Monday, March 2, 2015

Vụ Trang Trần: Có một con voi trong phòng…

Trong tiếng Anh, có thành ngữ “elephant in the room”, hoặc “elephant in the living room”, dịch sát nghĩa là “có một con voi trong phòng (khách)”. Thành ngữ này chỉ một sự thật hiển nhiên, rõ ràng, mọi người đều biết, nhưng ai nấy đều lờ đi, không đả động đến vì ngại, vì sợ hoặc vì kiêng kỵ gì đó.

Để minh họa, có thể lấy ví dụ là vụ người mẫu Trang Trần bị CA phường Hàng Buồm bắt khẩn cấp và khởi tố về tội chống người thi hành công vụ. Ngay sau khi clip “Trang Trần chửi công an” bị tung lên mạng và nhân vật chính bị bắt giữ, cộng đồng mạng Việt Nam nổi sóng tranh cãi. Người phê phán Trang Trần vô văn hóa; kẻ khen cô trung thực, sống thật với lòng mình. Người phân tích luật pháp để thấy bắt Trang Trần là đúng (hoặc sai), kẻ lại chỉ trích “bọn dân chủ” cơ hội, tranh thủ vụ Trang Trần để xả cái sự căm ghét công an và cảm giác hả hê khi công an bị chửi tận mặt, v.v.

Nhưng đa số đều vô tình hoặc chủ ý khéo léo lờ đi một “con voi trong phòng khách”. Con voi ấy là gì vậy? Xin đăng tải dưới đây một số ít ý kiến đề cập đến nó.

1. Luật gia Trịnh Hữu Long:

Mọi người đều đồng ý với nhau rằng mọi quyền tự do đều cần có giới hạn. Lý do của việc đặt ra giới hạn là để đảm bảo quyền tự do của người khác và lợi ích chung của xã hội. Mỗi người cần bớt một chút tự do của mình để góp vào cái tự do chung của xã hội. Vấn đề là cái giới hạn ấy nằm ở đâu, và cái "một chút tự do" ấy là bao nhiêu. Đến đây thì bắt đầu cãi nhau không có hồi kết. Định lượng là một công việc không đơn giản, nhất là trong những xã hội đông dân và đa dạng về thành phần.

Vụ việc của Trang Trần, tuy nhỏ, và yếu tố duy nhất khiến nó ồn ào là cái danh hiệu siêu mẫu của cô, lại thể hiện đầy đủ những đặc trưng văn hóa pháp lý Việt Nam. Luật Việt Nam đã đúng khi quy định về hành vi chống người thi hành công vụ, cũng đúng khi quy định cả hai mức trừng phạt nặng nhẹ khác nhau là hành chính và hình sự. Nhưng vấn đề ở đây là “như thế nào là chống người thi hành công vụ” và ranh giới giữa mức hành chính và hình sự nằm ở đâu? Xác định được hai điều này cũng có nghĩa là xác định được ranh giới tự do của con người.

Các xã hội thiết lập những cơ chế riêng để đi tìm cái ranh giới đó. Cơ chế của hệ thống án lệ (Anh, Mỹ, Úc) thì thiên về việc trao cho các thẩm phán quyền giải thích Hiến pháp và thiết lập các giới hạn. Cơ chế của hệ thống dân luật (Pháp, Đức, Nhật) thì thiên về sử dụng các văn bản pháp luật do lập pháp và hành pháp đặt ra. Hai hệ thống này tỏ ra vượt trội và trên thực tế nó đã tạo ra các xã hội thịnh vượng nhất trên hành tinh.

Điều tiên quyết để hai hệ thống trên vận hành được là cấu trúc nhà nước tam quyền phân lập và dựa trên nền tảng chính trị dân chủ. Hai yếu tố này giúp cho các cơ quan nhà nước được đặt trong tình trạng bị kiểm soát liên tục và buộc phải lựa chọn những giải pháp tốt nhất có thể, đồng nghĩa với việc họ sẽ tìm mọi cách để xác định đúng cái giới hạn tự do của con người. Dù có thể các mô hình đó còn khiếm khuyết và chưa tìm được cái cần tìm, cỗ máy đó vẫn vận hành và ngày càng tiến gần đến cái giới hạn hợp lý hơn.

Còn ở những xã hội chỉ có một đảng cầm quyền như Việt Nam, về cơ bản là không có cỗ máy đó, nỗ lực tìm kiếm cái giới hạn hợp lý là vô vọng. Hệ thống pháp luật và nhà nước Việt Nam có cái vỏ của hệ thống dân luật Pháp, nhưng thiếu hẳn hai yếu tố tam quyền phân lập và nền tảng chính trị dân chủ. Bản thân Việt Nam cũng không nhận mình thuộc về hệ thống dân luật Pháp, mà tự gọi là mô hình nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa.

Mô hình này trao quyền quyết định cho Đảng cộng sản Việt Nam, với quyền năng tuyệt đối và không bị ai giám sát. Với địa vị đó, cái ranh giới tự do của con người luôn bị đẩy về phía người dân và mở rộng tối đa không gian tự do của đảng cầm quyền. Vì thế, trong cách hành xử với Trang Trần, chính quyền đương nhiên lựa chọn cách giải thích pháp luật và xác định giới hạn tự do có lợi nhất cho họ.

Vậy nên nói gì thì nói, câu chuyện cuối cùng vẫn quay về với cái vòng kim cô chính trị mà Việt Nam đang đeo trên đầu. Có cố tình lảng tránh đến đâu, viện dẫn kiến thức bác học nào và biện minh bằng tinh thần bác ái cao đến đâu đi chăng nữa, câu trả lời cuối cùng chỉ có một. Loại bỏ Đảng ra khỏi các tranh luận pháp luật chỉ thể hiện hoặc là đánh giá không đúng mức vai trò của Đảng trong đời sống pháp luật, hoặc là cố tình lảng tránh. Tôi không hứng thú với những tranh cãi lặt vặt về luật thực định lắm, vì đó không phải cái cần nói.

2. Luật sư Vi Katerina Trần:

… Quyền diễn giải pháp luật ở Việt Nam thật ra là thẩm quyền của ai? Việt Nam là nhà nước xã hội chủ nghĩa, cho nên có thể thấy cả hai hệ thống pháp luật trên thế giới, án lệnh và dân luật đều không thể là cơ sở để trả lời vấn đề này.

Tôi không lên tiếng biện minh cho hành vi của cô Trang Trần. Tuy nhiên, hệ thống tư pháp ở Việt Nam bị xem thường quá mức và người dân không thể có một phán xét công bằng khi cơ quan hành pháp (đại diện là công an) nắm cả quyền diễn giải pháp luật và trước khi có phán xét của tòa án, dư luận đều dựa vào các tuyên bố của công an để định tội sẵn. Như thế, vấn nạn án tại hồ sơ không chỉ là sự thiếu trách nhiệm và vô năng của hệ thống tư pháp hay sự lạm quyền và tiếm quyền của cơ quan hành pháp mà còn là trách nhiệm của bất kỳ ai chấp nhận lối hành xử xem thường pháp luật. Tôi cho rằng hành vi xem thường pháp luật được thể hiện rất rõ khi một xã hội không coi trọng vai trò của ngành tư pháp, nơi đại diện cho pháp luật. Không phải ngẫu nhiên mà quyền thẩm định và diễn giải luật pháp tối thượng ở Hoa Kỳ được nằm trong tay Tòa Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.

Trở lại việc (…) ở Mỹ, cảnh sát có thể bắt một người say rượu và có hành vi chống người thi hành công vụ. Điều đó không sai. Tuy nhiên, khi cảnh sát bắt người, có những chuẩn mực pháp lý mà người thi hành công vụ phải tuân theo hay không? Đương nhiên là có. Nếu người thi hành công vụ lạm quyền thì họ có bị pháp luật chế tài hay không? Cũng đương nhiên là có. Và người bị cảnh sát cáo buộc say rượu và có hành vi chống người thi hành công vụ có cơ hội phản biện hay không? Chắc chắn có. Đó là bởi vì đến cuối cùng, tòa án mới là nơi quyết định ai có tội ai không. Đơn cử ví dụ ở Mỹ, là hồ sơ của của Rodney King, một người đã bị cảnh sát Los Angeles bắt vì vi phạm luật giao thông và bị nghi ngờ có sử dụng chất kích thích khi lái xe. Vì có 4 viên cảnh sát đã lạm quyền và sử dụng vũ lực, chính những người cảnh sát này cũng phải đối diện pháp luật vì những hành vi của họ.

Một người được cho là vô tội cho đến khi tòa án phán quyết có tội. Cô Trang Trần chỉ bị công an bắt, KHÔNG AI CÓ QUYỀN định tội lúc này vì đó là nguyên tắc suy đoán vô tội. Một người khẳng định người khác có tội trước khi tòa tuyên án, thì với tôi, đó là sản phẩm của chế độ công an trị!

Sau cùng, quyền con người hay nhân quyền, mọi người ai cũng có. Tôi tuy không bênh vực cô Trang Trần, nhưng tôi không thấy lý do gì để quyền con người của cô ấy, nếu bị vi phạm, thì không đáng cho tôi lên tiếng nếu tôi cảm thấy đó là việc nên làm.

Việc "xử làm gương" trong trường hợp này cũng có thể được hiểu là "đánh dằn mặt".

3. Đoan Trang:           

Rất mong các bạn, khi kêu gọi "thượng tôn pháp luật", cũng nên chú ý tới hai vấn đề: 1. Luật nào, do ai đặt ra, bản chất của nó như thế nào? 2. Ai là người giữ quyền diễn giải luật pháp ở Việt Nam?

Cái mà tôi muốn nói ở đây là sự bất cập trong việc thực thi công lý ở Việt Nam. Ví dụ, như thế nào là “chống người thi hành công vụ”, và ai là người định nghĩa/ diễn giải việc đó? (Trong lịch sử tư pháp Việt Nam, tôi biết có trường hợp bị một toán công an xã đánh hội đồng, nạn nhân tự vệ bằng cách xô công an ra để chạy, và cuối cùng vẫn bị bắt ngay tại chỗ, tống đi tù (không án) vì tội “chống người thi hành công vụ”).

Trang Trần chửi và đánh công an thì các báo đều đưa tin, nhưng không thấy báo nào nói về bộ mặt tím một nửa bên của Trang Trần, chẳng biết là do công an đánh hay có nguyên nhân gì khác. (Tôi cũng đoán trước rằng nếu có thì thể nào câu trả lời cũng sẽ là “Trang Trần say rượu và trong lúc cự cãi với công an thì ngã đập mặt vào bàn/ ghế/ v.v.”).

Vấn đề ở đây là, có ai nhận thấy rằng Trang Trần đang hoàn toàn ở thế yếu và không thể tự vệ? Ngay từ đầu, tất cả thông tin đều do công an đưa ra. Việc diễn giải hành vi của Trang Trần cũng là công an toàn quyền quyết định. Đấy là chưa nói đến việc căn cứ Bộ luật Tố tụng Hình sự, công an phường Hàng Buồm không thể “bắt khẩn cấp” Trang Trần được. Ai đảm bảo công an đang không lạm quyền trong vụ Trang Trần và tất cả các vụ tương tự?

Chúng ta có thể chỉ trích Trang Trần xả láng và ngoa ngoắt bao nhiêu cũng được, nhất là khi giờ này cô ấy đang ở trong tay công an, đang bị giam và không thể có cơ hội lên tiếng. Nhưng sao không ai đặt vấn đề về các sai phạm (có thể có) của công an: Còng tay, đánh người khi người đó đang say và về thể lực, thế lực thì người đó yếu hơn hẳn công an; bắt khẩn cấp là hành động bắt giữ tùy tiện và sai luật (Bộ luật Tố tụng Hình sự của chính Việt Nam); từ chối quyền tiếp cận luật sư của Trang Trần; khống chế và có biểu hiện ép cung để buộc Trang Trần phải viết giấy, quay video nhận lỗi; làm nhục công dân khi quay và tung video nhận lỗi của Trang Trần lên mạng...

Có ý kiến cho rằng những thành phần như “bọn dân chủ” mà dính vào vụ này thì càng làm khổ Trang Trần hơn, bởi vì không dưng lại đẩy vụ án thành “án điểm”, xử làm gương. Nói như vậy chẳng hóa ra tòa án xử theo dư luận? Thấy dư luận như thế thì càng phải xử nặng cho dư luận sáng mắt, cho chừa… – tòa án hay là trẻ nít lên ba vậy?

(Ồ mà nếu xử theo dư luận thật, thì sao tòa không “xử làm gương” luôn thủ phạm trong hàng chục vụ dân thường tử vong ở đồn công an?)

Lại có người “khuyên” rằng nếu đấu tranh cho nhân quyền thì nên chọn trường hợp khác mà bảo vệ, chứ đừng phí công cho Trang Trần vì cô ta sai. Điều đó cũng hệt như khi có các ý kiến khuyên mọi người đừng hơi đâu bảo vệ ông Kim Quốc Hoa và báo Người Cao Tuổi, vì “bên ấy làm báo kém nghiệp vụ lắm, sơ hở lắm, làm báo kiểu ấy không sai mới lạ”, v.v. Nói vậy thì hỏi đến bao giờ trong số các nạn nhân của tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam mới có người xứng đáng để chúng ta lên tiếng bảo vệ đây?

Lời kết

Đến đây, hẳn chúng ta đều đã xác định được “con voi trong phòng khách” kia là gì. Nói về luật pháp và nền hành pháp, tư pháp của một đất nước, không thể nào không đề cập tới chính trị, nhất là trong hoàn cảnh Việt Nam, khi “tà trị” (chứ không phải “chính trị”) đang chi phối mọi mặt của đời sống và kìm giữ sự phát triển của con người. Nói đến luật pháp, đến cái gọi là “nhà nước pháp quyền” ở Việt Nam mà lại không nói đến vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản thì khác nào tảng lờ một  “con voi trong phòng khách”.

Hành pháp lộng hành, tùy tiện, thì được bao nhiêu người bênh vực, thương cảm, đòi “xử nghiêm công dân để “làm gương, răn đe”. Trong khi đó, tư pháp ngồi đuổi ruồi và làm cảnh bao lâu thì không thấy mấy ai quan tâm. Điều đó, không gì khác, cũng là một biểu hiện của xã hội công an trị.

Wednesday, February 18, 2015

Lời tự thú trước đêm giao thừa

Thật chẳng vui vẻ gì khi phải viết những dòng này, vào lúc này.

Trong khoảng nửa năm nay, kể từ mùa hè 2014 khi còn đang ở Mỹ, tôi đã thường xuyên nhận được từ nhiều trang Facebook nặc danh những tin nhắn đe dọa với một nội dung chung: Sẽ đưa các clip và hình ảnh nude, sex của tôi – Phạm Đoan Trang – lên mạng Internet, nếu tôi tiếp tục các hoạt động mà họ gọi là “chống phá”.

Tôi im lặng không trả lời một tin nhắn nào, vì tôi biết tác giả của chúng chỉ có thể là ai hoặc làm việc cho ai, và tôi… không biết phải nói gì.

Đó là một câu chuyện buồn, đã xảy ra từ gần 6 năm về trước, trong một vụ việc mà tôi tự gọi là “vụ bê bối 2009” của tôi với cơ quan an ninh điều tra của Việt Nam.

Hẳn nhiều người còn nhớ, vào cuối mùa hè năm 2009, có ba blogger bị bắt tạm giam 9 ngày ở một trong những vụ bắt nổi tiếng của năm (nối sau vụ bắt doanh nhân Trần Huỳnh Duy Thức và luật sư Lê Công Định). Ba blogger ấy là Mẹ Nấm, Người Buôn Gió, và tôi – khi đó còn là phóng viên của chuyên trang Tuần Việt Nam thuộc báo điện tử VietNamNet.

Cả ba blogger bị bắt vì bị cho là có dính líu đến một “âm mưu” in áo phông chống dự án khai thác bauxite Tây Nguyên.

Trong ba blogger, có lẽ tôi là người “oan” nhất, theo nghĩa tôi không hề tham gia in áo, chưa từng trông thấy áo, cũng như không một lần được hỏi ý kiến về vụ áo xống đó. Sau này, thỉnh thoảng tôi vẫn nhớ lại câu chuyện ấy, với một ý nghĩ buồn trong đầu: “Áo em chưa mặc một lần…”.

Cũng về sau này, trong ba blogger, có lẽ tôi là người ít nói về câu chuyện năm ấy nhất, không phải vì sợ an ninh, sợ bị trả thù, hay sợ bất kỳ điều gì khác, mà vì hai lý do chính:

Lý do thứ nhất, tôi xấu hổ. Xấu hổ vì mình bị bắt một cách lãng xẹt, và hồi ấy, tôi ngu ngơ lắm, đần độn lắm, tôi đâu biết gì về chính trị, luật pháp, nhân quyền, v.v. Tôi đã là một người hoàn toàn ngây thơ và nhút nhát. Tôi đã khóc mếu, đã van lạy, xin khai báo thành khẩn – những việc mà không bao giờ tôi nghĩ mình có thể làm trong đời nếu mình vô tội. Nhưng than ôi, làm sao một đứa con gái nhà lành, chưa từng có chuyện dính dáng đến pháp luật và cơ quan công quyền, sống một thời tuổi trẻ và tuổi thơ tràn đầy thi ca nhạc họa, lại có thể có đủ bản lĩnh để đương đầu với những kẻ được đào tạo để thị uy, trấn áp người khác?

Mà cũng chính vì thế, tôi thấy xấu hổ thay cho cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an: Làm sao mà họ có thể biến chuyện in mấy cái áo phông thành một âm mưu xâm hại an ninh quốc gia được? Làm sao mà họ có thể thấy tự hào, hãnh diện vì đã cả phá thành công một “chuyên án” như thế? Nói cách khác, người bị bắt đã lố bịch, kẻ đi bắt người còn lố bịch hơn.

Lý do thứ hai, tôi đã trải qua những giờ phút rất đau khổ. Và đó là lý do còn ám ảnh tôi mãi mãi về sau này, cho đến tận bây giờ.

Họ – cơ quan an ninh điều tra của Bộ Công an – đã thu giữ máy tính của tôi trái phép, trong lúc tôi đang bị giam ở B14.

Họ đã xâm nhập máy tính của tôi – đương nhiên là trái phép – và tệ hơn thế nữa, phục hồi lại toàn bộ một số bức ảnh riêng tư mà tôi hoặc đã xóa đi, hoặc đang lưu trong một folder bí mật nào đó mà chính tôi cũng không ý thức nhớ (vì có bao giờ tôi từng nghĩ đến chuyện mình có thể bị bắt, máy tính có thể rơi vào tay an ninh).

Đó là những bức ảnh ghi lại cảnh quan hệ của tôi – vào cái thời mà tôi cho là mình lãng mạn nhất và cũng ngây thơ nhất. Thời mà tôi quan niệm “yêu là phải hết mình”. Thời mà tôi như sống trong một thế giới đầy những hình ảnh đẹp đẽ, những giai điệu huyền ảo: làm báo, yêu anh, và nghe guitar cổ điển, nghe nhạc Beatles. Tôi đi đâu, trong đầu cũng rực sáng những hình ảnh ấy: bóng nụ cười của anh, ánh mắt của anh, đôi môi, bàn tay…

Tôi đã nghĩ về tình yêu (và tình dục) như cái gì đó thật sự thiêng liêng, rất đỗi thiêng liêng.

Và vì thế, tôi đã đau khổ đến mức nào khi những điều thiêng liêng ấy bị làm cho vấy bẩn, khi sự riêng tư của mình bị xâm phạm, chà đạp. Tôi không bao giờ quên cảm giác chua xót khi hàng chục cặp mắt an ninh cùng soi vào những bức ảnh đó. Tôi không bao giờ quên được ý nghĩ đau đớn lướt qua đầu mình khi đó: Phải rồi, tôi đã có vài mối tình, và đã chụp ảnh ghi lại một số khoảnh khắc nhạy cảm. Nhưng tôi làm thế chỉ vì tình cảm – đối với người mình yêu, và với chính cơ thể mình, tuổi xuân của mình. Tôi làm thế không phải để cho cả một tiểu đội an ninh xem, rồi đem ra bình phẩm và răn dạy rằng phàm là trí thức, là người có đạo đức, thì phải thế này, thế kia…

Tôi đã im lặng, cố gắng để câu chuyện buồn thảm của năm 2009 ấy trôi vào quá khứ vĩnh viễn. Nhưng ký ức của tôi không ngủ được, cứ lâu lâu nó lại bị đánh thức bởi những tin nhắn đe dọa nặc danh, những lời lẽ của dư luận viên bóng gió trên mạng. Tôi hiểu rằng, không sớm thì muộn, những bức ảnh ấy cũng sẽ bị tung ra, chúng có thể bị rò rỉ trên một trang mạng “chống phản động” nào đấy, và/hoặc sẽ được gửi đến những người mà tôi không muốn họ biết đến chúng nhất. Tệ hơn nữa, chúng có thể được xử lý, được chỉnh sửa, được công bố kèm những thông tin thêm thắt, nhào nặn và bịa đặt khác (giống như cách mà dư luận viên lâu nay vẫn làm đối với người đấu tranh dân chủ) để cố tình tạo ra những câu chuyện kinh khủng về tôi.

Tôi không muốn thanh minh gì, ngoài một điều duy nhất: Tôi đã làm thế chỉ vì tình cảm đối với người mình yêu và với chính cơ thể mình, tuổi xuân của mình.

Và bây giờ, tôi buộc lòng phải viết những dòng này, trong một đêm cuối năm mà lẽ ra tôi phải thấy rất vui, vì tôi đang được ăn Tết ở Việt Nam, sau hơn hai năm xa nước.

Tôi thích thú gì khi phải tung lên mạng những chuyện hết sức riêng tư, mà lại là vào đêm trước giao thừa?

Tôi thích thú gì khi phải tố cáo những chuyện liên quan đến một cơ quan công quyền thật sự rất lớn và rất oai, là cơ quan an ninh điều tra Bộ Công an Việt Nam?

Tôi thích thú gì khi phải nói rằng an ninh Việt Nam đã “mẫn cán” đến mức thọc mũi vào đời tư của một phụ nữ và ra sức huấn thị, dạy đạo đức cho người phụ nữ (độc thân) ấy?

Nhưng, dù chua xót đến mấy, tôi cũng đành phải viết lời “tự thú” cuối năm này, bởi vì biết đâu, một ngày nào đó những bức ảnh riêng tư của tôi sẽ được bôi đen bôi đỏ, khoanh tròn, v.v. trên mạng?

Tôi muốn có lời xin lỗi trước đến những người sẽ bị ảnh hưởng vì sự cố đó, nếu nó xảy ra. Tôi muốn nói rằng, tôi đã không thể tự vệ được, cũng như đang không thể chịu trách nhiệm về những bức ảnh riêng tư của mình một khi nó đã được lưu đầy đủ trong hồ sơ của cơ quan an ninh.

Tôi cũng muốn cầu nguyện một điều trước phút giao thừa – dù tôi không phải người có đạo – rằng ước sao những câu chuyện đau lòng tương tự do an ninh Việt Nam gây ra sẽ không bao giờ xảy ra với bất kỳ ai trên đất nước này nữa. Ước sao lực lượng an ninh Việt Nam cũng biết bảo vệ, tôn trọng nhân quyền, trong đó có quyền riêng tư của công dân, như họ đã và đang tích cực bảo vệ chế độ.

Hà Nội, 11h đêm 17/2/2015 (29 Tết)

Friday, February 13, 2015

Bộ 4T “đánh” báo Người Cao Tuổi: Khi hành pháp làm càn

  • Phạm Đoan Trang - Nguyễn Anh Tuấn - Trịnh Hữu Long

Tóm tắt vụ “Bộ 4T vs. báo Người Cao Tuổi”

Thứ hai, ngày 9/2/2015, Bộ Thông tin Truyền thông (sau đây gọi tắt là Bộ 4T) tổ chức họp báo đấu tố báo Người Cao Tuổi, tiến hành xử phạt hành chính, thu hồi giấy phép của phiên bản điện tử của báo, thu hồi thẻ nhà báo của Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa, đề nghị cách chức ông Hoa, và chuyển hồ sơ vụ việc sang Cơ quan An ninh Điều tra Bộ Công an.

Sau đó, thứ ba, 10/2, theo một nguồn tin riêng, Ban Tuyên giáo đã chỉ thị cho các báo không được đưa tin “ngược chiều” về vụ việc của báo Người Cao Tuổi. Và có lẽ đó là lý do khiến các bài báo ủng hộ Người Cao Tuổi nói chung và ông Kim Quốc Hoa nói riêng không còn trên báo chí chính thống. Ngay cả các bình luận (comment) của độc giả bày tỏ sự ủng hộ đối với ông Kim Quốc Hoa cũng biến mất dưới mỗi bài báo được đăng tải.

Chỉ đạo báo chí xong, từ thứ tư, 11/2, cơ quan chức năng bắt đầu xử lý Người Cao Tuổi. Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa phải làm việc với công an, cùng lúc đó, hai tờ báo của Bộ 4T là VietNamNet và Info.net tích cực đăng hàng loạt bài viết ủng hộ Bộ nhà: “Việc thanh tra báo Người Cao Tuổi là đúng quy định”, “Tướng quân đội nói về xử lý sai phạm báo Người Cao Tuổi”, “Làm báo như Người Cao Tuổi không sai mới lạ”, “Người Cao Tuổi sai phạm, chủ quản ở đâu”… Chắc rằng chuỗi bài này chưa dừng lại, khi mà Bộ 4T tuyên bố “sẽ cứng rắn hơn nếu báo Người Cao Tuổi gây phức tạp tình hình”.

Một mặt không cho báo chí đưa tin “ngược chiều” với mình, mặt khác vẫn chỉ trích và kết tội một tờ báo nhỏ, giới chức quản lý ở Việt Nam đã thể hiện một thái độ rất không đẹp. Tuy nhiên, chưa bàn tới lối hành xử đó, thì cung cách phát ngôn của Bộ 4T cũng đã cho thấy nhiều bất cập trong tư duy và năng lực của một đội ngũ được nắm quyền quản lý giới truyền thông.

Nhà báo Kim Quốc Hoa, Tổng Biên tập báo Người Cao Tuổi. 
Nguồn ảnh: báo Pháp luật (tháng 4/2014)

Đôi co với một tờ báo

Ngày 12/2/2015, VietNamNet đăng bài “Làm báo như Người Cao Tuổi không sai mới lạ”, phỏng vấn Phó cục trưởng Cục Báo chí Lưu Đình Phúc – Trưởng đoàn Thanh tra của Bộ 4T. Bài phỏng vấn được đăng trên trang chủ, với nhiều thông tin được nhấn mạnh, như các phát biểu của ông Phúc kết tội báo Người Cao Tuổi khoác danh nghĩa chống tham nhũng để “tham nhũng, tiêu cực”.

Mặc dù vậy, quá nửa bài báo vẫn chỉ là những ý kiến của ông Phúc loanh quanh về trình tự, thủ tục của quá trình thanh tra – mà theo đó thì giữa những thông tin mà ông đưa ra và ba bài viết của báo Người Cao Tuổi có một số điểm không thống nhất. Chẳng hạn như ông bảo, “tổng số thời gian thanh tra tại báo Người Cao Tuổi… là 45 ngày làm việc… không phải là 64 ngày làm việc như nội dung bài viết trên báo Người Cao Tuổi đã nêu”.

Trước đó, báo Người Cao Tuổi đã có ba bài viết chỉ ra rằng Đoàn Thanh tra của Bộ 4T có nhiều sai phạm, nhiều điểm trái pháp luật – Luật Thanh tra, Luật Báo chí, Luật Khiếu nại, v.v. Báo chỉ ra đầy đủ các điểm vi phạm, hoặc nói rõ rằng các bài viết “sai phạm” mà Thanh tra nêu ra thì đến nay đều đã quá thời hiệu, mà báo chưa từng nhận được đơn thư khiếu nại nào của các cá nhân và tổ chức liên quan. Song, ông Cục phó Lưu Đình Phúc không bàn cụ thể đến một điểm nào trong những điểm Người Cao Tuổi đã nêu.

Ông Phúc cũng lờ đi chi tiết quan trọng, là ngày 31/1, Đoàn Thanh tra của ông mới làm việc với Tổng Biên tập Kim Quốc Hoa để trao đổi về nội dung thanh tra, mà lại đòi phải có giải trình về trên 52 nội dung “chậm nhất là ngày 3/2/2014”. Bản thân báo Người Cao Tuổi cũng đã có công văn (số 32/CV-BNCT) ngày 4/2 gửi Đoàn Thanh tra kiến nghị cần thời gian giải trình.

Bộ 4T chơi khó như vậy, có khác nào mụ dì ghẻ trộn đỗ với gạo, bắt cô Tấm nhặt xong hết mới được đi chơi?

Vậy nhưng ông Lưu Đình Phúc lờ chuyện đó đi, ông bảo “hết thời hạn, Người Cao Tuổi không gửi báo cáo giải trình theo yêu cầu”, rồi ông suy đoán: “Có thể thấy báo đã không hợp tác với Đoàn Thanh tra, cố tình kéo dài thời gian giải trình…”.

Đôi co với báo Người Cao Tuổi ở một số chi tiết và tránh né, tảng lờ nhiều chuyện khác, đó là lối hành xử không nên có ở một quan chức (“quan báo”) đối với dân.

Loanh quanh hết nửa bài rồi vị đại diện Bộ 4T bắt đầu dùng chiêu ngụy biện “đánh vào tình cảm” khi ông quay sang răn báo chí: “Chống tham nhũng phải khách quan, trung thực”, “phải đưa tin có trách nhiệm”, “nâng cao ý thức công dân”, v.v.

Phàm là ngụy biện đánh vào tình cảm của số đông thì các nội dung nghe đều bùi tai và thuyết phục cả. Có điều, trong trường hợp này, phát biểu của ông Lưu Đình Phúc chỉ cho thấy nhận thức về pháp luật và quản trị của ít nhất là một bộ phận quan chức, công chức Việt Nam còn nhiều bất cập.

Cần tìm hiểu thêm về hành chính

Trên nguyên tắc, trong mỗi nền hành chính, đều có những cơ quan thanh tra thực hiện chức năng kiểm soát nội bộ ngành, ví dụ Bộ Thông tin Truyền thông có thể có thanh tra làm nhiệm vụ giám sát, kiểm tra việc chấp hành pháp luật của Bộ. Ở Việt Nam, do Bộ 4T còn được hưởng đặc quyền “quản lý báo chí”, nên thanh tra Bộ nghiễm nhiên nắm thêm quyền sinh quyền sát với giới truyền thông.

Dù vậy, cần phải hiểu rằng đây chính là điểm mấu chốt dẫn đến khả năng hành pháp lạm quyền, cửa quyền. Để tránh vấn nạn đó, chỉ có một cách là tư pháp phải độc lập và có quyền lực ngang bằng hai nhánh hành pháp, lập pháp.

Nói đơn giản là, hành pháp - ở đây là Bộ 4T - có thể thanh tra báo chí, nhưng chỉ dừng lại ở đó mà thôi, muốn xử phạt báo chí thì họ phải chuyển hồ sơ vụ việc sang bên tư pháp - ở đây là tòa án. Ngoài ra, Bộ 4T có quyền thanh tra báo chí, song cơ quan báo chí lại cũng có quyền không chấp hành và quyền khởi kiện Bộ ra tòa. Người Cao Tuổi không nhất thiết phải tuân thủ mọi hình thức xử phạt của Bộ (thu hồi giấy phép báo điện tử, tước thẻ nhà báo hay cách chức tổng biên tập); họ có thể đâm đơn kiện Bộ 4T, kết quả thế nào sẽ do tòa án quyết định.

Tiếc rằng đó chỉ là nguyên tắc, còn trên thực tế ở Việt Nam, do nhánh hành pháp quá mạnh nên mới có thể làm càn: xử phạt hành chính, thu hồi tên miền báo điện tử, rút thẻ nhà báo của tổng biên tập Kim Quốc Hoa. Bộ 4T đã hành xử chẳng khác nào một vị quan tòa lộng quyền khi vừa đưa ra kết luận buộc tội Người Cao Tuổi, vừa thi hành án luôn.

Chưa kể, công chức của Bộ còn răn dạy báo chí tác nghiệp phải thế này, thế kia: “Tôi cho rằng, khi đã cho đăng bài viết thì Tổng biên tập phải có đủ tài liệu, căn cứ, chứ không có tài liệu gì trong tay, phóng viên các tỉnh gửi bài về cho đăng ngay là không ổn. Cũng ở báo này, khi thanh tra chúng tôi còn phát hiện, báo nhận bài của bạn đọc qua email, cho đăng ghi là nhóm phóng viên điều tra. Khi bị khiếu nại, báo trả lời bằng văn bản là không phải của phóng viên viết, đó là của bạn đọc gửi tới. Làm báo như vậy thì không sai mới là lạ!”.

Ông Lưu Đình Phúc đã không ý thức được một điều đơn giản, rằng: Tác nghiệp báo chí là công việc nội bộ của một tòa soạn, không ai có quyền yêu cầu họ giải trình. Tòa soạn chịu trách nhiệm trước dư luận về các thông tin họ đăng tải. Nếu báo đưa tin sai, ảnh hưởng đến cá nhân, tổ chức nào thì cá nhân, tổ chức đó mới là người có thẩm quyền kiện tòa soạn ra tòa dân sự để giải quyết việc riêng của họ với nhau. Ở đây, không có khía cạnh nào mà Bộ 4T hay bất kỳ cơ quan hành pháp nào khác có thể tham gia.

Không được hình sự hóa hoạt động báo chí!

Việc chuyển hồ sơ vụ việc sang Cơ quan An ninh Điều tra thuộc Bộ Công an, và sau đó khởi tố báo Người Cao Tuổi theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, là hành động hình sự hóa những hoạt động báo chí thuần túy dân sự. Đây là một biểu hiện của xã hội công an trị. Trong khi đó, nguyên tắc đơn giản và phổ cấp ở các nền luật pháp trên thế giới là: Không hình sự hóa các vi phạm của báo chí; ai bị hại thì người đó kiện cơ quan báo chí, chứ đó không phải việc của một bộ có tên là Bộ 4T.

Người Cao Tuổi ghi tên tác giả là “nhóm phóng viên” hay “nhóm bạn đọc” thì đó cũng chỉ là vấn đề nghiệp vụ chỉ của tờ báo mà thôi. Một anh công chức ở Bộ 4T không có thẩm quyền phán xét nghiệp vụ của báo, nhất là khi chưa có phóng viên hay bạn đọc nào cảm thấy bị xâm hại lợi ích.

Và cuối cùng, về Điều 258 Bộ luật Hình sự: Nếu điều luật này nhằm chống lại việc “xâm hại lợi ích nhà nước”, thì điều tối thiểu khi vận dụng nó là phải nêu rõ nhà nước ở đây là ai, cơ quan nào cảm thấy họ bị hại, địa chỉ giao dịch ở đâu, bị hại như thế nào? Không thể nói chung chung là “nhà nước” – một thực thể không tên tuổi, không địa chỉ.

Nếu những thông tin mà báo Người Cao Tuổi đưa ra ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước thì chỉ duy nhất Chủ tịch nước mới có quyền phát ngôn lợi ích đó là gì và bị ảnh hưởng tới đâu. Nếu “nhà nước” thấy thông tin đó ảnh hưởng tới lợi ích của mình thì phải kiện báo Người Cao Tuổi ra tòa dân sự để tranh cãi đúng sai. Còn hình sự hóa vụ việc và dùng sức mạnh cưỡng chế chỉ là cách phản ứng của những người đuối lý và ưa bạo lực.

Ảnh: Lê Anh Dũng/ VietNamNet


Wednesday, February 11, 2015

Tân Hiệp Phát và chuyện người cắn chó

Vụ Tân Hiệp Phát lắm cái vô lý nhở?

1. Đường đường là một tập đoàn lớn, sở hữu thương hiệu nổi tiếng, thừa đủ tài chính và quan hệ để thuê luật sư, để làm truyền thông và giải quyết khủng hoảng... thế mà lại có thể bị "uy hiếp" bởi một cá nhân, đến nỗi phải dùng mẹo bẫy cá nhân đó rồi đi mách công an. Tân Hiệp Phát thật là mong manh yếu đuối dễ sợ.

2. Công an, sau khi nghe Tân Hiệp Phát mét, bèn bắt “đối tượng” Võ Văn Minh bỏ bót cái đã, rồi sau đó lại cũng là cơ quan giám định của Bộ Công an vào cuộc “xác minh, làm rõ” sự việc. Hay nhở, đến giờ nhà cháu mới lại càng hiểu thế nào là xã hội công an trị: Công an bắt người, công an điều tra, công an giám định, ít nữa người ta ra tòa cũng là tòa án của công an xử, sau đấy người ta vô tù thì nhà tù cũng là do công an làm quản giáo, cai tù nốt.

Giám định với pháp y với “khoa học hình sự” kiểu ấy, thảo nào lâu nay bao nhiêu người chết trong đồn công an đều được cơ quan chức năng của Bộ Công an xác định là do tự tử.

Việc cho rằng tập đoàn Tân Hiệp Phát bị một cá nhân “uy hiếp, tống tiền” khiến nhà cháu nghĩ: Nếu bây giờ một anh Nguyễn Văn Tèo nào đấy đâm đơn kiện đồng chí X. vì bị chó nhà X. cắn, có khi cuối cùng Bộ Công an sẽ chứng minh được điều ngược lại ấy chứ, rằng chính anh Tèo đã cắn con chó nhà X., buộc con chó phải tự vệ chính đáng.

Và thế là anh Tèo đã mắc tội hành hung gây thương tích lại còn thêm tội vu khống nữa.

Wednesday, January 21, 2015

Viết cho Bút Chì, về cách mạng

  • Nguyễn Anh Tuấn – Trịnh Hữu Long  – Phạm Đoan Trang

Ngay sau khi phong trào “Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam” ra đời, trong cộng đồng mạng ở Việt Nam, như thường lệ, đã xuất hiện vô số quan điểm trái ngược nhau về nó: ủng hộ, hưởng ứng, chê bai, dè bỉu, v.v. Trong số các ý kiến ngả theo hướng phê bình “Tôi không thích”, bài viết của blogger Bút Chì mang nhan đề “Viết cho em, về cách mạng” có lẽ gây chú ý và được tán đồng nhiều nhất vì nó ở một trình độ… ngụy biện tinh vi hơn hẳn các bài phản đối tương tự.

Đôi lời phi lộ: “Những gì anh sắp viết ra đây không phải là để chống lại hay ngăn cản điều em đang làm. Em hãy cứ làm điều em muốn, cứ bày tỏ điều em cho là phải, cứ quan tâm điều em thấy cần phải quan tâm”. Cũng giống như tác giả Bút Chì đã viết như thế cho một (hoặc một số) độc giả “ngây thơ” nào đó mà anh gọi là “em” và xưng “anh”, trước khi mở đầu bài phản biện này, chúng tôi muốn nói rõ rằng: Những gì chúng tôi sắp viết ra sau đây không nhằm chỉ trích Bút Chì hay cản trở quyền tự do biểu đạt của anh. Chúng tôi hoàn toàn tôn trọng quan điểm, suy nghĩ và thái độ của anh.

Điều mà chúng tôi muốn đạt được, là chỉ ra cho bạn đọc một kiểu quan điểm được củng cố bởi những lập luận yếu, tức là ngụy biện, mà nó lại vốn dẫn đến một thái độ khá phổ biến trong văn hóa chính trị ở nước ta hiện nay: thái độ hoài nghi và có phần cao đạo, trên đời, khi nhìn vào những nỗ lực của một thiểu số mong muốn tạo ra sự thay đổi.

* * * 

Căn cứ “dấu vết” để lại trên đường link, bài viết của tác giả Bút Chì ban đầu có lẽ lấy tên là “Dặn em, về cách mạng”, sau đó mới được đổi thành “Viết cho em, về cách mạng” – một nhan đề ít cao ngạo hơn so với cái tựa lúc đầu. Tuy nhiên, sau những câu rào đón nhẹ nhàng rằng “em hãy cứ làm điều em muốn…”, tác giả giả định rằng “em đang hừng hực khí thế”, để rồi cho lời khuyên ngay, với tư cách “người vừa đi qua giai đoạn ấy”. Giai đoạn ấy tức là giai đoạn hừng hực khí thế để tham gia một phong trào trên mạng. 

Ở đây, chúng ta tạm bỏ qua việc tác giả phạm một lỗi ngụy biện (kiểu “tôi đã trải qua kinh nghiệm đó rồi, nên những gì tôi nói về nó phải đúng”), thì cũng có thể phát hiện ra rất nhiều lập luận yếu khác.

Mặc định rằng “chính trị, xét cho cùng, là vòng xoáy của quyền lực/ quyền lợi vô cùng tàn nhẫn, u mê và không lối thoát” là hành động gán bừa một định nghĩa (sai) cho một khái niệm, để rồi tiếp tục các lập luận của mình trên cơ sở định nghĩa chủ quan và sai đó. Chính trị, nếu được định nghĩa một cách nghiêm túc, chưa bao giờ là “vòng xoáy của quyền lực/ quyền lợi…, u mê và không lối thoát”. Cách mô tả chính trị đa nguyên như là sự hỗn loạn, bẩn thỉu, tàn nhẫn, xấu xa hay mang những tính chất tiêu cực tương tự khác đã chỉ luôn là chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng như những thế lực độc tài trên thế giới, muốn biến chính trị thành con ngoáo ộp để người dân sợ hãi hoặc ghê tởm mà tránh cho xa. Với chủ trương đó, các nhà độc tài đã thành công trong việc hạn chế tự do, đặc biệt là triệt tiêu quyền tham gia chính trị của người dân: quyền bầu cử, ứng cử, vận động chính sách, thậm chí chỉ là quyền được tự do thể hiện chính kiến, quan điểm như “tôi không thích”.

Nhưng tác giả đã đưa ra một định nghĩa như thế về chính trị, theo đúng hướng mà các nhà độc tài rất thích. Sau đó, anh lại khéo léo cài vào một câu đánh giá độc giả: “Nếu em thực sự đủ hiểu biết và trưởng thành, em sẽ tự biết cách rời xa nó…”. Viết chặn trước như vậy thì còn độc giả nào dám cãi lại anh nữa, để rồi phải mang tiếng “chưa đủ hiểu biết và trưởng thành”.

Thích, thì nhích

Bút Chì cũng đưa ra một lý do mà anh “chặn trước” rằng nó là “một điều căn bản hiển nhiên”: Chúng ta không thể giải quyết vấn đề bằng chính tâm trí đã tạo ra vấn đề đó. Câu nói của Einstein, dịch sát nghĩa sang tiếng Việt, là: Chúng ta không thể giải quyết vấn đề bằng chính lối tư duy đã tạo ra nó. Nếu bỏ công diễn giải thì cũng hiểu được câu nói của Einstein có lý của nó, chẳng hạn, chúng ta không thể giải quyết một chính thể độc tài bằng lối tư duy độc tài. 

Ở đây có thể thấy rõ vấn đề mà những người tham gia chiến dịch “Tôi không thích” muốn giải quyết là sự độc tài của Đảng Cộng sản Việt Nam. Tất nhiên, không thể giải quyết được sự độc tài đó bằng tư duy độc tài. Vậy thì việc giơ biểu ngữ “Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam” thể hiện tư duy độc tài ở chỗ nào? Đặc trưng của tư duy độc tài là tính áp đặt. Tính áp đặt thể hiện ở đâu trong những tấm biển “tôi không thích” này? Chẳng phải mọi thay đổi xã hội trong toàn bộ lịch sử loài người đều bắt đầu từ thứ tư duy và cảm xúc cơ bản nhất là “tôi không thích” hay sao? 

Chúng ta có thể cố gắng hiểu tác giả hơn, khi anh đi sâu vào giải thích thứ tư duy mà anh không thích: “Nếu các em đọc kỹ các bài viết của nhau, từ cả trái lẫn phải, cả trong lẫn ngoài, và nhìn sâu xuống bên dưới, em sẽ thấy chúng giống nhau vô cùng, và giống y chang các bậc cha ông chúng ta hồi họ còn trẻ. Cũng một lòng nhiệt huyết, cùng một sự hung hăng, cùng một thái độ “cách mạng”…”.

Bút Chì cho rằng những điều ấy “khó lòng tạo nên thay đổi thực sự”, và anh giải thích đó là bởi vì: Không ai trong các em đang “cách mạng” bản thân mình”, “em đòi thay đổi thế giới, trong khi không thực sự biết sẽ thay đổi nó bằng gì”.

Thật ra thì, ai trong chúng ta lúc này thực sự biết có thể thay đổi thế giới bằng gì?

Cũng khó ai tìm ra được một con đường chung cho việc “cách mạng bản thân mình”. Lần này, Bút Chì đã không gán cho khái niệm cách mạng một định nghĩa nào của riêng anh, nhưng anh khẳng định “đó là cuộc cách mạng bên trong”, chẳng hạn như: Thay vì than vãn quá nhiều rác, chúng ta bắt tay vào dọn dẹp; thay vì nguyền rủa lũ vô đạo đức, chúng ta tự mình sống tử tế.

Nhưng chúng ta có thể hỏi Bút Chì rằng: Nếu ta vừa dọn dẹp, vừa than vãn là xã hội có quá nhiều rác, cũng như vừa tự mình sống tử tế, vừa nguyền rủa lũ vô đạo đức, thì có được không?

Vượt ra khỏi thân phận thảo dân “ơn Đảng, Chính phủ” của nhiều người thuộc thế hệ đi trước, mà đứng lên giương cao biển “Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam”, đó có phải là một hành động mang tính cách mạng không?

Có gì đáng góp ý hay chỉ trích không, nếu các bạn trẻ Việt Nam vừa thẳng thắn thể hiện quan điểm “Tôi không thích Đảng Cộng sản Việt Nam”, vừa đấu tranh để khẳng định nhân quyền cơ bản của mình, tham gia chính trị theo hướng vận động chính sách, kiến tạo sự thay đổi, cổ súy cho lòng yêu nước và một xã hội được quản trị tốt hơn? Và họ làm tất cả những điều đó trong khi vẫn viết blog, vẫn học hành, kiếm sống, lo trả tiền trọ… Và ta đừng quên là, trong một xã hội độc tài thì đôi khi, ngay cả việc một nhóm thanh niên đi nhặc rác ở công viên cũng đã bị cấm cản, rất có thể chỉ là vì họ vốn bị coi là “phản động” – tức là bị coi như một giống dân khác với thứ hạng thấp kém hơn.

Đó là chưa kể, những người tham gia “Tôi không thích” chưa từng có lời nói hay hành động nào bạo lực, với cùng sự nhiệt huyết và hung hăng như “cha ông họ” mà một ví dụ là các nhà lãnh đạo đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam với khẩu hiệu “trí - phú - địa - hào, đào tận gốc, trốc tận rễ” trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh thời kỳ 1930-1931.  

“Em đòi thay đổi thế giới, trong khi không thực sự biết sẽ thay đổi nó bằng gì, việc này chắc chắn sẽ dẫn đến đau khổ cho em và cho người khác, dù em thất bại hay thành công”. Trong một xã hội văn minh thì việc công dân thể hiện chính kiến và lựa chọn lực lượng chính trị thông qua lá phiếu sẽ chẳng đem lại đau khổ nào cả. Anh Bút Chì quả là đang dọa chúng em, cũng y như Đảng Cộng sản lâu nay vẫn dọa chúng em rằng “dân chủ, đa đảng là loạn”. 

“Tất cả bắt đầu từ chính mình”

Lập luận và thông điệp nổi bật nhất trong bài viết của Bút Chì có lẽ là về cuộc cách mạng bên trong, khi tất cả bắt đầu từ chính mình. Đây là một quan điểm nghe có vẻ rất thuyết phục, và nó phổ biến không chỉ ở Việt Nam mà trên cả thế giới, không chỉ lúc này mà thường xuyên bấy lâu nay. Trong những cuốn sách kiểu “hạt giống tâm hồn” (chicken soup for the soul), chúng ta có thể bắt gặp đầy rẫy những câu đại ý:

Mỗi khi bạn thất bại, bạn cảm thấy cay cú, bạn đều muốn tìm ai đó để đổ lỗi: kẻ thù, đối thủ cạnh tranh, bạn bè, gia đình, chính phủ. Mỗi lần như thế, muốn biết kẻ đó là ai, bạn hãy nhìn vào gương.

Hàm ý của những câu như thế là: Mọi sự bắt đầu từ chính ta. Thất bại của cá nhân, xã hội phi dân chủ, mất tự do, chậm phát triển, cũng do mỗi cá nhân mà ra cả. Mỗi người cứ làm sao thay đổi chính mình là cả xã hội thay đổi.

Ở những nước nghèo, lạc hậu, chậm tiến như Việt Nam, quan điểm đó vô tình hay hữu ý loại bỏ vai trò của chính quyền cũng như những nỗ lực điều tiết, phối hợp chung. Nó cũng là một quan điểm duy ý chí nặng nề. Làm sao để hàng chục triệu người cùng đồng lòng tự làm cách mạng bên trong, thay đổi chính mình được, nếu không có một lực lượng làm nhiệm vụ của “nhạc trưởng”?

Tất nhiên, xã hội sẽ không thay đổi nếu mỗi thành viên của nó đều không chịu vận động. Ngay cả khi tất cả mọi người cùng vận động, mỗi người mỗi hướng, cũng không chắc một sự thay đổi đáng kể và quyết liệt nào sẽ đến. Nhưng cho dù có thế, cũng không thể trách mỗi người “đòi thay đổi thế giới, trong khi không thực sự biết sẽ thay đổi nó bằng gì”.

Lại chuyện “năng lượng”

Trong xã hội của chúng ta lâu nay, có một số người thường giải thích nhiều điều bằng những thứ có phần thần bí, tâm linh như “năng lượng”, “nghiệp”. Ví dụ, các tác giả của bài viết này từng được khuyên, đại ý: Không nên chỉ trích chính quyền, an ninh, quan chức tham nhũng, v.v. vì như thế là tạo khẩu nghiệp, rất có hại cho mình. Những lời lên án, phê bình, phản biện chẳng qua chỉ tạo khẩu nghiệp mà thôi, và điều đó đến lượt nó lại tiếp tục tạo ra nghiệp xấu.

Từ năm 1995, một nhà dân chủ Việt Nam là TS.ông Hà Sĩ Phu (tên thật là Nguyễn Xuân Tụ) đã từng chỉ ra kiểu ngụy biện “cao đạo, lẩn tránh” trong tiểu luận nổi tiếng của ông, “Chia tay ý thức hệ”.

“Chính trị là bẩn thỉu, dính đến làm gì? Ông cứ lo viết văn, lo làm khoa học, làm nghệ thuật có phải vừa thanh cao lại vừa an toàn, vừa bổ ích không?”. 

“Giải pháp gì cũng vô ích, vì con người "tham, sân, si" mà ra cả. Cái gốc là phải trở về cái gốc thiện của con người! Bây giờ tôi đang nghiên cứu Kinh Dịch! Phải đọc Phật giáo ông ạ!”.

“Đấu tranh giai cấp đã là sai rồi, nay lại đấu tranh chống nó thì lại sai tiếp. Vấn đề là thiện và ác thôi. Ông nên đi vào thiền, yoga, khí công, nhân điện... là thấy thanh thản ngay!”.

Những lời tác giả Bút Chì nói, về năng lượng, cách năng lượng được tạo ra từ nỗi tức giận và lan truyền, v.v. không có gì khác ngoài việc lặp lại lối ngụy biện “cao đạo, lẩn tránh” mà TS. Hà Sĩ Phu đã chỉ ra từ 20 năm trước.

Chính quyền (độc tài) nào chắc cũng chỉ mong người dân cao đạo, tránh khẩu nghiệp, gìn giữ năng lượng, để đừng tham gia chính trị và nhất là đừng làm gì đòi hỏi, thúc ép, thách thức nhà nước. 

Nhưng là một công dân tốt, không thể nào tránh né việc có một thái độ chính trị theo hướng bảo vệ nhân quyền, trong đó có quyền tham gia chính trị và quyền biểu đạt chính kiến, của những người khác.

Monday, January 12, 2015

Tự do âm và tự do dương

(Luật Khoa tạp chí) - Từ tháng 1 này, Luật Khoa tạp chí sẽ đăng tải một loạt bài với chủ đề “Triết học chính trị dành cho luật sư”, tổng hợp những kiến thức phổ quát về triết học chính trị. Các bạn sẽ tìm thấy ở đây những định nghĩa, kiến giải và phân tích về các khái niệm căn bản nhất nhưng cũng là những điều người Việt Nam nói chung lâu nay ít được tiếp cận: tự do, công lý, dân chủ, bình đẳng, nhân quyền, tính chính danh của nhà nước và nghĩa vụ chính trị của công dân trong xã hội, v.v. Bài đầu tiên giới thiệu với các bạn khái niệm tự do.


* * *

Một trong các nguyên nhân khiến nhiều cuộc thảo luận, tranh luận của người Việt, trên mạng hoặc ngoài đời, thường bị “tắc tị”, là do các bên tham gia không hiểu và/hoặc không thống nhất được với nhau về các khái niệm cơ bản, tức là vấn đề định nghĩa.

Một trong nhiều chủ đề gây tranh cãi là tự do. Và chủ đề này không chỉ gây tranh cãi mà đôi khi còn là nguồn gốc của những căng thẳng, mâu thuẫn về chính trị trong xã hội, khi có những người đấu tranh đòi hỏi “tự do cho Việt Nam” và có những người không hiểu tại sao lại phải “đòi tự do” ở một đất nước ổn định chính trị, không có chiến tranh, không phải thuộc địa, như Việt Nam.

Muốn thảo luận một cách nghiêm túc, có chất lượng khoa học, thì trước hết các bên phải thống nhất được với nhau về một số điểm, như quy tắc tranh luận, tức là “luật chơi”, và các thuật ngữ hay khái niệm chung.

Vậy, tự do là gì?

Bạn thích định nghĩa nào?

Xưa nay đã có nhiều triết gia định nghĩa về tự do. Ví dụ, độc giả Việt Nam hẳn là đã quen thuộc với định nghĩa này của Friedrich Hegel (1770-1831): “Tự do là cái tất yếu được nhận thức”. Nó được đưa hẳn vào chương trình giáo dục công dân hay có thể coi như chương trình triết học căn bản phổ thông trong các trường học ở Việt Nam.

Để làm cho định nghĩa của Hegel trở nên dễ hình dung hơn, giáo viên có thể giải thích: “Đây nhé, các em là học sinh, nghĩa vụ của các em là đến trường, đi học. Khi đi học thì phải làm bài đầy đủ, thi cử nghiêm túc. Đó là những nghĩa vụ tất yếu. Các em ý thức được đó là cái tất yếu thì các em sẽ học hành chăm chỉ, không trốn tiết, bỏ thi, và cứ làm đúng như thế là các em có tự do. Nếu không làm đúng như thế thì các em sẽ bị trừng phạt, tức là bị kỷ luật, bị thầy cô giáo và cha mẹ nhắc nhở và mất tự do. Như thế nghĩa là tự do là nhận thức cái tất yếu”.

Có thể bạn sẽ thấy với định nghĩa này, tự do vẫn có cái gì đó hạn hẹp quá, trong khuôn khổ quá. Tóm lại, nó không thỏa đáng.

Một triết gia khác, John Locke (1632-1704), đưa ra định nghĩa: “Tự do là khả năng con người có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào”.

Căn cứ vào định nghĩa của Locke, rõ ràng là nếu ai cũng có thể làm bất cứ điều gì mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào, thì cuối cùng tự do của người này sẽ xâm phạm và cản trở tự do của người kia; hay nói cách khác, tự do của người này đồng thời lại là sự mất tự do của người kia. Có thể nào như vậy chăng? Định nghĩa này xem ra cũng không thỏa đáng lắm.

Năm 1958, có một triết gia người Do Thái, sinh ra tại Nga nhưng di tản sang Anh, đã có một bài giảng nổi tiếng nhan đề “Hai khái niệm tự do” [Two Concepts of Liberty]. Ông cho rằng, tồn tại hai loại, hay nói đúng hơn, hai cách hiểu về tự do: Tự do âm và tự do dương. Định nghĩa của ông về hai khái niệm tự do này chưa được biết đến nhiều ở Việt Nam, nhưng có lẽ nó lại giúp chúng ta có hình dung về tự do một cách đầy đủ và rõ ràng nhất. Ông là Isaiah Berlin (1909-1997).

Tự do âm là gì?

Đây là cách hiểu chung của Thomas Hobbes, John Locke, Friedrich von Hayek và Ludwig von Mises về tự do, theo đó, tự do là khả năng một người có thể làm bất cứ điều gì mình muốn mà không chịu sự can thiệp nào từ bên ngoài. Từ gốc trong tiếng Anh là “negative freedom”, trong đó từ “negative” có thể được dịch sang tiếng Việt là âm tính, phủ định, tiêu cực, thụ động. Tuy nhiên, tự do âm hoàn toàn không mang nghĩa tiêu cực, mà chỉ hàm ý là không có sự can thiệp từ bất cứ ai/cái gì bên ngoài. Hiểu như vậy thì chính tự do âm mới là tự do tuyệt đối.

Trong tác phẩm “Hiến pháp của tự do” [The Constitution of Liberty], cho rằng hình thức can thiệp phá vỡ tự do nhất là sự cưỡng chế, cưỡng ép [coercion] – tức là những hành động có chủ ý của một/các cá nhân khác nhằm khống chế/ kiểm soát môi trường hoặc hoàn cảnh của một người nào đó, buộc người ấy phải hành động (hoặc không hành động) không theo ý chí thống nhất của mình mà là theo ý muốn của một/các cá nhân khác đó.

Định nghĩa của Hayek về sự cưỡng chế, cưỡng ép có hai điểm quan trọng là “hành động có chủ ý” và “của cá nhân khác”. Ví dụ, nếu bạn bị rơi xuống hang và bị kẹt trong đó, không ra được, thì như thế không phải là mất tự do. Chỉ khi có kẻ nào đó đẩy bạn vào hang và/hoặc nhốt bạn trong hang (có chủ ý) thì khi ấy bạn mới mất tự do. Ngay cả nếu kẻ kia chỉ vô tình khóa bạn lại trong một căn buồng (không chủ ý) thì cũng không thể nói bạn mất tự do được.

Ngoài ra, nếu bạn bị cản trở hành động bởi những nguyên nhân bên trong bạn (không phải các tác nhân bên ngoài) thì đó cũng không phải là sự can thiệp làm mất tự do. Một người tàn tật, ốm yếu chẳng hạn, không thể đi bộ băng qua đường nếu không có ba-toong hay xe lăn, thì cũng vẫn được coi là tự do: Anh/chị ta có quyền tự do sang đường.

Friedrich von Hayek (1899-1992)

Tự do dương là gì?

Từ việc tự do âm hàm ý không có sự can thiệp, có thể suy luận rằng tự do dương là thứ tự do có điều kiện. Tự do dương [positive freedom] là việc một người có thể và thực sự có khả năng hành động theo ý nguyện của mình. Nói cách khác, cá nhân có tự do (dương) khi anh/chị ta làm chủ chính mình và có thể tự chịu trách nhiệm về hành động của bản thân.

Như vậy, một người tàn tật, ốm yếu, không thể đi bộ băng qua đường dù muốn lắm, thì là người mất tự do. Anh/chị ta bị hạn chế tự do bởi vì không làm chủ được cơ thể mình, đôi chân của mình. Những người nghèo, dù được toàn quyền mua nhà ở, thức ăn nước uống, quần áo, nhưng không có nổi tiền để mua những thứ đó dù rất muốn, thì cũng là không có tự do. Anh/chị ta bị hạn chế tự do bởi vì không có đủ năng lực (tài chính) để hành động theo ý nguyện cá nhân.

Một triết gia đại diện cho cách hiểu này về tự do là Jean Jacques Rousseau (1712-1778).

Từ hai khái niệm về tự do nói trên, bạn có thể thấy: Theo quan điểm của những người ủng hộ “tự do âm”, nhà nước tôn trọng “tự do âm” của người dân là nhà nước tối thiểu, ít can thiệp nhất có thể [minimal state]. Còn đối với những người theo quan niệm về “tự do dương”, nhà nước tôn trọng “tự do dương” của người dân là nhà nước có những biện pháp để thúc đẩy xã hội theo hướng họ muốn, ví dụ xóa đói giảm nghèo để tăng năng lực cho một bộ phận dân chúng, đánh thuế để điều chỉnh thu nhập của người giàu và chia cho người nghèo, v.v.

Isaiah Berlin cho rằng cách hiểu về tự do theo nghĩa “tự do dương” thật ra rất nguy hiểm vì nó gợi ý khả năng một hoặc một số người tự cho mình quyền phán xét xem ai đang tự do, ai đang không tự do. Trên bình diện xã hội, nó mở đường cho việc nhà nước can thiệp, định hướng, và kịch bản tồi tệ nhất là trở thành chuyên chế.

Còn bạn, bạn ủng hộ kiểu tự do nào?

Dựa theo cuốn “Political Philosophy: A Complete Introduction”, Phil Parvin & Clare Chambers, 2012.

Saturday, December 27, 2014

Lịch sử blog Việt (cập nhật năm 2014)


2014

2/1: Báo Tuổi Trẻ khởi đăng loạt bài bốn kỳ “40 năm hải chiến Hoàng Sa”, tác giả Quốc Việt và Trần Nhật Vy. Cả báo chính thống (Thanh Niên, Tuổi Trẻ) lẫn truyền thông độc lập (Dân Làm Báo và các trang cộng đồng trên Facebook) đều mở chuyên đề tưởng niệm 40 năm cuộc huyết chiến (18/1/1974).

7/1: Tại phiên xử Dương Chí Dũng (Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam Vinalines), bị cáo Dương Chí Dũng khai đã được chính Thứ trưởng Công an Phạm Quý Ngọ mật báo tin bị “Thủ tướng chấp thuận lệnh khởi tố bắt tạm giam”. Hơn một tháng sau, tối 18/2, Phạm Quý Ngọ mất đột ngột vì ung thư gan, đặt dấu chấm hết cho các hoạt động điều tra, khởi tố.

8/1: Blogger Hồ Đức Thanh (sinh ngày 17/1/1981) qua đời vì bạo bệnh. Tốt nghiệp Học viện Quan hệ Quốc tế, anh là một trong số rất ít blogger hoạt động nhân quyền ở Hà Nội sử dụng tiếng Anh và tham gia tích cực vào phong trào khai dân trí theo tinh thần Phan Chu Trinh. Một lớp học của Thanh đã bị công an bố ráp vào tối 13/8/2013 (xem 2013), anh và các bạn trẻ bị cướp máy tính, điện thoại, bị đưa về đồn thẩm vấn và đánh đập.

Tôi và nhiều người khác đã được biết Thanh là một người rất hiền lành. Dù nghĩ gì về chính trị, là thành viên của Ban Tuyên giáo hay là dân thường ở ngoài bộ máy, chúng ta phải phấn đấu hướng tới một nước Việt Nam thực sự đảm bảo nhân quyền. Riêng tôi sẽ nhớ Hồ Đức Thanh mãi” (TS. Jonathan London, giáo sư ĐH Thành thị Hong Kong, viết bằng tiếng Việt).


12/1: Lần đầu tiên, một phái đoàn gồm đại diện của sáu tổ chức xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam bắt đầu chiến dịch vận động cho nhân quyền Việt Nam tại Mỹ và châu Âu. Phái đoàn gồm đại diện các tổ chức No-U Việt Nam, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Dân Làm Báo, Phật giáo Hòa Hảo Truyền thống, Con Đường Việt Nam, và VOICE.

19/1: Các blogger ở Hà Nội tổ chức tưởng niệm 40 năm ngày mất Hoàng Sa tại tượng đài Lý Thái Tổ ven Hồ Gươm. Buổi tưởng niệm bị phá bởi một nhóm thợ đá kéo đến ngồi quanh tượng đài để cưa đá, tạo tiếng ồn và bụi bay mờ mịt, đồng thời dân phòng cũng được bố trí để bảo vệ tốp thợ đá này.

22/1: Ông Lê Hiếu Đằng, luật gia, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc TP.HCM, mất vì bệnh. Trước đó hơn một tháng, ngày 4/12/2013, ông đã tuyên bố ra khỏi đảng Cộng sản Việt Nam. Tại đám tang ông (24/1), băng-rôn trên vòng hoa của Bauxite Việt Nam, Diễn đàn Xã hội Dân sự, Ủy ban Công lý và Hòa bình, Câu lạc bộ Phaolô Nguyễn Văn Bình, đều bị một nhóm người lạ xông vào cướp giật công khai. Trong số kẻ cướp băng-rôn, có người bị nhận diện là an ninh.

Việc bố trí lực lượng giật băng-rôn sẽ còn được lặp lại tại đám tang thầy giáo Đinh Đăng Định và nhà văn Bùi Ngọc Tấn.

30/1: Phái đoàn dân sự độc lập tổ chức Ngày Việt Nam tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở Geneva.

5/2: Phái đoàn dân sự độc lập tham dự buổi điều trần của Việt Nam trước Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc, theo cơ chế Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR), chứng kiến cảnh phái đoàn của Việt Nam tảng lờ những câu hỏi chất vấn về nhân quyền theo phong cách “hỏi một đằng, trả lời một nẻo”.

11/2: Bà Bùi Thị Minh Hằng – một gương mặt nổi bật trong phong trào biểu tình chống Trung Quốc và đấu tranh cho dân oan – bị bắt tại Đồng Tháp cùng hai tín đồ Phật giáo Hòa Hảo Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh. Hơn một tuần sau, thông tin về vụ bắt mới được công bố chính thức, nhưng cũng không dập tắt được dư luận về một màn kịch được dựng lên để bắt người.

17/2: No-U Hà Nội và nhiều blogger tổ chức tưởng niệm 35 năm chiến tranh biên giới Việt-Trung, dưới trời mưa lạnh. Từ sáng sớm, công an, dân phòng, thanh niên tình nguyện phường Lý Thái Tổ đã giăng băng-rôn lấn chiếm địa bàn. Tới cao trào, “quần chúng tự phát” được huy động đến nhảy điệu “Con bướm xinh” dưới chân tượng đài Lý Thái Tổ.

18/2: Xử phúc thẩm luật sư Lê Quốc Quân với tội danh “trốn thuế”. Ông Quân bị tuyên y án hai năm sáu tháng tù, công ty của ông bị phạt hơn 1,29 tỷ đồng để sung quỹ nhà nước.

28/2: Sài Gòn Tiếp Thị, tờ báo chính thống gắn bó rất nhiều với các blogger từ thời Yahoo 360, ra số cuối cùng trước khi đình bản theo quyết định của Bộ Thông tin-Truyền thông. Bộ này cũng ký cho phép Thời báo Kinh tế Sài Gòn xuất bản một ấn phẩm có cái tên khó hiểu là “Sài Gòn Tiếp Thị bộ mới”, với đa số nhân sự mới và nội dung cũng không còn tính “chiến đấu” như trước.

1/3: Khủng hoảng bán đảo Crimea dẫn đến xung đột Nga-Ukraine: Quốc hội Nga ra lệnh can thiệp quân sự vào Ukraine để bảo vệ các lợi ích của Nga và những người nói tiếng Nga.

22/3: “Người tù thế kỷ” Nguyễn Hữu Cầu được trả tự do sau hai lần ngồi tù với tổng thời gian sau song sắt lên tới 37 năm, vì tội chống chính quyền XHCN.

22/3-3/4: Xét xử sơ thẩm 5 viên công an đánh chết anh Ngô Thanh Kiều vào tháng 3/2012. Cả 5 bị cáo đều chỉ bị buộc tội “dùng nhục hình”, mặc dù luật sư Võ An Đôn – đại diện cho gia đình nạn nhân – khẳng định đó phải là tội giết người. Kết quả, hai trong số 5 thủ phạm hưởng án treo, người nặng nhất 5 năm tù giam, hai người còn lại 2 năm và 1,5 năm tù.

Tại phiên phúc thẩm ngày 9/7, TAND tỉnh Phú Yên tuyên hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại.

Kể từ khi nhận bảo vệ cho gia đình nạn nhân, luật sư Võ An Đôn bắt đầu phải đối diện với sự thù ghét và hành động trả đũa của phía công an, công tố viên và tòa án địa phương.

3/4: Thầy giáo Đinh Đăng Định, một tù nhân lương tâm, mất vì ung thư dạ dày sau không đầy một tháng được “đặc xá”. Ước tính có tới hàng nghìn người tham dự đám tang của ông (7/4).

7/4: TS. luật Cù Huy Hà Vũ được trả tự do và sang Mỹ cùng vợ.

12/4: Thêm hai tù nhân chính trị – Vi Đức Hồi và Nguyễn Tiến Trung – được trả tự do.

3/5: Trung Quốc triển khai giàn khoan dầu khổng lồ Haiyang Shiyou 981 ra Biển Đông, vào vùng biển gần quần đảo Hoàng Sa.

Cảnh sát biển Việt Nam đang quay phim 
cảnh tàu hải giám Trung Quốc tiến đến gần tàu Việt Nam.. (CNN)

5/5: Anh Ba Sàm – blogger nổi tiếng, chủ của trang web “Thông Tấn Xã Vỉa Hè” – bị bắt cùng với người trợ lý là cô Nguyễn Thị Minh Thúy. Cả hai cùng bị khởi tố theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm hại lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng của tổ chức, công dân”.

7/5: Tòa phúc thẩm giữ nguyên án tử hình đối với Dương Chí Dũng (Chủ tịch HĐQT) và Mai Văn Phúc (TGĐ VinaLines) về tội tham ô.

11/5: Lần đầu tiên, 20 tổ chức dân sự độc lập ở Việt Nam cùng kêu gọi biểu tình chống Trung Quốc, trả tự do cho những người yêu nước chống Tàu, như Ba Sàm, Điếu Cày, Bùi Thị Minh Hằng… Hưởng ứng lời kêu gọi, nhiều blogger ở Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng và Nha Trang đã xuống đường. Đồng thời, một số gương mặt “biểu tình viên” quen thuộc, vốn là các nhà hoạt động nhân quyền, đã bị sách nhiễu, chặn đường không cho đi đến nơi biểu tình, thậm chí bị nhốt luôn trong nhà như blogger Nguyễn Văn Thạnh (Đà Nẵng).

12-14/5: Bạo loạn bùng nổ ở khu công nghiệp Bình Dương, nhân danh “chống Trung Quốc”. Thống kê không chính thức cho biết có tới 169 nhà máy bị đập phá, 14 công ty bị đốt. Hơn 400 người bị bắt.

Chiều 14/5, bạo loạn tiếp tục xảy ra ở khu kinh tế Vũng Áng (Hà Tĩnh) và có xô xát giữa công nhân địa phương với công nhân Trung Quốc.

18/5: Các tổ chức xã hội dân sự tổ chức biểu tình chống Trung Quốc lần thứ hai. Công an đàn áp, đánh đập tàn tệ một blogger trẻ người Khmer tên là Vanda Lâm.

Trong những tuần tiếp theo, cộng đồng người Việt tại nhiều nước trên thế giới cũng tổ chức biểu tình “tiếp lửa” cho trong nước: Mỹ, Canada, Pháp, Hà Lan, Ba Lan, Australia, Philippines.

21/6: Đỗ Thị Minh Hạnh – một trong những người đi đầu đấu tranh bảo vệ quyền lao động – được trả tự do sau hơn 4 năm tù. (Mức án tòa tuyên cho Minh Hạnh là 7 năm tù, vì tội “phá rối an ninh” theo Điều 89 Bộ luật Hình sự).

24/6: Một phái đoàn đại diện cho 10 tổ chức xã hội dân sự độc lập trong nước, tham gia phiên họp lần thứ 26 của Hội đồng Nhân quyền LHQ tại Geneva. Luật gia Trịnh Hữu Long trình bày báo cáo phản ánh tình trạng vi phạm nhân quyền gia tăng trong nước.

Nửa cuối tháng 6, lực lượng chống dân chủ ở Việt Nam bắt đầu sử dụng một chiêu thức mới để đánh phá trên mạng: Lợi dụng chính sách “báo cáo vi phạm” (report abuse) của Facebook, họ tập trung đánh phá cho đến khi Facebook phải đóng trang cá nhân của các nhà hoạt động nhân quyền.

Hơn 50 trang Facebook của các blogger ủng hộ dân chủ-nhân quyền ở Việt Nam và người Việt ở nước ngoài đã bị đánh sập. Phía blogger phản ứng lại bằng cách lập các nhóm “báo cáo ngược lại”, và cuộc chiến tranh mạng bắt đầu leo thang. Sự việc chỉ chấm dứt sau khi một số blogger người Việt ở nước ngoài tổ chức được những cuộc tiếp xúc kín với đại diện tập đoàn Facebook để đề nghị được ủng hộ.

4/7: Việt Nam Thời Báo, tờ báo của Hội Nhà báo Độc lập, ra đời.

20/8: Nhà văn – nhà báo Trần Đĩnh công bố tác phẩm “Đèn Cù”, phần I. Phần II phát hành ngày 21/11. Cuốn sách tiết lộ nhiều bí mật cung đình của chính quyền và được xem như một sự giải thiêng hình tượng Hồ Chí Minh cũng như nhiều chính khách cộng sản khác.

26/8: Phiên xét xử sơ thẩm ba blogger Bùi Thị Minh Hằng, Nguyễn Văn Minh và Nguyễn Thị Thúy Quỳnh diễn ra tại Đồng Tháp. Tất cả các blogger đến dự đều bị ngăn chặn, không thể vào được phòng xử án. Tòa xử bà Hằng 3 năm, ông Minh 2 năm 6 tháng, và cô Quỳnh 2 năm tù vì tội “gây rối trật tự công cộng” theo Điều 245 Bộ luật Hình sự.

2/9: Mạng Lưới Blogger Việt Nam phát động phong trào “Tôi muốn biết”, đòi hỏi quyền được biết những thỏa thuận, ký kết có liên quan đến chủ quyền quốc gia, bắt đầu bằng Hiệp ước Thành Đô tháng 9/1990.

8/9: Một triển lãm đầu tiên về cải cách ruộng đất được tổ chức tại Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Hà Nội. Tranh cãi nổ ra giữa những người cho rằng triển lãm vẫn không trung thực với lịch sử, và những người ủng hộ một nỗ lực phục dựng lịch sử, dù nhỏ nhoi. Một số nông dân kéo tới triển lãm phản đối. Ngày 12/9, triển lãm đóng cửa sớm (theo kế hoạch là kéo dài tới cuối năm).

19/9: Vợ chồng ông bà Trịnh Bá Khiêm – Cấn Thị Thêu, nông dân Dương Nội, bị xử lần lượt 18 và 15 tháng tù vì tội “chống người thi hành công vụ” (Điều 257 Bộ luật Hình sự). Một người khác là Lê Văn Thanh bị án 1 năm tù. Cả ba đều bị bắt sau khi phản kháng một vụ cưỡng chế đất đai diễn ra ngày 25/4 tại Dương Nội.

Hàng chục nông dân Dương Nội kéo đến phiên tòa nhưng không được tiếp cận phòng xử án. Ngay cả hai con của ông bà Khiêm-Thêu là Trịnh Bá Phương và Trịnh Bá Tư cũng phải đứng ngoài, hòa vào đám đông dân oan đòi công lý.

28/9: Biểu tình ủng hộ dân chủ làm rung chuyển Hong Kong. Phong trào Occupy Central thu hút hàng trăm nghìn người tham gia, trong đó sinh viên đóng một vai trò nổi bật. Bất chấp việc cảnh sát dùng hơi cay giải tán, đám đông vẫn giữ tinh thần phi bạo lực. Biểu tình kéo dài ngay cả sau khi Trưởng đặc khu Lương Chấn Anh tuyên bố không từ chức (2/10).

20/10 - 28/11: Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII. Các quan chức tiếp tục để lại những câu nói để đời, làm trò cười cho cộng đồng mạng, như: “Không phong tướng, anh em tâm tư”. Với phát biểu này, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh được các blogger phong là “Đại tướng Phùng Tâm Tư”.

21/10: Blogger Điếu Cày được trả tự do và bị đưa sang Mỹ ngay lập tức, củng cố thêm dư luận về việc nhà nước “đem tù nhân lương tâm ra đổi chác với Mỹ”.

25/11: Tòa án Nhân dân tỉnh Long An thông báo với gia đình Hồ Duy Hải rằng Hải sẽ bị tử hình vào ngày 5/12/2014, bất chấp việc tiến trình điều tra, tố tụng đã có nhiều sai phạm, vi phạm hoàn toàn nguyên tắc “pháp trình chính đáng” hay “thủ tục tố tụng đúng chuẩn” (due process) trong luật pháp. Làn sóng phản đối, kêu oan cho Hồ Duy Hải lan truyền trên mạng xã hội và báo chí chính thống. Ngày 4/12, khi chỉ còn khoảng 10-12 tiếng trước giờ hành quyết, Phó Chánh án TAND Lê Quang Hùng viết bút phê xác nhận với gia đình Hồ Duy Hải về việc tạm dừng thi hành án.

29/11: Blogger Người Lót Gạch, tên thật là Hồng Lê Thọ, vốn là một giáo sư Việt kiều, bị bắt và khởi tố theo Điều 258 Bộ luật Hình sự.

4/12: Liên ngành Công an, Viện Kiểm sát và Tòa án thành phố Tuy Hòa (Phú Yên) gửi công văn yêu cầu Sở Tư pháp Phú Yên thu hồi chứng chỉ hành nghề của luật sư Võ An Đôn – người bảo vệ gia đình nạn nhân Ngô Thanh Kiều. Công văn nại lý do là luật sư Đôn đã “lợi dụng việc hành nghề, có lời lẽ thiếu văn hóa, xúc phạm đến người tham gia tố tụng trong vụ án và nhiều đồng chí lãnh đạo đương nhiệm khác trong các ngành nội chính”, “tạo thành điểm nóng không tốt trong dư luận xã hội, gây ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương”.

158 blogger trong nước và nước ngoài đã gửi thư cho liên ngành nói trên, tuyên bố ủng hộ luật sư Võ An Đôn và yêu cầu chính quyền địa phương chấm dứt sách nhiễu, trả thù ông Đôn.


6/12: Nhà văn Nguyễn Quang Lập, tức blogger Bọ Lập, chủ trang web Quê Choa, bị bắt, cũng theo Điều 258 Bộ luật Hình sự, sau đó bị chuyển đổi tội danh thành Điều 88, tội “tuyên truyền chống Nhà nước”.

15/12: Phiên phúc thẩm vụ án bầu Kiên kết thúc sau hơn nửa tháng xét xử (phiên sơ thẩm kéo dài từ ngày 20/5 đến đến 9/6/2014). Đại gia một thời, Nguyễn Đức Kiên, bị y án 30 năm tù.

16/12: Cha mẹ của một tử tù khác – Nguyễn Văn Chưởng – đeo biển đứng trước cổng Tòa án Nhân dân ở Hà Nội, tuyệt vọng kêu oan cho con.

Hàng chục nông dân Dương Nội hưởng ứng, biểu tình kéo dài đòi công lý cho Nguyễn Văn Chưởng tại Tòa án và khu vực tượng đài Lý Thái Tổ. Sáng 25/12, No-U Hà Nội tổ chức tuần hành ủng hộ gia đình tử tù Nguyễn Văn Chưởng: “Dù có thể bị bắt vì biểu tình, vì gây rối, vì rải truyền đơn hay vì bất cứ lí do nào khác nhưng chúng tôi chấp nhận vì đây là cách duy nhất chúng tôi có thể làm để cứu một người sắp chết oan trước sự quan liêu và thờ ơ vô cảm của các cấp chính quyền”.

18/12: Nhà văn Bùi Ngọc Tấn, tác giả của Chuyện kể năm 2000 – cuốn sách có thể coi là xuất sắc của văn học Việt Nam bốn thập niên trở lại đây, một “quần đảo Gulag” của Việt Nam – qua đời vì bệnh ung thư phổi, hưởng thọ 81 tuổi.