời tất nhiên là: Có. Không cần đặt mình vào hoàn cảnh nhân viên điều tra thì bạn cũng có thể thấy điều này. Và phải nói thêm rằng, không chỉ quyền im lặng, mà quyền không bị tra tấn, quyền không bị bắt giữ tùy tiện, quyền được chống lại việc bắt giữ, v.v. tất cả những quyền con người trong điều tra hình sự đó đều “gây ra nhiều khó khăn, trở ngại cho công tác điều tra, giải quyết vụ án”, như Đại biểu Đỗ Văn Đương đã nói.

Luật pháp nói chung, quy trình tố tụng nói riêng càng đảm bảo những quyền này, thì công việc điều tra càng có nguy cơ gặp trở ngại và bị kéo dài là vì vậy. Ở những quốc gia như Mỹ, Anh, thậm chí ngay tại một nước láng giềng Đông Nam Á của chúng ta là Philippines, có những vụ án kéo dài năm này qua năm khác. Người viết bài này từng chứng kiến quá trình điều tra và xét xử một phụ nữ Việt Nam bị cáo buộc mang cần sa nhập cảnh vào Philippines. Sau tới hàng chục phiên điều trần (hearing), việc xét xử vẫn chưa xong vì… bị cáo không có phiên dịch.

Mặc dù thế, ở các xã hội có truyền thống tự do hoặc có ý thức tôn trọng nhân quyền cao hơn, pháp luật vẫn hướng tới việc bảo đảm quyền im lặng cũng như các quyền “gây khó khăn, trở ngại cho công tác điều tra” khác. Người ta tin rằng, tìm ra và trừng phạt kẻ có tội là một việc cần thiết và quan trọng – vì công lý; nhưng không kết tội oan, không mớm cung, bức cung, tra khảo, không hành hạ, không xử tử nhầm người vô tội, cũng là vấn đề công lý.


Wednesday, November 5, 2014

"Luật học như cơm bình dân"

(Tựa đề trên mượn ý của tạp chí e-Chip trong một slogan từ năm 2003, “Tin học như cơm bình dân”)

Ngày này cách đây 14 năm với tôi là một ngày rất đặc biệt trong đời. Đó là ngày tôi xuất hiện lần đầu tiên ở một tòa soạn báo, với tư cách… thử việc. Và đó là tờ báo điện tử chuyên nghiệp đầu tiên ở Việt Nam, VnExpress. Nói “đầu tiên”, bởi vì từ khi Việt Nam nối mạng Internet (năm 1997) cho tới trước khi VnExpress ra đời, cũng đã có một số trang mạng tiếng Việt hoạt động gần giống như báo điện tử rồi, trong đó có trang web của FPT, của VASC, v.v.; nhưng không có site nào được vận hành quy củ, bài bản, đúng nghĩa một tòa soạn báo cả - thời gian đó, nhìn chung các site ấy vẫn giống diễn đàn, hay trang tin nội bộ hơn.

Tôi rất nhớ mùa đông năm 2000 ấy và những ngày tháng đầu tiên làm quen với nghề báo của mình. Đôi khi nhớ lại, tôi vẫn hình dung mình giống như một đứa trẻ, ngây ngô, ngơ ngác, cái gì cũng sợ, gặp ai cũng sợ. Sợ nhiều thứ, nhưng nỗi sợ lớn nhất là viết sai. Phải nói thành thực là nỗi sợ ấy bám theo tôi suốt từ đó đến tận bây giờ, qua cả cái thời kỳ dịch những dòng đầu tiên về khoa học, tới thời viết về cộng đồng giới tính thứ ba, tới những ngày viết về nợ công, kinh tế học và chính sách công, những lần vừa viết về Biển Đông-Hoàng Sa-Trường Sa vừa run lẩy bẩy (nghĩa đen)…

Ngày 5/11 năm nay, đứa trẻ nhát như cáy của 14 năm về trước lại lọ mọ với một tờ báo mới mở khác, ở trong một lĩnh vực mà người ta rất dễ viết sai, rất dễ phạm sai lầm, và cái sai có thể gây di họa rất lớn: Luật Khoa tạp chí. Đó là một tạp chí bình dân về luật pháp và luật học, nhằm vào việc “cung cấp thông tin và kiến thức pháp lý cho cộng đồng”, “thúc đẩy việc học tập và nghiên cứu pháp luật ở Việt Nam”…


Địa chỉ trang Luật Khoa: http://luatkhoa.org
Facebook: http://facebook.com/luatkhoa.org

Tôi không học ngành luật (cũng như chưa từng được đào tạo về báo chí), không phải luật sư, thẩm phán, càng không phải nhà nghiên cứu luật học. Nhưng nhược điểm rất lớn đó lại cũng có thể là một thuận lợi: Tôi hiểu rõ tâm lý, suy nghĩ của những người chưa có kiến thức về luật pháp, tức là những “dân thường”. Tôi ý thức được nỗi sợ của người không biết gì về luật, mà lại không hiểu phải bắt đầu từ đâu để vượt qua cánh rừng rậm mênh mông đó. Tôi nhìn thấy cảm giác choáng ngợp của họ. Cũng như tôi hiểu (phần nào) thân phận của những công dân có việc dính tới “cửa quan” mà lại thấp cổ bé họng, chẳng biết tin vào ai, chẳng biết phải làm gì, nói chi tới việc sử dụng luật pháp để bảo vệ mình…

Tôi hiểu những cái đó, và tôi muốn cùng mọi người học để biết, học để xóa bỏ nỗi sợ hãi của sự không hiểu biết. Nhà báo thì rõ ràng chẳng phải thánh tướng gì, và những điều nhà báo viết rất có thể sai. Nhưng điều quan trọng (mà có lẽ ít người để ý) là quá trình một nhà báo viết và độc giả đọc, cũng là quá trình tất cả họ cùng học với nhau.

Và nói rộng ra, quá trình chúng ta cùng tìm hiểu về luật pháp và luật học chính là quá trình chúng ta đi những bước đầu tiên trên con đường xây dựng nhà nước pháp quyền.

Tuesday, November 4, 2014

"Bắt Anh Ba Sàm là trái pháp luật"

BẢN TIẾNG ANH/ ENGLISH


Xét trên cả bình diện pháp luật nội địa lẫn quốc tế, việc bắt và giam giữ blogger Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm) cùng cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy là hoàn toàn tùy tiện và trái pháp luật.

Quy trình tố tụng sai từ đầu

Vụ án Anh Ba Sàm mở màn ngày 5/5 với việc bắt khẩn cấp ông Nguyễn Hữu Vinh và sau đó là bà Nguyễn Thị Minh Thúy.

Theo Bộ luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, quyết định bắt khẩn cấp khác với quyết định bắt thông thường ở chỗ nó không cần sự phê chuẩn của Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp trước khi thi hành. Việc phê chuẩn sẽ được tiến hành sau khi bắt người, trong vòng 12 tiếng kể từ khi Viện Kiểm sát nhận được đề nghị phê chuẩn từ cơ quan điều tra.

Quy định này trao cho cơ quan điều tra quyền hành động ngay lập tức, không chịu bất cứ sự kiểm soát nào, và hạn chế tối đa nguy cơ rò rỉ thông tin.

Tuy nhiên, quyết định bắt giữ khẩn cấp này của Cơ quan An ninh Điều tra (Bộ Công an) lại không nằm trong bất cứ trường hợp nào được phép bắt khẩn cấp theo quy định tại Điều 81, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003.

Theo đó, việc bắt khẩn cấp chỉ được tiến hành trong trường hợp (i) khi có căn cứ để cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng; (ii) khi người bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt trông thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn; và (iii) khi thấy có dấu vết của tội phạm ở người hoặc tại chỗ ở của người bị nghi thực hiện tội phạm và xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn hoặc tiêu huỷ chứng cứ.

Cả ba trường hợp nêu trên đều dễ dàng bị loại bỏ, bởi Điều 258, Bộ luật Hình sự không thuộc nhóm tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, không có người bị hại nào hoặc người nào có mặt tại nhà và văn phòng của ông Vinh và bà Thúy trông thấy họ đang thực hiện tội phạm gì, và cơ quan điều tra không chứng minh được dấu vết tội phạm gì ở người hoặc chỗ ở của hai người này. Bằng chứng là theo Bản Kết luận điều tra số 14/KLĐT ngày 30/10, tất cả các đồ vật thu giữ được tại nhà và văn phòng của họ đều được kết luận là “không liên quan trực tiếp đến vụ án”.

Việc sai phạm ngay từ khâu bắt giữ dẫn đến sai phạm của toàn bộ quy trình tố tụng sau đó.

Vi phạm quyền bí mật thông tin cá nhân

Bản Kết luận điều tra còn trực tiếp tiết lộ phương pháp thu thập chứng cứ trái pháp luật của cơ quan công an, mà những chứng cứ này lại được dùng làm cơ sở để ra quyết định bắt khẩn cấp đối với ông Vinh và bà Thúy.

Điều đó được thể hiện rõ ngay trang 1 của bản Kết luận điều tra, trình bày rằng vụ án đã được bắt đầu từ ngày 01/4 khi Cục Bảo vệ Chính trị 6 – Tổng cục An ninh I – Bộ Công an gửi Công văn cho Cơ quan An ninh Điều tra, cung cấp dữ liệu theo dõi hai thuê bao Internet (đăng ký với nhà mạng VDC và FPT) của ông Vinh và bà Thúy, với kết luận “thường xuyên đăng tải trên Internet các bài viết có dấu hiệu xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”.

Điều này không khỏi khiến những ai quan tâm đặt ra một số câu hỏi: Liệu công an có được phép theo dõi và sao chép dữ liệu truy xuất Internet của người dùng hay không? Nếu công an muốn theo dõi và sao chép dữ liệu đó thì nhà mạng có nghĩa vụ cung cấp hay không? Và nhà mạng có được phép cung cấp dữ liệu của khách hàng cho công an hay không?

Một số người khác sẽ liên tưởng đến một chi tiết tuy nhỏ mà không nhỏ trong các vụ án ở phương Tây: Cảnh sát chỉ được phép nghe trộm điện thoại của công dân khi được tòa án cho phép.

Đối với pháp luật Việt Nam, câu trả lời có thể dễ dàng được tìm thấy tại Điều 38, Bộ luật Dân sự về quyền bí mật đời tư, theo đó, “thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật”.

Điều 72 của Luật Công nghệ thông tin cũng nghiêm cấm việc xâm nhập, sửa đổi, xóa bỏ nội dung thông tin của tổ chức, cá nhân khác trên môi trường mạng.

Tuy vậy, một số người có thể trích dẫn chính Điều 38, Bộ luật Dân sự để phản bác, rằng việc kiểm soát thư tín và thông tin điện tử vẫn có thể tiến hành theo quy định của pháp luật VÀ khi có quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vậy nhưng quy định đó là quy định nào và quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đó là quyết định nào thì bản Kết luận điều tra hoàn toàn không nhắc tới.

Nếu thực sự Bộ Công an được trao thẩm quyền theo dõi dữ liệu thuê bao Internet, và thực sự có quyết định của một cơ quan nào đó cho phép họ theo dõi thuê bao của ông Vinh và bà Thúy thì lại phải đặt một dấu hỏi lớn về tính hợp hiến, hợp pháp và hợp lý của các văn bản đó.

Cần lưu ý rằng, cho đến nay, hai văn bản trực tiếp quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Công an là Nghị định số 77/2009/NĐ-CP và số 21/2014/NĐ-CP đều không được tìm thấy trên hệ thống công báo cũng như các website tra cứu văn bản pháp luật. Một số nguồn tin nói rằng chúng được đóng dấu Mật và không được phép công khai.

Nhà báo công dân. Ảnh: Nguyễn Lân Thắng

Bắt giữ tùy tiện

Dưới lăng kính pháp luật quốc tế về nhân quyền, hành vi bắt và giam giữ ông Nguyễn Hữu Vinh và bà Nguyễn Thị Minh Thúy là sự vi phạm đối với quyền tự do thân thể của họ và được định nghĩa là hành vi bắt giữ tùy tiện.

Các Điều 9 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và Công ước Quốc tế về các Quyền dân sự và chính trị năm 1966 đều khẳng định “không ai có thể bị bắt giữ, giam cầm hay lưu đầy một cách tùy tiện”.

Việt Nam là thành viên đầy đủ của Liên Hiệp Quốc và đã ký kết, tham gia các văn kiện mang tính chất nền tảng và trụ cột này của luật nhân quyền quốc tế.

Quy định khá khái quát của hai văn kiện nêu trên, trong một nền pháp trị bình thường và với sự độc lập của hệ thống tư pháp, bao giờ cũng được giải thích và thực thi gần với công lý xã hội nhất, tiệm cận nhất có thể với điểm cân bằng giữa quyền của các cá nhân và sự an toàn của xã hội.

Vào năm 2000, Nhóm làm việc về bắt giữ tùy tiện của Liên Hiệp Quốc, một cơ quan bao gồm các chuyên gia nhân quyền độc lập chuyên điều tra các vụ bắt giữ tùy tiện ở các quốc gia thành viên, đã đưa ra một bộ ba tiêu chí cơ bản để xác định khi nào thì một hành vi bắt giữ được coi là tùy tiện.

Trong số ba tiêu chí đó, việc bắt giữ do thực thi các quyền tự do được quy định trong các văn kiện về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc sẽ được coi là tùy tiện và được xếp vào Mục II (Category II).

Mặc dù ông Vinh và bà Thúy không khai nhận 24 bài viết được nêu trong bản Kết luận điều tra là do họ đăng tải, nhưng việc công an cho rằng họ đã đăng những bài viết đó và tiến hành bắt giữ họ, không gì khác hơn là sự vi phạm quyền tự do ngôn luận, và rơi vào Mục II nêu trên.


Anh Ba Sam Arrested Arbitrarily


The detention of blogger Nguyen Huu Vinh (a.k.a. Anh Ba Sam) and his assistant Nguyen Thi Minh Thuy constitutes an arbitrary deprivation of liberty under national and international laws.

A failure of due process in the first place

The case “The SRV vs. Anh Ba Sam” was initiated on May 5, 2014 with the detention of Mr. Nguyen Huu Vinh and his assistant, Ms. Nguyen Thi Minh Thuy.

In accordance with the Vietnamese Penal Code, an urgent arrest or detention is different from an ordinary arrest to the extent that in the former, an approval by the People’s Procuracy is not required prior to the act of arrest or detention. That approval may be granted subsequent to the act of arrest or detention, within 12 hours since the People’s Procuracy receives the request for deprivation of liberty from the investigating body.

This provision authorizes the investigating body to act immediately at their discretion without any restriction. It also helps the investigating body to minimize the risk of information leakage.

In the case of Anh Ba Sam, however, the detention by the Investigating Body under the Ministry of Public Security fails to fit into any category of urgent arrest or detention as stipulated in Article 81, the Vietnamese Procedural Criminal Code of 2003.

Under this law, urgent arrests can only be made in the following cases:

  • (i) when there exist grounds to believe that such persons are preparing to commit very serious or exceptionally serious offenses; 
  • (ii) when victims or persons present at the scenes where the offenses occurred saw with their own eyes and confirmed that such persons are the very ones who committed the offenses and it is deemed necessary to immediately prevent such persons from escaping; or
  • (iii) when traces of offenses are found on the bodies or at the residences of the persons suspected of having committed the offenses and it is deemed necessary to immediately prevent such persons from escaping or destroying evidences.

Obviously the arrest of Nguyen Huu Vinh and Nguyen Thi Minh Thuy does not fall in any of these cases, because the Article 258 of the Penal Code under which they were charged does not belong to the category of “very serious” or “exceptionally serious” crimes. There was not any victim or person present at the homes and offices of Vinh and Thuy to see with their own eyes or to confirm that Vinh and Thuy had committed any offence. The investigating body also failed to find any trace of offence at the homes and offices of Vinh and Thuy: as confirmed in the Investigative Report of October 30, all of the objects confiscated at their homes and offices were found “unrelated to the case.”

The failure of due process in the first place led to due process violations in the subsequent phases.

Violation of privacy rights

Notably, the Investigative Report obviously revealed unlawful means by the police to obtain the evidence based on which the urgently arrest warrant on Nguyen Huu Vinh and Nguyen Thi Minh Thuy was signed.

The unlawful means were clearly referred to on the first page of the Investigative Report, which wrote that “the case began on April 1, when the Department of Political Guardian No.6 [Cục Bảo vệ Chính trị 6] under the General Department of Public Security No. 1, Vietnam’s Ministry of Public Security [Tổng cục An ninh I – Bộ Công an] dispatched a note to the Investigating Body of Public Security, providing surveillance data collected from two Internet subscribers who were VDC’s and FPT’s clients and whom they alleged “often posted to the Internet articles with signs of infringing upon the interests of the State, the legitimate rights and interests of organizations and citizens.”

This inevitably raises questions as to whether the police are authorized to monitor and access personal data of Internet users, whether Internet service providers are to provide personal data of their clients upon police’s request, and whether Internet service providers are allowed to do so.

Some people automatically linked the issue to similar circumstances in Western countries, where the police can only monitor phone calls when they are authorized by the court(s).

Under Vietnamese law, Article 38 of the Civil Code can provide a hint to answer the above questions. It stipulates that “individuals’ letters, telegrams, telephones, and other electronic correspondence shall be protected to ensure confidentiality.”

In addition, Article 72 of the Law on Information Technology strictly prohibits the access to, adjustment to or removal of the data of organizations and citizens in the cyber area.

Some people may invoke Article 38 of the Civil Code to argue that the monitoring of correspondence and electronic information can still be conducted “in circumstances which are stipulated by law” AND “with the order from the competent State authority.” However, which specific law this provision refers to, or which State authority is competent in the case of Nguyen Huu Vinh and Nguyen Thi Minh Thuy, was not mentioned in the Investigative Report.

More importantly, if the Ministry of Public Security is authorized to monitor personal Internet data, and if there was indeed an official decision granting them the authority to monitor Nguyen Huu Vinh and Nguyen Thi Minh Thuy’s data on the Internet, then a big question should be raised about the constitutionality, legality and legitimacy of such decisions.

It should be noted that the two regulatory notes that define duties, obligations, and authority of the Ministry of Public Security, ie. Decree No. 77/2009/NĐ-CP and Decree No. 21/2014/NĐ-CP, cannot be found in any national gazette or legal database on the Internet. Some sources said these two notes were classified as “confidential”, thus closed to the public.

"Citizen journalist" Anh Ba Sam. Photo by Nguyen Lan Thang

An arbitrary arrest

Under international human rights laws, the arrest of Mr. Nguyen Huu Vinh and Ms. Nguyen Thi Minh Thuy is a violation of their right to liberty and constitutes an arbitrary arrest.

Articles 9 of both the 1948 Universal Declaration of Human Rights and the 1966 International Covenant on Civil and Political Rights stipulate that “no one shall be subjected to arbitrary arrest, detention or exile.”

Vietnam, as a full member of the United Nations, has signed these two treaties, which are generally agreed to be the foundation of international human rights laws.

The general standards of these above treaties, in the context of a rule of law with an independent judiciary system, are always interpreted and enforced in a manner that helps to achieve social justice and balances human rights with security.

In 2000 the UN Working Group on Arbitrary Detention, a body consisting of independent human rights experts working on arbitrary detentions in its member states, introduced a set of criteria to assess whether an act of deprivation of liberty is arbitrary. Among the criteria, Category II provides that the deprivation of liberty results from the exercise of the rights or freedoms guaranteed by UN human rights treaties is regarded as arbitrary.

The police, by alleging Nguyen Huu Vinh and Nguyen Thi Minh Thuy to have posted to web 24 articles mentioned in the Investigative Report and arresting them despite their denial of allegation, have evidently violated freedom of expression, and this act of arrest fits into the above-mentioned Category II.


Related link: 

Sunday, October 26, 2014

Hương vị của lòng tốt


Đánh thức lại niềm tin vào “hương vị của lòng tốt” sẽ mở ra nhiều khoảng trời tốt đẹp mới trong đời sống của mỗi cá nhân và toàn xã hội.

Tôi đi theo bước chân của một trong những người sáng lập Quỹ Từ Thiện Tình Thương, nơi quản lý chuỗi quán cơm 2000đ mang tên Nụ Cười xuống quán Nụ Cười 4 tại 132 Bến Vân Đồn, Quận 4, Thành Phố Hồ Chí Minh. 5 quán cơm từ thiện như vậy đã được thành lập trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và thu hút sự chú ý khá lớn của dư luận. Nhiều người cho rằng mô hình này là không tưởng bởi cơm bán với giá 2000đ thì làm sao những người khởi xướng có thể duy trì. Người khác lại phê phán chuỗi quán sẽ phá vỡ quy luật kinh tế học, tạo cơ hội cho người có tiền vào ăn cơm của người nghèo, làm ảnh hưởng tới các quán cơm bình dân khác.

Vậy nhưng thật ngạc nhiên, người sáng lập chuỗi quán này cho biết, tính đến ngày 12/8/2014, dự án suất ăn giá rẻ của Quỹ Từ Thiện Tình Thương đã cung cấp 615.490 suất ăn bao gồm 547.502 suất cơm 2.000đ và 67.988 món nước (mì bún phở) bán với giá chỉ 1.000đ. Toàn bộ số tiền để làm cơm đều do nhà hảo tâm đóng góp. Một sự kỳ lạ khác là công ty kiểm toán đắt giá bậc nhất thế giới là Ernst & Young đã trực tiếp kiểm toán toàn bộ hoạt động tài chính của Quỹ trong năm 2013, bao gồm các dự án trợ giúp y tế và các dự án suất ăn giá rẻ tức hệ thống quán cơm Nụ cười. Theo báo cáo kiểm toán, tổng số thu từ nhà hảo tâm trong năm 2013 là 6.546.119.769 đồng và tổng số chi là 6.816.305.105 đồng.

Khác hoàn toàn với suy nghĩ “duy lý” của nhiều người, chuỗi 5 quán cơm vẫn được vận hành suốt từ tháng 10 năm 2012, thời điểm quán cơm số 1 ra đời. Mỗi quán vẫn cung cấp trung bình từ 400 đến 700 suất ăn từ thiện mỗi ngày, mỗi suất ăn có đầy đủ thịt cá, rau, canh và hoa quả như suất ăn 20,000đ ở các quán bình thường khác. Có những “đại gia” đã viện trợ “thầm lặng” 1 tỉ đồng cho quán, có những nhà hảo tâm thử tới ăn một suất cơm và “trả” 100 triệu. Số người ăn một suất cơm rồi đóng góp 500.000 đồng hay 1 triệu đồng không đếm hết. “Người tốt đông như quân Nguyên. Có những người đến lặng lẽ để lại một bao gạo rồi lặng lẽ ra đi. Có hai ông bà già nghèo đã đóng 4000đ cho hai suất ăn nhưng lại đóng thêm 8000đ nữa giúp những người nghèo khác,” người sáng lập chuỗi quán nghẹn ngào kể lại.

“Người tốt đông như quân Nguyên”, tôi bất ngờ khi nghe câu nói ấy, cũng như bất ngờ với ý tưởng cơm 2000đ. Lâu nay, tôi vẫn chỉ nghe bạn bè người thân nói những câu đại loại như: “xã hội bây giờ chẳng tin được ai”, “ra đường cẩn thận bị người ta lừa”, “xã hội này bây giờ xuống cấp về đạo đức quá rồi”… Những câu nói cửa miệng ấy cộng với những va đập với cuộc mưu sinh khiến tôi mất dần niềm tin vào những “việc tốt” hay “người tốt”. Tôi không phải là trường hợp cá biệt, và chắc chắn nhiều người khác có chung sự mất mát niềm tin như vậy.

Biểu hiện của sự mất mát niềm tin vào cái tốt trên quy mô xã hội thể hiện trong mọi cuộc chuyện trò nơi quán cà phê hay trên bàn nhậu, những chuyện xấu xa của ai đó ở nơi nào đó thường xuyên bị lôi ra còn những chuyện tốt đẹp thì vắng bóng. Báo chí cũng chỉ phản ánh đa số những câu chuyện có tính chất tiêu cực từ hãm hiếp tới giết người. Bức tranh trong tâm trí cộng đồng về xã hội được bôi lên nhiều mảng màu xám xịt trong đó những mảng trắng tốt đẹp chỉ hiện lốm đốm. Bức tranh xám xịt ấy đã phá hỏng nhiều tương tác xã hội và phá huỷ từ trứng nước nhiều ý tưởng lãng mạn, bởi chúng ta ít tin vào nhau cũng như ít tin vào bất kỳ điều gì khác vượt ngoài chuyện tư lợi và kiếm tiền. Đã lâu lắm rồi, tôi không nghe ai nói với mình như người làm quán cơm 2000đ đã nói: Xã hội này đa số là người tốt.

Bức tranh xám xịt đã ngăn cản tôi và nhiều người khác không tin vào ý tưởng quán cơm 2000đ. Tôi cũng đã từng nghĩ rằng rồi những quán cơm kiểu này sẽ chết yểu bởi nhà hảo tâm “viện trợ” thì ít mà những người lợi dụng “ăn cơm chùa” thì nhiều. Nhưng thực tế đã không diễn ra như thế. Trực tiếp xuống quán cơm Nụ Cười 4, tôi mới hiểu những phê phán về sự lợi dụng ăn cơm người nghèo của “người giàu” là rất ít cơ sở. 11h bắt đầu bán cơm nhưng từ 10h30 số người xếp hàng chờ để được ăn đã kéo dài cả dãy phố. Một người “khá giả” phải kiên nhẫn lắm mới đứng cả tiếng đồng hồ dưới trời nắng chang chang, giữa những người lao động nghèo xơ xác và nặng mùi đường phố ấy để chỉ tiết kiệm được chục nghìn tiền cơm. Dẫu vậy, một tấm biển ở cửa quán vẫn nhắc nhở: “Quán chỉ có 700 suất ăn. Chúng tôi tin rằng các bạn sẽ chia sẻ và nhường cho những người đến sau khó khăn hơn mình”. Ít người giàu nào lại “trơ trẽn” tới mức vẫn vào ăn chực khi đọc lời nhắc nhẹ nhàng ấy.

Người sáng lập quán cơm cho rằng vẫn có khoảng 10% người lợi dụng, nhưng “chúng tôi lại coi đó là cách để cho họ hiểu một bài học về lòng nhân ái. Người giàu vào ăn chúng tôi không đuổi ra mà vẫn trân trọng như người nghèo. Chúng tôi không bán cơm mà bán cho họ hương vị của lòng tốt.”

Tôi lại bất ngờ một lần nữa với 5 chữ “hương vị của lòng tốt”. Lần này thì không chỉ là bất ngờ mà còn là sự ám ảnh.  Sau khi ăn một suất cơm 2000đ và trả 500.000đ, tôi vẫn nghĩ mình đã trả quá rẻ để thưởng thức thứ “hương vị của lòng tốt” ấy, thứ mà những toan tính thiệt hơn, duy lý đã khiến tôi quên lãng, thậm chí nghĩ rằng nó không còn tồn tại nữa. Tôi đã nhầm, và có thể nhiều người khác nữa cũng đã nhầm. “Hương vị của lòng tốt” vẫn tồn tại ở nhiều nơi trên đất nước hình chữ S này, dưới hình thức này hay hình thức khác, bằng cách này hay cách khác. “Hương vị của lòng tốt” không mất đi đâu cả bởi nó nằm một phần trong bản chất con người, chỉ có niềm tin vào thứ hương vị ấy đã nhạt phai. Đánh thức lại niềm tin vào “hương vị của lòng tốt” sẽ mở ra nhiều khoảng trời tốt đẹp mới trong đời sống của mỗi cá nhân và toàn xã hội.


Wednesday, October 22, 2014

Đòi quyền ư? Đòi cái gì?

Ngày 21/10/2014, người tù lương tâm nổi tiếng – blogger Điếu Cày – được chính quyền Việt Nam “đày” sang Mỹ.

Sự kiện này đã, đang, và sẽ được nhiều blogger, giới đấu tranh dân chủ trong nước và nước ngoài coi là một tin tốt lành. Điếu Cày, với những hy sinh của ông suốt gần 10 năm qua, sẽ được đồng bào ở hải ngoại đón tiếp hân hoan và nhiệt thành.

Nhưng xen lẫn trong niềm vui, cũng có cả những chua xót.

Chính quyền luôn “thắng lớn”

Nỗi chua xót thứ nhất là, việc trả tự do cho Điếu Cày mà thực chất là trục xuất sang Mỹ “cho rảnh nợ”, chỉ một lần nữa cho thấy chính quyền Việt Nam sử dụng công dân mình, nhất là những người bất đồng chính kiến, như con bài để mặc cả, đổi chác như thế nào. Và điều đáng nói là giới đấu tranh dân chủ cả trong và ngoài nước đều đi đúng vào hướng mà chính quyền mong muốn: Tất cả đều sa vào những cuộc đấu tranh đòi “free Nguyễn Tiến Trung”, “free Lê Quốc Quân”, “free Điếu Cày”, v.v. tóm lại vận động trả tự do cho tù nhân lương tâm, mà xao lãng những vấn đề khác – những vấn đề thực sự là mấu chốt của cải cách chính trị, mà chính quyền luôn tìm cách lờ đi.

Đó là sửa đổi Hiến pháp, cải cách tư pháp để đảm bảo sự độc lập của tư pháp. Là sửa đổi Bộ luật Hình sự, sửa Luật Báo chí, Luật Đất đai, v.v. Là hủy bỏ tất cả những điều luật và quy định “xiết chặt quản lý” thay vì bảo vệ quyền tự do của người dân – như hàng loạt điều khoản vi phạm nhân quyền trong Bộ luật Hình sự và những nghị định, thông tư đầy rẫy vô lý, vi hiến…

Chính quyền đưa tù nhân lương tâm ra làm công cụ để đổi chác. Giới hoạt động dân chủ liền vận động quốc tế gây sức ép để buộc nhà nước Việt Nam phải trả tự do cho tù nhân lương tâm, mà chỉ riêng việc vận động cho một người thôi cũng đã làm hao tổn không biết bao nhiêu tâm trí, sức lực, nguồn lực. Có lẽ mỗi năm, mỗi tổ chức chỉ cần tiến hành 1-2 chiến dịch cũng đủ… hết sức, hết thời giờ, hết tiền. Mỗi cá nhân được thả lại được coi là một thắng lợi của cuộc đấu tranh, đủ làm giới đối kháng hoan hỉ, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Còn những vấn đề mấu chốt kia thì vẫn giữ nguyên trạng.

Biến công dân thành tù nhân lương tâm rồi đem ra mặc cả quả là có lợi: Vừa có cái để đổi chác với Mỹ và Tây phương, vừa gây hao tổn nguồn lực của giới đấu tranh dân chủ (nhất là cộng đồng người Việt ở hải ngoại), lại vừa phân tán, đánh lạc hướng sự tập trung của họ khỏi các vấn đề có tính chất tử huyệt của chế độ. Lợi nhiều như thế, chẳng tội gì nhà nước không duy trì việc bỏ tù “bọn phản động”. Suy cho cùng, nhà nước mới thực là bên thắng, mà thắng lớn.

Điều đau khổ là kể cả có biết vậy, giới hoạt động dân chủ và cộng đồng quốc tế cũng không thể không đấu tranh cho tự do của tù nhân lương tâm, vì ngoài ý nghĩa chính trị thì đây còn là chuyện nhân đạo. Và thế là, họ tiếp tục đi đúng hướng mà chính quyền Việt Nam mong muốn: Sa vào cuộc đấu tranh cho những cá nhân cụ thể mà quên mất cái lớn hơn.


Sự bế tắc của cuộc đấu tranh

Trong niềm vui đón mừng Điếu Cày được tự do, vẫn có những cái nhìn của blogger nói lên nỗi chua xót thứ hai.

Ông Lê Quốc Tuấn, thành viên phong trào Con Đường Việt Nam, viết: “Một tương lai đích thực cho người Việt Nam vẫn còn nằm ở phía trước, cho đến khi đại đa số người Việt hiểu được rằng dân chủ tự do và quyền con người quan trọng hơn cơm áo qua ngày của một loại đời sống cúi mặt nhẫn nhục chờ đợi như hiện nay để cùng đứng dậy, tìm đến nhau cho một câu trả lời chung. Và, nếu người Việt Nam còn tiếp tục chịu đựng, đến lúc các nước phương Tây sẽ thấy họ lẻ loi trong việc cứ đi đòi hỏi Hà Nội những điều mà ngay chính người dân không màng đến… Khi ấy, tôi tin rằng những người tù lương tâm sẽ không còn được thả nữa”.

Một thành viên khác của Con Đường Việt Nam, ông Hoàng Triết, cũng bình luận trên Facebook: “Dân chủ của Việt Nam không thể nào đến từ những người đấu tranh đơn độc trong nước. Càng không thể đến từ những nỗ lực giúp đỡ từ hải ngoại. Và càng không thể từ sự quan tâm của người nước ngoài.... Khi mà đại đa số người dân trong nước chẳng muốn làm gì cả”.

Câu hỏi đặt ra là: Tại sao ĐẠI ĐA SỐ người dân trong nước lại chẳng muốn làm gì cả?

Có phải vì các nhà đấu tranh chưa hiểu đúng, hoặc không thật hiểu người dân Việt Nam không?

Dân chủ, tự do, nhân quyền. Đó đều là các khái niệm đẹp đẽ, và đều trừu tượng. Một người dân thường điển hình, chẳng hạn, một công chức ở Hà Nội hoặc TP.HCM, khi nghe câu “dân chủ tự do và quyền con người quan trọng hơn cơm áo qua ngày của một loại đời sống cúi mặt nhẫn nhục”, chắc hẳn sẽ có suy nghĩ phản biện như thế này:

“Sao? Chúng tôi đâu có thấy chúng tôi mất tự do gì đâu? Chúng tôi có nhẫn nhục cúi mặt gì đâu. Chúng tôi đi làm hàng ngày, hôm nào có kha khá tiền thì đi nhậu, không có thì về nhà xem tivi, thỉnh thoảng đi hát karaoke, xem phim, du lịch quanh quanh. Chúng tôi vẫn đọc báo đều, vẫn có Internet để vào mạng, lên Facebook chém gió, vẫn có tivi mà xem các game show, nóng nực vẫn có cái máy điều hòa, lạnh vẫn có máy sưởi... Chúng tôi có thấy chúng tôi làm sao đâu mà các vị bảo chúng tôi là đang nhẫn nhục, phải đòi tự do?

Ông Điếu Cày đấu tranh gì gì đấy, thì đi tù, rồi được Mỹ nó bảo lãnh cho qua. Ừ, tốt, cũng mừng cho ông ấy. Nhưng mà cụ thể ông ấy đòi hỏi cái gì ấy nhỉ? Tự do à? Ủa, thì chúng ta vẫn tự do mà, có ai bị làm nô lệ như thời thuộc Pháp đâu? Ổng đòi tự do báo chí à? Ô hay, thì chúng ta vẫn lên mạng viết lách, lên Facebook chém gió ầm ầm kia kìa; vẫn mua báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Pháp luật Thành phố… ê hề ngoài sạp kìa, có thiếu gì đâu, mất gì đâu? Tóm lại là các vị đòi cái gì?”.

Tự do, dân chủ, nhân quyền là các khái niệm đẹp đẽ, nhưng cũng chính là cái bẫy chết người mà các học giả, các nhà đấu tranh trong nước và hải ngoại rất dễ rơi vào: Đa số người dân không hiểu chúng là cái gì, mà những nhà hoạt động thì lại đang đấu tranh cho những thứ rất “chung chung”, “mơ hồ” đó. Và đi đến tận cùng con đường tranh đấu, nhà hoạt động bị bỏ tù, trở thành tù nhân lương tâm, trong khi dân chúng đa số không hiểu vì sao họ phải quan tâm đến một cá nhân đã bị cầm tù vì một sự nghiệp không liên quan gì đến họ.

Hình ảnh xiềng xích, còng, dây thép gai... là biểu tượng của sự mất tự do, 
nhưng đang tỏ ra rất thiếu thuyết phục trong tuyên truyền, 
vì đa số người dân VN chỉ thấy nghĩa đen của vấn đề là họ không hề bị xích chân tay gì cả.
Nguồn ảnh: PJMedia

Giới hoạt động dân chủ tiếp tục đi vào hướng mà chính quyền Việt Nam mong muốn, nhưng ở đây thì lại ngược hoàn toàn với phần trên: Họ sa vào cuộc đấu tranh cho những điều có vẻ rất xa vời, trừu tượng, lý thuyết đối với dân chúng, mà quên mất những lợi ích cụ thể, rõ ràng trước mắt người dân, nôm na như quyền được dùng thực phẩm sạch, không phải uống rượu giả, bia giả chẳng hạn. 

Các quyền đất đai cũng là một lĩnh vực gần gũi, sát sườn với nông dân. Nhưng khẩu hiệu “đấu tranh vì quyền đất đai” vẫn là một khái niệm chung chung, trừu tượng, cần được cụ thể hóa hơn nữa, ví dụ trở thành mục tiêu “đền bù công bằng”. (Thế nào là đền bù công bằng, đền bù công bằng thì phải được thực hiện ra sao, lại cũng là những điều cần làm rõ).

Có lẽ, chỉ khi nào phong trào đối kháng ở Việt Nam tìm được cách đấu tranh vì những điều cực kỳ cụ thể, thì việc làm của họ mới trở nên dễ hiểu và dễ thuyết phục dân chúng.

--------

Chú thích: 

Tù nhân lương tâm là người bị tù hoặc bị hạn chế về mặt thể xác, vì niềm tin chính trị, tôn giáo hoặc các niềm tin khác thuộc lương tâm của họ, vì nguồn gốc thiểu số, vì giới tính, màu da, ngôn ngữ, nguồn gốc dân tộc hoặc xã hội, điều kiện kinh tế, tình trạng lúc sinh, khuynh hướng tình dục hoặc các điều kiện khác của họ, và là người không sử dụng bạo lực hay cổ súy bạo lực, hận thù” (định nghĩa của Amnesty International [tổ chức Ân xá Quốc tế]).

Nói một cách ngắn gọn, Ân xá Quốc tế coi tất cả những người bị tù chỉ vì đã thực thi một cách ôn hòa quyền tự do biểu đạt của họ là tù nhân lương tâm. Đây cũng là định nghĩa được sử dụng chung trên thế giới.


Bài liên quan: XHDS ở Việt Nam: đang nổi lên nhưng cần... gần dân hơn