Thursday, August 25, 2016

Bị ung thư khi làm việc ở Formosa

Người dân phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh hầu như không ai không biết đến câu chuyện thương tâm của “cặp vợ chồng làm cho Formosa, cả vợ cả chồng đều bị ung thư”.

Anh là Lê Văn Lâm (SN 1969) và chị là Nguyễn Thị Hương (SN 1970). Gia đình anh chị hiện sinh sống tại xóm Ngâm, tổ dân phố Thắng Lợi, phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, Hà Tĩnh. Anh bị ung thư vòm họng, còn chị bị ung thư vú. Có điều đáng chú ý là cả hai vợ chồng trước đây đều từng làm nhân viên bảo vệ, trông coi một số trong hàng trăm kho hóa chất của tập đoàn Formosa ở Hà Tĩnh. 

Anh Lâm kể, anh chị vốn là người phường Kỳ Phương, thị xã Kỳ Anh, sinh ra, lớn lên và thành gia thất đều ở đây. Cuộc sống của người dân nơi đây gắn chặt với biển, họ chỉ làm các nghề liên quan tới biển như đi khơi, lặn, làm muối, buôn bán hải sản. Bản thân anh cũng theo tàu đánh cá nhiều năm, hoặc làm công nhân xây dựng bên Lào… Cho tới năm 2012, Formosa bắt đầu triển khai dự án ở Việt Nam, thì hai vợ chồng cùng vào làm cho một nhà thầu của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. 

Chẳng ai biết chính xác tên của nhà thầu đó là gì; hai anh chị Lâm-Hương cũng chỉ biết đến họ với vài thông tin ít ỏi: Đó là MC5 - một công ty của Trung Quốc, chủ lao động làm việc trực tiếp với anh chị là một người đàn ông Trung Quốc tên Lưu Hán, tầm 35-36 tuổi. Công ty có phiên dịch tiếng Trung, tuy nhiên Lưu Hán cũng nói được tiếng Việt, hình như trước kia từng lấy vợ là người Việt Nam, sống ở Hà Nội, sau bị vợ bỏ. 

Và tất cả thông tin chỉ có thế. Hai anh chị làm nghề coi kho cho MC5. Công việc của hai vợ chồng là trực đêm, trông coi một số container hóa chất, bốn ống khói và hai ống thoát nước (?) của MC5 trong khuôn viên Formosa, từ 6h tối mỗi ngày đến 6h sáng hôm sau. Lương tháng của anh là 9 triệu đồng, của chị 6 triệu. Cả hai đều không ký hợp đồng lao động, và thậm chí không có giấy tờ nào để chứng minh rằng anh chị từng là nhân viên làm việc bên trong Formosa. Họ cũng có đóng 200.000 đồng Việt Nam cho MC5, khoản đó được gọi là “bảo hiểm lao động”, nhưng chỉ chi trả cho những người bị tai nạn (ngã, va chạm…) trong lúc làm việc. Giấy tờ về khoản tiền này, MC5 cũng cầm cả, anh chị không được giữ.

Khoảng tháng 6/2015, chị Hương thấy đau ngực, khó chịu trong người, đi khám thì phát hiện bị ung thư vú. Chị báo lại Lưu Hán. Ông này, theo lời kể của anh chị, chỉ “à thế à mấy câu rồi lờ đi”, coi như không có trách nhiệm. Chị nghỉ việc, ở nhà chữa bệnh. Được vài tháng thì anh cũng thấy ù tai, váng đầu … và bị chẩn đoán là mắc bệnh ung thư vòm họng. Tới đây thì MC5 xong phần công trình ở Việt Nam và “rút đi đâu không rõ”, anh tiếp tục làm cho Formosa tới tháng 5/2016 thì buộc phải nghỉ vì sức khỏe đã quá yếu.

Từ khi phát hiện bệnh đến nay, anh Lâm và chị Hương đều đã qua vài đợt hóa trị; chị phải cắt bỏ phần ngực bên trái. Hai vợ chồng nằm nhà cả ngày, mỗi tháng lại đến Bệnh viện Trung ương Huế 1-2 tuần để tái khám và điều trị. Nhiều đêm, anh chị mệt và đau không ngủ được, nhưng cái đau về thể xác còn không bằng nỗi đau và lo buồn cho tương lai của ba đứa con. Con gái học lớp 10 đã bỏ học để ở nhà chăm sóc cha mẹ, còn cậu con trai đang học đại học ở Vinh cũng định bỏ nhưng anh chị không chịu, cứ động viên con cố gắng nốt ba năm nữa.

Chi phí chữa bệnh cho mỗi người giờ đã lên tới cả trăm triệu, trong khi hai vợ chồng không còn nguồn thu nhập nào. Tất cả chỉ trông vào số tiền dành dụm được từ trước tới nay, và tiền giúp đỡ của những người hảo tâm. Hội liên hiệp phụ nữ phường Kỳ Phương có một lần quyên góp tiền của người dân địa phương, giúp đỡ anh chị được hơn 23 triệu đồng; nhưng “tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống”, đến giờ hai vợ chồng thực sự chỉ ngồi nhà, chờ đợi... Mỗi lần có khách đến, anh chị ra nói chuyện với vẻ mặt thẫn thờ, lo lắng, và cứ nói được vài câu là chị lại rân rấn nước mắt: “Con người ta còn được đi học, con mình thì bỏ học vì cha mẹ…”.

Nhà thầu “MC5” nào đó mà anh chị từng làm việc, giờ đã rút về nước hoặc chuyển đi đâu không rõ. Formosa Hà Tĩnh thì càng chẳng một lời hỏi thăm – có lẽ họ cũng không biết đến hai người lao động bị ung thư này. Hai vợ chồng đã làm việc gần bốn năm trời bên trong Formosa, tiếp xúc với nhiều hóa chất, thậm chí như anh Lâm khẳng định, với nhiều lần rò rỉ hóa chất, mà không có một thứ gì để tự bảo vệ mình: Không quần áo bảo hộ, không trang thiết bị bảo hộ, không hợp đồng lao động, không một khoản phụ cấp nào ngoài lương, không bác sĩ, không kiểm tra sức khỏe, khám chữa bệnh, không một chút thông tin cảnh báo hay hướng dẫn nào từ chủ lao động, và đương nhiên, không công đoàn.

Được hỏi, có nghĩ tới chuyện kiện Formosa để đòi bồi thường thiệt hại không, anh Lâm ngần ngừ: “Cũng khó, vì bảo hiểm lao động của họ chỉ chi cho những ai bị tai nạn, như là rớt, ngã hay va chạm gì đó thôi, còn chúng tôi bị bệnh”. Và, cũng không thể chứng minh căn bệnh ung thư của hai vợ chồng là do công việc coi kho hóa chất ở Formosa trực tiếp gây nên…

Đến giờ, có lẽ ai cũng đã thấy khoản tiền 500 triệu USD mà Formosa hứa bồi thường cho Việt Nam chẳng đủ bù đắp thiệt hại cho một thôn làm nghề biển ở Hà Tĩnh. Mà đấy là còn chưa kể tới thiệt hại của hàng chục nghìn dân địa phương không làm nghề biển, trong đó, có những người như vợ chồng anh Lâm - chị Hương này. Những người lao động không hợp đồng, không bảo hiểm, không thông tin… Ai bảo vệ quyền lợi cho họ? 


* * *

Bạn đọc trong và ngoài nước, có lòng hảo tâm muốn giúp đỡ anh Lê Văn Lâm và chị Nguyễn Thị Hương, xin gửi về địa chỉ: 

Anh Lê Văn Lâm, xóm Ngâm, Tổ dân phố Thắng Lợi, phường Kỳ Phương, Kỳ Anh, Hà Tĩnh. 

Hoặc về tài khoản của con trai anh chị là: Lê Công Tuấn, số tài khoản 711AC1006393, ngân hàng Viettin Bank.

Tuesday, August 9, 2016

Một câu hỏi dành cho những người ngoài phong trào dân chủ

Lâu nay, vẫn thường có một thể loại bài viết với tựa đề chung là “một câu hỏi dành cho phong trào dân chủ”, “câu hỏi lớn dành cho các nhà đấu tranh dân chủ”, “giải pháp nào cho công cuộc dân chủ hóa”… Tóm lại, đã từng có nhiều câu hỏi đặt ra cho những người hoạt động dân chủ, ví dụ: Làm thế nào để thu phục nhân tâm, thu hút quần chúng? Đã thực sự có kết quả và lan tỏa chưa? Đã có ảnh hưởng tới ai/cái gì chưa? v.v.

Các câu hỏi này thường chỉ được đặt ra cho các nhà dân chủ mà thôi, không đặt ra cho ai khác. Cứ như thể những người đấu tranh dân chủ ở Việt Nam đang là những chính khách chuyên nghiệp ở một xứ sở dân chủ, có thể đi lại, viết lách, vận động, thuyết phục và kêu gọi quần chúng công khai, thoải mái vậy.

Nay chỉ xin có một câu hỏi, duy nhất một câu thôi, dành cho những người ở ngoài phong trào dân chủ, tức là những người chưa có hoạt động nào để tạo ra hoặc thúc đẩy một sự thay đổi tích cực nào của môi trường chính trị trong nước.

Bây giờ, giả sử có hai xã hội:

- (1) Một xã hội giống hệt như Việt Nam từ năm 1986 trở về trước, tức là: Nhà nước thích làm gì thì làm, muốn ra luật gì thì ra, muốn bắt ai thì bắt, muốn tịch thu tài sản của ai thì tịch thu, muốn xử tử ai thì xử tử. Chẳng ai biết nguyên nhân, tình trạng và hậu quả các việc nhà nước làm, coi như “phải ai nấy chịu”, ai không may mà có việc dính tới “cửa quan” thì cứ tự xác định là chết thôi. Ngày đó, số lượng tử tù oan (như Hồ Duy Hải, Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh…) chật kín nhà tù, nhưng không có chuyện thân nhân vật vã kêu oan và cộng đồng ồn ào đòi xem xét lại tiến trình điều tra và bản án như thế này, ai chết thì chết. Và, tuyệt nhiên không có một cái đám gọi là “các nhà dân chủ” như bây giờ. Bạn cứ việc im lặng mà sinh ra, lớn lên, đóng thuế nuôi cái nhà nước mà bạn chẳng biết nó đang và sắp làm gì, và cố đừng để dính dáng với nó, nếu không, phần thiệt sẽ luôn thuộc về bạn; chẳng phải đầu cũng phải tai.

- (2) Một xã hội như bây giờ, tức là: Vẫn tồn tại cái nhà nước đó, và bạn vẫn phải đóng thuế cho nó. Nhưng lại có thêm một đám gọi là “bọn dân chủ”. Bọn này rất ồn ào, to mồm, và cứng đầu cứng cổ. Gần như bạ cái gì nhà nước làm, chúng cũng phê phán, chỉ trích, và gọi đấy là “phản biện”. Chính sách gì của nhà nước, chúng cũng vặn vẹo, rồi la ó phản đối, ném đá, đến nỗi đã có nhiều người mô tả bọn chúng là cái lũ chỉ biết “auto chửi”: Chúng chửi từ vụ “vòng ngực dưới 72cm không được đi xe máy”, tới “người đi xe máy phải cầm theo giấy tờ chính chủ”, đến “CMTND phải có tên cha mẹ”, tới chuyện xử oan những Hải, Chưởng, Mạnh, tới chuyện “thay thế” cây cổ thụ tán lá xum xuê bằng cây mỡ thanh thanh, rồi chuyện nhận 500 triệu USD và tiếp tục tạo điều kiện cho Formosa làm ăn ở Việt Nam, v.v. đủ thứ. Cậy có Internet và mạng xã hội nên chúng nó bắt đầu liên kết lại, chúng nó hùa nhau “tát nước theo mưa”, chửi hội đồng Đảng và Nhà nước. Chúng nó chẳng còn coi Đảng và Bác ra cái quái gì. Đời tư của chúng thì be bét, toàn một lũ dâm đãng, trai gái lăng nhăng. Đã thế, nghe đâu chúng còn nhận tiền nước ngoài để sống phè phỡn nữa.

Chú ý là, trong cả xã hội (1) và (2), quan chức của cái nhà nước kia đều hủ bại, dâm ô như nhau, ăn tiền trong nước và nước ngoài như nhau, nhưng bạn không được chửi. Ở xã hội (1), nếu bạn chửi thì bạn chết; còn ở xã hội (2), bạn có thể nghe “bọn dân chủ” chửi thay, có gì bọn nó chết.

Ở xã hội (2), bạn vẫn phải đóng thuế nuôi nhà nước, nhưng không phải đóng một xu thuế nào cho “bọn dân chủ”. Chưa bao giờ bạn phải đóng thuế cho “các nhà dân chủ” cả.

GIỮA HAI XÃ HỘI ĐÓ, BẠN CHỌN SỐNG Ở XÃ HỘI NÀO, (1) hay (2)?

Đoàn xe của Thủ tướng CP đi trong khu phố đi bộ ở Hội An, 
chiều tối 8/8/2016.
Ngoài "bọn dân chủ", không người dân thường nào 
có ý kiến gì với Thủ tướng về hành vi gây rối này.

Photo courtesy of Street Life.

Thursday, August 4, 2016

Quan chức EU sốc với phiên tòa xử Ba Sàm

Bà Lê Thị Minh Hà, vợ nhà báo độc lập Nguyễn Hữu Vinh (tức blogger Ba Sàm), vừa trao cho Phái đoàn Liên minh châu Âu (EU Delegation) tại Hà Nội một bức thư 6 trang, phân tích và cập nhật cho EU về phiên tòa sơ thẩm xét xử ông Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy, cũng như các diễn biến liên quan kể từ sau phiên tòa tới nay.

Đầu tiên là các sai phạm về tố tụng trong quá trình xét xử. Gia đình của cả ông Vinh lẫn cô Thúy đều đã gửi đơn “xin” vào dự phiên tòa xử thân nhân họ, lá đơn đầy đủ về mặt nội dung, hình thức cũng như kịp trong thời hạn quy định; song chẳng hề nhận được phản hồi nào từ tòa. Vào ngày xử (23/3), chỉ có bà Hà và bà Thuyên (mẹ cô Thúy) là “được” tòa cho vào dự. Tất cả những thân nhân khác, gồm cả anh chị em ruột, đều bị chặn ở ngoài.

Bên cạnh đó, các nhân chứng không được vào. Đơn từ của họ, gửi từ trước để đề nghị được vào dự phiên tòa, cũng không được đếm xỉa đến.

Ngoài ra, còn hàng trăm người dân bị chặn giữ ở cổng tòa. Một số trong đó, chẳng hạn TS. Nguyễn Quang A, luật gia Nguyễn Đình Hà – vốn là hai ứng cử viên đại biểu Quốc hội độc lập – bị công an bắt cóc trong nháy mắt khi họ đi lẻ, tách khỏi đám đông. Cả hai bị công an vu cho tội “gây rối trật tự công cộng”. Ba ứng viên ĐBQH khác là Nguyễn Kim Môn, Nguyễn Thúy Hạnh, Đặng Bích Phượng không bị bắt nhưng sau đó đều nhận được thư “mời” làm việc vì liên quan đến hành vi “gây rối trật tự công cộng”.

Lá thư của bà Hà cũng vạch rõ: Trung bình, Tòa án Nhân dân TP. Hà Nội xét xử 10 vụ một ngày. Tuy nhiên, hôm 23/3/2016, tất cả các phiên xử khác đều bị đình lại, Tòa chỉ tập trung vào vụ Ba Sàm. Sân tòa, phòng xử án dày đặc công an và sinh viên các trường đại học an ninh, cảnh sát.

Các luật sư bào chữa bị tòa cấm mang điện thoại di động và máy tính vào phòng xét xử. Tuy nhiên, cũng trong khi đó thì tòa lại cho phép người của Viện Kiểm sát cầm theo điện thoại di động, máy tính và sử dụng thoải mái. Cách đối xử đó không chỉ vi phạm trắng trợn nguyên tắc bình đẳng giữa các bên trong quá trình xét xử, mà thực sự còn gây khó khăn đáng kể cho các luật sư bảo vệ ông Vinh và cô Thúy, khi mà mọi tài liệu, hồ sơ của họ đều được lưu trong điện thoại và máy tính.

* * *

Chỉ có bốn quan chức quốc tế “được phép” vào bên trong và theo dõi phiên tòa qua màn hình tivi từ một phòng riêng. Trong phòng xử án, chỉ toàn là công an chìm, nổi, ngoài ra cũng thừa rất nhiều ghế trống. Thế nhưng trước đó, Bộ Công an Việt Nam đã từ chối gần như tất cả các quan sát viên quốc tế (đến từ các đại sứ quán), lấy lý do “không đủ chỗ ngồi”.

Đương nhiên, tòa không cung cấp dịch vụ phiên dịch cho bốn quan sát viên quốc tế. May mắn là họ đã có sự… tự chuẩn bị từ trước. Tuy thế, đường hình và đường tiếng của tivi rất không tốt, âm thanh liên tục bị ngắt quãng, nhất là vào những lúc luật sư và bị cáo trình bày. Mặc dù vậy, những gì được chứng kiến cũng đủ để các quan sát viên quốc tế nhận thấy, luật sư không có cơ hội được trình bày các luận điểm bào chữa; tòa thường xuyên từ chối tranh tụng và ngắt lời luật sư mà chẳng vì lý do gì.

Đặc biệt, các quan khách quốc tế cũng chú ý đến việc phiên tòa hoàn toàn không có nhân chứng và các công tố viên (đến từ Viện Kiểm sát) thì ngồi im lặng cả buổi.

Bà Lê Thị Minh Hà cho EU biết, sau phiên xét xử, trong vòng bốn tháng qua bà đã hai lần làm đơn xin thăm gặp chồng, nhưng trại giam không cho, chỉ nói là “đang xem xét” đơn của bà. Bà được biết ông Nguyễn Hữu Vinh có gửi về nhà 5 lá thư. Song cả 5 lá thư đều không tới tay gia đình.

Cả quan chức EU lẫn quan chức Đại sứ quán Mỹ đều cho rằng việc biệt giam ông Nguyễn Hữu Vinh và cô Nguyễn Thị Minh Thúy, tước bỏ mọi sự tiếp xúc của họ với bên ngoài, đã đủ cấu thành hành vi tra tấn.

Những thông tin về phiên tòa đã được Phái đoàn EU tại Việt Nam chuyển về Nghị viện châu Âu; cơ quan này vào ngày 8/6 vừa qua ra một nghị quyết về tình hình nhân quyền Việt Nam, trong đó họ “lên án việc kết tội và xử án nặng đối với các nhà báo và blogger như ông Nguyễn Hữu Vinh và cộng sự Nguyễn Thị Minh Thúy”.

Một trong vô số phiên tòa lịch sử, để đời của an ninh Việt Nam.
Ảnh: Thao Teresa.

Saturday, July 30, 2016

Bạo dạn xó bếp

Hễ mình nói lực lượng công an Việt Nam bạo dạn xó bếp, ăn hại, chỉ phá là giỏi, thì các anh chị em bên an ninh lại bức xúc.

Nhưng mà sự thật nó là như thế.

Sự cố ở các sân bay quốc tế Việt Nam chiều nay (29/7) chẳng phải là lần đầu tiên hacker Trung Quốc tấn công Việt Nam. Ngay trong đợt cao điểm căng thẳng giữa hai nước, hồi tàu Bình Minh II của Petro Vietnam bị tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp, tháng 6/2011, chiến tranh mạng đã diễn ra giữa hacker hai bên, mà chủ yếu là Tàu đánh Việt: Hàng trăm website của Việt Nam bị hacker Trung Quốc xâm nhập, đánh phá, kể cả trang web của Trung tâm biên phiên dịch thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam.

Từ bấy đến nay, và cả trước đấy, không biết tin tặc Trung Quốc đã tấn công Việt Nam bao nhiêu lần và gây bao nhiêu thiệt hại, tổn thất rồi.

Nói đâu xa: Là một tập đoàn lớn, chịu trách nhiệm về một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước là dầu khí, nhưng Petro Vietnam gần như luôn phải vận hành với tâm lý toàn bộ chiến lược, kế hoạch thăm dò khai thác, sản xuất kinh doanh của tập đoàn có thể rơi vào tay Trung Quốc bất cứ lúc nào.

Nhưng hễ ta hỏi các chiến sĩ trong lực lượng an ninh tinh nhuệ và anh hùng của Việt Nam – những người vẫn canh nhà ta, lôi cổ ta về đồn bất kỳ lúc nào, thẩm vấn ta với nụ cười bí hiểm kiểu “chúng tôi biết hết rồi”, đọc trộm email, chat và nghe trộm điện thoại của ta hàng giờ – là sao các anh các chị không lo đối phó với Trung Quốc đi, để tình báo Hoa Nam, tin tặc Trung Quốc hoạt động trên đất Việt Nam, trên mạng Việt Nam như chỗ không người thế này…

Thì câu trả lời bao giờ cũng sẽ là: “Chúng tôi ở đơn vị này nên không rõ. Có đơn vị khác lo việc ấy rồi”, hoặc “Lực lượng ta mỏng, điều kiện còn nhiều khó khăn”.

Mình biết mà. Cứ làm cái gì liên quan đến chống Trung Quốc (ví dụ: chống buôn lậu, chống nạn lao động nhập cư trái phép gây rối ở Việt Nam, chống tình báo Hoa Nam, chống tin tặc và các loại tặc khác v.v.) là an ninh Việt Nam “lực lượng mỏng”, “điều kiện cơ sở vật chất-kỹ thuật còn yếu kém”, “có bộ phận khác lo rồi” ngay.

Các anh chị ấy thực sự là chỉ giỏi đánh phá, quấy rối phản động thôi. (Thật ra mà nói thì đánh đám phản động ở Việt Nam dễ hơn, giải ngân cũng dễ hơn nhiều so với đương đầu, chống lại các đồng nghiệp và thầy học bên nước bạn).

Ấy gọi là bạo dạn xó bếp đấy.

Thursday, July 28, 2016

Nhân chuyện nhà báo Lê Bình bị tố ăn cắp

Nhân chuyện nhà báo Lê Bình (VTV) bị tố ăn cắp phóng sự của đồng nghiệp nước ngoài, mình mới vui vẻ kể cho các bạn nghe mấy câu chuyện này.

Trước hết phải nói là, thật ra, việc ăn cắp sản phẩm thuộc sở hữu trí tuệ – tức đạo văn, đạo nhạc, đạo hình ảnh, đạo ý tưởng… – là chuyện dễ xảy ra hơn nhiều so với ăn cắp những thứ mang tính vật chất, hữu hình như tiền, xe máy, quần áo, giày dép, v.v. Có lẽ bởi vì khi đạo các sản phẩm vô hình, thuộc sở hữu trí tuệ của người khác, người ta không thấy ngại hoặc sợ như khi lấy đồ đạc. Thậm chí người ta có thể xài bài vở, âm nhạc, ảnh… của người khác một cách rất tự nhiên mà không nghĩ là mình đang ăn cắp. Điều này đặc biệt đúng ở những nơi mà nền giáo dục, truyền thông, đạo đức và luật pháp đều chưa tạo được cho công dân ý thức tôn trọng sở hữu trí tuệ.

Nói vậy để đi đến ý tiếp theo là, ở Việt Nam, nạn ăn cắp sở hữu trí tuệ trong làng báo, làng văn nghệ sĩ, chắc cũng nhiều như móc túi, ăn cắp xe máy, trộm chó… trong phần còn lại của xã hội.

(Nói đến đây là phải sờ gáy ngay xem mình đã đạo văn đạo báo bao giờ chưa. Thời Internet, không thể giỡn mặt độc giả, khán giả được - cái này Lê Bình và các đại nhà báo cách mạng nên ghi nhớ).

Yên tâm rồi mới tiếp tục: Cá nhân mình đã không biết bao nhiêu lần là nạn nhân của các vụ đạo văn, đạo báo (đạo ý tưởng thì thôi, không tính) kể từ khi đi làm báo đến nay.

Chẳng hạn, năm 2001, chương trình Thời sự 19h của VTV đã “xơi” nguyên bản text của mình trong một phóng sự về vụ mấy cựu binh Mỹ trở lại Mỹ Lai.

Tới năm 2009, hồi mình làm ở VNN, một bài viết của mình về chuyện dịch một số ca khúc Liên Xô sang tiếng Việt (đăng nhân dịp 7/11) cũng “hân hạnh” được một nhà báo (nam) nổi tiếng luộc nguyên con gần một năm sau đó, chỉ sửa mỗi tên tác giả. Khi biết thì mọi sự đã rồi, mình cũng bận nên tặc lưỡi cho qua, chỉ hơi bực vì hình như bạn đọc ai cũng tưởng tác giả bài báo là nhà báo nổi tiếng kia.

Đầu tháng 2/2011, mình viết bài “‘Thời thanh niên sôi nổi’ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp”, đăng trên tờ Sinh Viên Việt Nam số Tết Tân Mão. Mùa thu năm 2013, ông Giáp mất, lúc ấy mình đang ở nước ngoài. Một tờ báo mạng nào đó (không nhớ tên) bèn cóp nguyên bài của mình về trang nhà và đổi tên mình thành “Sưu Tầm”. Mình “có ý kiến” trên facebook, liền bị phóng viên của tờ báo đó vào Diễn đàn Nhà báo trẻ mắng cho một trận, đại ý là “có giỏi thì liên hệ với cơ quan tôi mà kiện tụng, mà đòi bản quyền, chứ chúng tôi lại phải hỏi ý kiến bạn rồi mới được đăng bài bạn à?”.

Cũng chưa nản bằng lần khác, quãng đầu 2014, một tờ báo rất lớn đã lấy một bài dịch của mình về đấu pháp của quân đội miền Bắc Việt Nam trong chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975. Chuyện kỳ quặc ở đây là, chính phóng viên của báo yêu cầu tòa soạn phải để tên dịch giả (là mình), nhưng tòa soạn gạt đi vì tên mình quá phản động; sau đấy vì phóng viên cứ ý kiến ý cò mãi, tòa soạn… lấy luôn tên phóng viên đó đặt vào bài báo đó. Cho mày hết ý kiến nhá, hễ con Đoan Trang nó kiện thì mày giơ mặt ra mà chịu, ai bảo mày tự nhận là đồng nghiệp của nó.

Mình vừa bực vừa buồn cười, bèn nảy ra một ý là, kể từ đó, các bài viết của mình đều chỉ xoay quanh các chủ đề “nhạy cảm” như nhân quyền, dân chủ, công lý, Biển Đông. Đồng thời, bất cứ khi nào có thể, mình đều chửi chế độ thật lực, nhất là tấn công vào sự yếu kém về nghiệp vụ và tệ hại về nhân cách của lực lượng công an…

Thế là kể từ đó, các bài viết của mình không bao giờ bị báo lề phải đạo nữa.

Tuesday, July 19, 2016

Thông điệp bán nước

Đây là quang cảnh ở hai con phố trung tâm của Hà Nội, nhìn ra Bờ Hồ, sáng chủ nhật 17/7/2016.


Ảnh: Trịnh Minh Hiển

Bạn. Nếu bạn là một người hoàn toàn chưa biết gì về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông và quan hệ Việt-Trung (có thể là người Việt ở trong nước, người Việt xa xứ, hoặc một công dân nước ngoài), bạn sẽ nghĩ gì về thông điệp của Việt Nam đến thế giới, nếu:

- Trung Quốc bị Philippines, một nước Đông Nam Á, kiện ra Tòa án Quốc tế vì một loạt hành vi vi phạm luật quốc tế: ngang nhiên đòi chiếm 85-90% Biển Đông với một “đường lưỡi bò” không tọa độ, cho tàu thuyền vào đánh cá ở vùng biển của nước khác, đe dọa tàu bè nước khác, phá hoại môi trường biển, khai thác vô tội vạ cả những sinh vật quý hiếm, sắp tuyệt chủng. Trung Quốc bị Tòa xử thua, đường lưỡi bò bị tuyên vô giá trị.

- Một số người dân Việt Nam muốn đến Đại sứ quán Philippines để chúc mừng: An ninh Việt Nam đe dọa, ngăn cản, không cho tiếp cận.

- Một số người dân Việt Nam muốn đến Bờ Hồ – khu vực công cộng – để bày tỏ quan điểm ủng hộ phán quyết của Tòa án Quốc tế, kêu gọi sử dụng luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp: Công an phối hợp với những kẻ đeo băng đỏ (không biết là lực lượng nào và có chức năng gì) bắt sạch, hốt sạch, tống lên xe buýt đưa về các đồn khác nhau, trong khi họ thậm chí còn chưa kịp tụ tập.

- Các tờ báo đại diện cho công an tung ra những bài lăng mạ người biểu tình, kêu gọi dân chúng cảnh giác với những người đang có “âm mưu” ra Bờ Hồ để bày tỏ chính kiến ủng hộ Tòa án Quốc tế và luật pháp quốc tế.

- Quỹ Nghiên cứu Biển Đông – một tổ chức XHDS “không giấy phép”, thành lập năm 2008, tập hợp những chuyên gia, học giả trong nước và hải ngoại quyết tâm đấu tranh vì “công lý và hòa bình trên Biển Đông” – liên tục bị theo dõi, sách nhiễu, bị đối xử như một “ổ phản động, chống phá nhà nước”. Một trong các thành viên đầu tiên của nó, LS. Lê Công Định, ngồi tù 5 năm. Một thành viên khác của Quỹ, là người đang viết những dòng này, thì có thời kỳ gần như tuần nào, tháng nào cũng phải lên đồn để trả lời các câu hỏi của CA về nó.

- No-U, câu lạc bộ bóng đá “nói không với đường lưỡi bò”, liên tục bị đàn áp về thể chất, nhục mạ về tinh thần, suốt gần 5 năm kể từ khi thành lập (30/10/2011). Họ bị an ninh và dư luận viên căm ghét, coi như kẻ thù, bởi sân bóng No-U 5 năm qua đã trở thành điểm tập kết cho những người cùng chủ trương “xóa đường lưỡi bò, bảo vệ Tổ quốc”.

- Hai ngày trước khi Tòa ra phán quyết cuối cùng, vào tối 10/7/2016, một trong các thành viên tích cực nhất của No-U, anh Lã Việt Dũng, bị “côn đồ” đánh chảy máu đầu. “Tội” của anh có thể là trước đó, anh đã hô to “Hoàng Sa - Trường Sa - Việt Nam” khi cùng một số thành viên No-U ngồi uống bia sau trận bóng chiều chủ nhật hàng tuần.

- Và chỉ hai ngày sau khi Tòa ra phán quyết cuối cùng, vào ngày 14/7/2016, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam họp với người đồng nhiệm Trung Quốc để đề nghị “thời gian tới, Chính phủ hai nước cùng tăng cường chỉ đạo các cấp, các ngành triển khai hiệu quả nhận thức chung cấp cao và kết quả đạt được trong Phiên họp lần thứ 9 Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc; duy trì giao lưu, tiếp xúc cấp cao thường xuyên nhằm tăng cường hiểu biết và tin cậy chính trị, cùng nhau thúc đẩy các lĩnh vực hợp tác thực chất phát triển cân bằng, lành mạnh”.

BẠN NÓI ĐI, BẠN SẼ NGHĨ GÌ?

Monday, July 18, 2016

6 điểm cơ bản bạn cần biết về vụ kiện Biển Đông (kỳ 1)

Nhằm giúp bạn đọc tìm hiểu một cách nhanh nhất về vụ án Philippines kiện Trung Quốc ra tòa trọng tài quốc tế và được xử thắng, Luật Khoa Tạp chí xin giới thiệu bài viết sau đây, trong đó tác giả cố gắng tóm lược lại tiến trình vụ án, lập luận của hai bên và phán quyết của Tòa án Trọng tài Thường trực (PCA).

Phạm Đoan Trang

1. Tiến trình tố tụng

Vụ án bắt đầu vào ngày 22/1/2013 khi Philippines gửi Trung Quốc một Thông báo (Notification) và một Tuyên bố Yêu sách “về tranh chấp với Trung Quốc xung quanh quyền tài phán của Philippines ở biển Tây Philippines” (tức là Biển Đông trong tiếng Việt, biển Nam Trung Hoa theo cách gọi quốc tế. Trong bài này, người viết xin gọi chung là Biển Đông).

Sự kiện này xảy ra sau khi Trung Quốc giành quyền kiểm soát bãi đá cạn Scarborough – một rạn san hô nằm cách bờ biển Philippines khoảng 140 dặm (tương đương 225 km).

Trong Thông báo gửi Trung Quốc, Philippines cáo buộc Trung Quốc vi phạm luật quốc tế khi cho tàu thuyền vào đánh bắt cá, đe dọa tàu thuyền Philippines và không bảo vệ môi trường, cụ thể là hút cát và trầm tích dưới đáy biển lên để xây đảo nhân tạo trên một vài rạn san hô trong Biển Đông, trong đó có Scarborough mà Philippines khẳng định là nằm trong vùng biển của mình.

Philippines cũng yêu cầu tòa án quốc tế bác bỏ yêu sách chủ quyền của Trung Quốc, đòi toàn bộ vùng biển nằm bên trong một đường chín đoạn. Xuất hiện trên bản đồ chính thống của Trung Quốc, đường chín đoạn này có hình dạng như cái lưỡi bò, bao trùm khoảng 85-90% Biển Đông, tức là tương đương diện tích nước Mexico, và đây cũng là vùng biển có tính chất quan trọng sống còn đối với thương mại toàn cầu, đặc biệt rất giàu tài nguyên, khoáng sản, kể cả dầu mỏ.

2. Trung Quốc không chấp nhận, không tham gia tố tụng

Ngày 19/2/2013, Trung Quốc gửi cho Philippines một công hàm mô tả “lập trường của Trung Quốc về các vấn đề biển Nam Trung Hoa”, bác bỏ và trả lại Thông báo của Philippines. Theo đó, Trung Quốc không chấp nhận và cũng không tham gia tiến trình tố tụng.

Bắc Kinh đã nhiều lần nhắc lại lập trường này trong các công hàm, tuyên bố, thư từ của Đại sứ nước CHND Trung Hoa tại Hà Lan gửi các thành viên của Tòa án, cũng như trong văn bản có tên “Tham luận nêu lập trường của CHND Trung Hoa về vấn đề quyền tài phán trong vụ kiện liên quan đến biển Hoa Nam do CH Philippines khởi xướng”, đề ngày 7/12/2014.

Bắc Kinh quả thật đã hành động đúng như lập trường của họ: Không tham gia tố tụng. Đồng thời, họ nêu rõ rằng các tuyên bố, hồ sơ, tài liệu, văn bản nêu lập trường đều “không bao giờ được diễn giải thành sự tham gia của Trung Quốc vào tiến trình tố tụng dưới bất kỳ hình thức nào”.

Đội ngũ pháp lý của Philippines trong vụ kiện.
Ảnh: The Diplomat.

3. Trung Quốc: Là tranh chấp chủ quyền / Philippines vi phạm thỏa thuận

Trong “tham luận lập trường” đề ngày 7/12/2014, Bắc Kinh khẳng định: “Quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa trong tiếng Việt – NV) của Trung Quốc hoàn toàn có đủ tư cách để có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa”.

Bắc Kinh khẳng định Tòa án không có quyền tài phán trong vụ việc này. Tham luận viết, bản chất của vụ án là vấn đề chủ quyền đối với một số cấu trúc hàng hải trên biển Nam Trung Hoa, và như thế là nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (sau đây gọi tắt là “Công ước”), không liên quan đến việc diễn giải và vận dụng Công ước:

“Chỉ sau khi chủ quyền của một nhà nước đối với một cấu trúc hàng hải đã được xác lập, và nhà nước ấy đã có tuyên bố chủ quyền tương ứng, thì mới có thể có chuyện nảy sinh tranh chấp liên quan đến việc diễn giải hay vận dụng Công ước – đó là khi mà một nhà nước khác đặt câu hỏi về việc liệu các yêu sách kia có tuân thủ Công ước hay chưa, hoặc liệu yêu sách của các bên có đang chồng lấn. Nếu chủ quyền đối với một cấu trúc hàng hải còn chưa được xác quyết, thì không thể tồn tại tranh chấp cụ thể, thực sự để mà phải đưa ra trọng tài phân xử xem các yêu sách chủ quyền của nhà nước nọ đối với một cấu trúc hàng hải như vậy có phù hợp với Công ước hay không”.

Diễn giải đơn giản là: Nếu không biết những miếng đất/đá nào đó thuộc về ai, thì không thể dùng Công ước để tuyên bố chủ quyền với những vùng đặc quyền kinh tế và lãnh hải xung quanh những miếng đất/ đá ấy. Tòa cũng không có quyền xác định xem những miếng đất/đá đó thuộc về ai (bởi Công ước chỉ xử lý tranh chấp trên biển chứ không xử lý tranh chấp đất).

Trung Quốc cũng tố ngược lại Philippines là hành xử phi pháp khi kiện Trung Quốc ra trọng tài quốc tế, vì vào năm 1995, hai nước đã có thỏa thuận giải quyết tranh chấp “một cách ôn hòa và hữu nghị thông qua cơ chế tham vấn”. Năm 1999, 2000, 2001, hai nước tiếp tục có những tuyên bố chung khẳng định việc giải quyết tranh chấp một cách hòa bình, thông qua tham vấn và đàm phán. Tuyên bố chung về Ứng xử của Các Bên trên Biển Đông (DOC) ký năm 2002 giữa Trung Quốc và ASEAN cũng quy định như vậy.

4. PCA: Tranh chấp có liên quan đến diễn giải và vận dụng Công ước

Ngày 29/10/2015, Tòa án ra phán quyết về quyền tài phán và thụ lý, theo đó, Tòa thấy rằng:
  • Tòa được thành lập đúng, phù hợp với Phụ lục VII của Công ước;
  • Sự vắng mặt của Trung Quốc trong quá trình tố tụng không làm cho Tòa mất quyền tài phán;
  • Hành động khởi kiện của Philippines không vi phạm tiến trình tố tụng;
  • Không có bên thứ ba nào là “không thể thiếu được” đến mức sự vắng mặt của họ có thể làm Tòa mất quyền tài phán;
  • Căn cứ Điều 281, 282 của Công ước, thì Tuyên bố về Ứng xử của Các Bên trên Biển Đông (DOC), Hiệp định Hữu nghị và Hợp tác ở Đông Nam Á, Công ước về Đa dạng Sinh học, v.v. không ngăn cản việc phải có một thủ tục giải quyết tranh chấp bắt buộc;
  • v.v.
Điều đó nghĩa là, dù Trung Quốc vắng mặt, Tòa vẫn tiếp tục tiến trình tố tụng. Cơ sở luật pháp của việc này là, Điều 9, Phụ lục VII của Công ước quy định: “Sự vắng mặt của một bên, hoặc việc một bên không tự bảo vệ mình trong vụ án, đều không cấu thành sự cản trở tiến trình tố tụng”.

Cũng theo Công ước, một tòa án được xác lập theo Phụ lục VII thì có quyền tài phán – nôm na là có thẩm quyền – để xét xử tranh chấp giữa các nhà nước tham gia Công ước nếu như tranh chấp đó có liên quan đến việc “diễn giải hoặc vận dụng” Công ước.

Kết luận là Tòa có quyền tài phán.

Theo đúng quy định trong Điều 5 Phụ lục VII về nghĩa vụ của tòa, “đảm bảo bên nào cũng có cơ hội đầy đủ để được lắng nghe và trình bày vụ việc”, Tòa án đã cập nhật cho Trung Quốc về tất cả các diễn biến, nêu rõ rằng tiến trình tố tụng luôn để ngỏ để Trung Quốc có thể tham gia bất kỳ lúc nào, và mời Trung Quốc bình luận về bất cứ điều gì được đưa ra trong tiến trình.

(Còn tiếp)

--------

Tài liệu tham khảo: