Thursday, 30 January 2014

Thương lắm người trẻ Việt Nam!

Bạn cảm thấy sao khi ta chuẩn bị tinh thần ''nói chuyện thân mật'' với một nhóm 5-7 người là cùng, nhưng mở cửa ra thì trước mặt là một hội trường rộng mênh mông với gần trăm quan chức cao cấp của EU, và bạn ngồi vào vị trí diễn giả? Tất cả đều chăm chú nghe bạn nói, và sau đó ''dội bom'' bạn với ít nhất hai chục câu hỏi về tình hình nhân quyền Việt Nam...

Thật sự là lúc ngồi vào bàn chủ tọa, mình chỉ còn kịp có ý nghĩ: "Trời đất ơi, sao mà giống... phim hài Mỹ thế này? Tui đâu có biết là sẽ phải nói chuyện trước Hội đồng Châu Âu đâu".

Không có thời gian chuẩn bị, thậm chí không còn thời gian để nghĩ nữa. Mình bối rối bắt đầu, may còn kịp cài thêm một câu mở đầu: “Chúng tôi xin được nhấn mạnh, rằng đây là lần đầu tiên (the first time ever) những blogger như chúng tôi có mặt ở đây, sau khi vượt qua rất nhiều trở ngại, với tư cách đại diện cho những tiếng nói của xã hội dân sự độc lập ở Việt Nam”.

Cử tọa lắng nghe chăm chú, và có lúc – khi được hỏi “foreign funding” (việc nhận tiền tài trợ của nước ngoài) ở Việt Nam có khó không, mình ngớ người, lắp bắp: “It simply doesn't work” (không áp dụng được trong bối cảnh Việt Nam). Mình lúng túng, cố diễn đạt rằng, việc nhận tiền nước ngoài không chỉ là khó, mà còn là nguy hiểm, mọi cá nhân, tổ chức dân sự được nước ngoài tài trợ đều được dán cái nhãn “nhận đô-la của thế lực thù địch”. Nói sao để họ hiểu cái thực tế rất bất thường đó ở Việt Nam?

Nhưng chính vào những lúc như thế này, mình mới càng thấy xót xa cho những người trẻ Việt Nam. Chúng ta – các bạn trẻ bây giờ, và cả thế hệ 7x của mình – đã không một ai có cơ hội được đào tạo tử tế trong môi trường Việt Nam. Chúng ta không hề được dạy về kỹ năng trình bày trước đám đông, về khả năng truyền thông, hùng biện, thậm chí chỉ đơn giản là truyền tải suy nghĩ của mình một cách hiệu quả đến với người nghe. Trách chúng ta sao được, khi chúng ta không hề được khuyến khích phát biểu ý kiến cá nhân trước lớp, trong giờ giảng bài của thầy cô, trong bài kiểm tra, bài thi. Chúng ta bị gieo cấy vào đầu quá nhiều tư tưởng độc hại: rằng việc lớn “đã có Đảng và Nhà nước lo”, rằng chính trị là độc quyền của một thiểu số tinh hoa (hoặc ngược lại, chính trị là bẩn thỉu, đừng dây vào; cứ lo việc mình cho tốt là được rồi). Chúng ta chẳng hiểu gì về thế giới bên ngoài, về xã hội văn minh, về cuộc sống mà lẽ ra chúng ta phải được sống, về nhân quyền.

Than ôi. Nói sao để họ hiểu? Và nói sao để tất cả chúng ta đều hiểu?


Ảnh: Tại Cơ quan Hành động Đối ngoại châu Âu (EEAS, tương đương với một bộ ngoại giao chung của EU), với ông Konstantin von Mentzingen, quan chức quan hệ quốc tế, chuyên về Việt Nam và Đông Nam Á).


Bài liên quan: 

Monday, 27 January 2014

Ngắn gọn về UPR (tiếp theo)

Buổi điều trần kéo dài bao lâu?

Trước kia (trong vòng UPR thứ nhất, từ năm 2008 đến hết năm 2011), theo quy định, mỗi buổi điều trần/ kiểm điểm (review) của mỗi quốc gia kéo dài ba tiếng.

Từ vòng thứ hai (2012-2016), thời gian điều trần/ kiểm điểm của mỗi quốc gia tăng thêm nửa giờ, thành ba tiếng rưỡi.

Các nước làm gì trong buổi điều trần?

Mỗi cuộc điều trần/ kiểm điểm được điều phối bởi một nhóm ba quốc gia, nhóm này được gọi là “troika”.

Mỗi buổi điều trần, hay kiểm điểm, như thế diễn ra dưới hình thức một cuộc thảo luận trực tiếp giữa chính phủ của quốc gia được/ bị kiểm điểm với các nước thành viên khác của Liên Hợp Quốc, tại cuộc họp của Nhóm Làm Việc về UPR.

Trong cuộc thảo luận đó, bất kỳ thành viên nào của Liên Hợp Quốc cũng có thể đặt câu hỏi chất vấn, bình luận, hoặc đưa ra kiến nghị đối với chính phủ của quốc gia được/ bị kiểm điểm. Nhóm troika giữ quyền điều phối.

Năm nay, troika trong phiên điều trần của Việt Nam gồm Kazakhstan, Kenya và Costa Rica. Như vậy, tình hình khá thuận lợi cho Đảng và Nhà nước, bởi hai trong ba quốc gia này là hai nơi không sáng sủa gì trong bức tranh nhân quyền thế giới. Kazakhstan là nước cộng hòa cuối cùng thuộc Liên Xô cũ tuyên bố độc lập, Kenya là một nước nghèo ở châu Phi, nền kinh tế còn nhập siêu trong quan hệ với Việt Nam. Cả hai nước đều không thân thiện với xã hội dân sự. (*)

Thảo luận xong thì sao?

Trong vòng ít nhất 48 giờ sau buổi thảo luận trực tiếp giữa quốc gia được/ bị kiểm điểm với các nước thành viên khác của Liên Hợp Quốc, nhóm troika sẽ soạn một báo cáo, gọi là “báo cáo đầu ra”. Báo cáo đầu ra này vừa đánh giá tình hình nhân quyền của quốc gia đó, vừa tập hợp lại tất cả các bình luận và kiến nghị của các nước khác.

Quốc gia được/ bị kiểm điểm có quyền chấp nhận hoặc bác bỏ bất kỳ kiến nghị nào. Việc chấp nhận hoặc bác bỏ này cũng sẽ được ghi rõ trong báo cáo đầu ra.

Cuối cùng, báo cáo đầu ra sẽ được thông qua tại một phiên họp toàn thể sau đó của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Tại phiên họp này, khối xã hội dân sự cũng có thể tham dự và phát biểu ý kiến.

Trước tòa nhà trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York, chiều 24/1/2014

Sau UPR là gì?

Sau khi thực hiện thủ tục Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát, quốc gia được/ bị kiểm điểm có trách nhiệm thực hiện những kiến nghị được đưa vào bản báo cáo cuối cùng; để rồi tới vòng UPR sau đó, họ sẽ tiếp tục “lên thớt” để giải trình, điều trần về những gì đã hoặc chưa làm được.

Các tổ chức thuộc xã hội dân sự được tham gia như thế nào?

Xã hội dân sự, chẳng hạn, các tổ chức phi chính phủ, có thể viết báo cáo riêng của họ, độc lập với nhà nước, để đánh giá tình hình nhân quyền trong nước mình (gọi là báo cáo của các bên liên quan).

Họ cũng có thể tham dự phiên điều trần của quốc gia được/ bị kiểm điểm. Cuối cùng, họ có quyền tham dự phiên họp toàn thể của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc và có các bình luận tổng quan về bản báo cáo đầu ra.

Chú ý là khối xã hội dân sự hoàn toàn có thể đánh giá và báo cáo về tình hình nhân quyền ở nước mình cho Liên Hợp Quốc. Điều này đã được đảm bảo bởi chính cơ chế UPR của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc. Theo đó, các tổ chức phi chính phủ có quyền tố cáo những vi phạm nhân quyền tại nước mình ra thế giới mà không bị coi là “thế lực thù địch chống phá chính quyền, bôi nhọ đất nước”.

Mọi hành vi của nhà nước nhằm trả thù, trả đũa xã hội dân sự nói chung và những người tố cáo nói riêng, đều là đi ngược lại với các cơ chế nhân quyền của Liên Hợp Quốc.

Trong cuộc gặp chiều 24/1/2014 tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York với phái đoàn vận động cho nhân quyền Việt Nam, bà Aida Martirous-Nejad, quan chức nhân quyền của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền, cũng đã nhấn mạnh điều này và yêu cầu những thành viên trong đoàn theo sát các hoạt động của chính quyền “hậu UPR”, báo cáo ngay cho Liên Hợp Quốc về những hành động mang tính chất trả đũa, đàn áp nếu có.

(*) Nếu không có gì thay đổi, phái đoàn vận động về nhân quyền cho Việt Nam, gồm đại diện các nhóm dân sự Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Dân Làm Báo, No-U Việt Nam, Con Đường Việt Nam, Hội Phật Giáo Hòa Hảo, Hội Ái hữu Tù nhân Chính trị và Tôn giáo, sẽ có cuộc gặp với Costa Rica – một trong ba nước thành viên nhóm troika kỳ UPR này – vào trước ngày diễn ra phiên điều trần của Việt Nam, tức là trước 5/2/2014.

Bài viết sử dụng tư liệu của Văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về Nhân quyền. Bài đã được đăng tại: http://danlambaovn.blogspot.com/2014/01/ngan-gon-ve-upr-tiep-theo.html#.UuZfYxD-LIU


Sunday, 26 January 2014

Ngắn gọn về UPR

UPR là gì?

UPR (Universal Periodic Review) là thủ tục Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát đối với tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc (chứ không phải là chỉ với các thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc – như một số người có thể lầm tưởng vì thấy Việt Nam chuẩn bị tiến hành “làm UPR” sau khi trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc).

Sáng kiến UPR được Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua vào ngày 15/3/2006. Tất cả các nước thành viên của Liên Hiệp Quốc đều lần lượt thực hiện thủ tục kiểm điểm định kỳ này, khi nào hết một vòng (gần 200 quốc gia) thì lại tiếp tục vòng thứ hai, thứ ba... cứ thế quay vòng. Hiện nay, hoạt động kiểm điểm định kỳ đã được thực hiện sang vòng thứ hai.

Một quốc gia, khi tiến hành kiểm điểm UPR, sẽ phải báo cáo trước Liên Hiệp Quốc về tình hình nhân quyền của nước mình, những gì chính quyền đã làm để cải thiện nhân quyền cho người dân và đã tuân thủ các nghĩa vụ của mình về nhân quyền như thế nào.

Bao giờ đến phiên Việt Nam?

Mỗi năm, Nhóm Làm Việc về UPR của Liên Hiệp Quốc tổ chức ba kỳ họp, mỗi kỳ kéo dài khoảng hai tuần. Tại mỗi kỳ, có 16 quốc gia được/bị xét duyệt về tình hình nhân quyền. Như vậy, trong một năm, với ba kỳ UPR, có 48 quốc gia điều trần, mỗi nước điều trần trong vòng ba tiếng đồng hồ.

Và trong vòng bốn năm 2008-2011 (vòng UPR đầu tiên), đã có 192 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc thực hiện thủ tục Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát.

Bước sang vòng UPR thứ hai, bắt đầu từ năm 2012 đến năm 2016, người ta đã điều chỉnh lại: Mỗi năm, Nhóm Làm Việc về UPR của Liên Hiệp Quốc vẫn tổ chức ba kỳ họp, nhưng mỗi kỳ có 14 (chứ không phải 16) quốc gia được/bị xét duyệt. Vậy là mỗi năm, với ba kỳ UPR, có tổng cộng 42 quốc gia điều trần, mỗi nước phải điều trần trong vòng ba tiếng rưỡi.

Việt Nam đã có một lần thực hiện thủ tục UPR, vào kỳ UPR thứ năm, tổ chức vào 4-15/5/2009. Lần tham gia sắp tới của Việt Nam là lần thứ hai, vào kỳ UPR thứ 18, kéo dài từ 27/1 đến 7/2/2014. Buổi trình bày của Việt Nam được tiến hành ngày 5/2.

Ai có quyền “kiểm điểm” Việt Nam?

Nhóm Làm Việc về UPR của Liên Hiệp Quốc là cơ quan có quyền kiểm điểm, đánh giá tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Căn cứ vào đâu để “kiểm điểm”?

Nhóm Làm Việc về UPR của Liên Hiệp Quốc căn cứ vào ba nguồn thông tin - dữ liệu sau:

1. Báo cáo quốc gia, tức là báo cáo của Chính phủ Việt Nam (hay như chúng ta đều biết, của “Đảng và Nhà nước Việt Nam”).

2. Báo cáo của Liên Hiệp Quốc, bao gồm:

- thông tin từ các chuyên gia và nhóm nghiên cứu độc lập về nhân quyền (gọi là “Báo cáo viên Đặc biệt” của Liên Hiệp Quốc - UN Special Rapporteur). Hiện nay Liên Hiệp Quốc có 37 Báo cáo viên Đặc biệt, đều là những chuyên gia trong lĩnh vực liên quan. Ví dụ, ông Frank William La Rue – Báo cáo viên Đặc biệt của Liên Hiệp Quốc về tự do ngôn luận – là một luật sư và nhà báo nổi tiếng người Guatemala.

- thông tin từ các định chế nhân quyền khác của Liên Hiệp Quốc (ví dụ từ Ủy ban Nhân quyền Liên Hiệp Quốc, từ Ủy ban Các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa, v.v.). Hiện nay Liên Hiệp Quốc có 10 định chế như vậy.

Chính phủ Việt Nam không hào hứng với việc để cho các Báo cáo viên Đặc biệt vào nước mình, và đến nay đã từ chối nhiều người, trong đó có ông Frank William La Rue, không cho họ vào Việt Nam “thanh kiểm tra” tình hình nhân quyền trong lĩnh vực chuyên môn liên quan. Trường hợp có người được chấp nhận cho thăm Việt Nam thì báo chí cũng chỉ được đưa tin một cách hạn chế, theo đúng định hướng.

3. Báo cáo của các bên liên quan (stakeholders), trong đó có cả xã hội dân sự, tức là các tổ chức phi chính phủ.

Đảng và Nhà nước, cho đến nay, “quản lý” khá tốt xã hội dân sự – từ “quản lý” là cách nói giảm nói tránh của “kiểm soát”. Cho nên, có thể thấy là ở Việt Nam không tồn tại xã hội dân sự thực chất với các tổ chức phi chính phủ độc lập. Nói cách khác, xã hội dân sự ở nước ta được dựng nên chủ yếu nhờ các tổ chức phi chính phủ của chính phủ (GONGO).

Các nhóm dân sự này đều độc lập, 
không chịu sự kiểm soát của Đảng và Nhà nước
(do đó, không được thừa nhận).

Dựa vào ba nguồn thông tin - dữ liệu tham khảo nói trên (của nhà nước, của Liên Hiệp Quốc, và của xã hội dân sự), Nhóm Làm Việc sẽ tiến hành đánh giá, xét duyệt, kiểm điểm (review) tình hình nhân quyền của quốc gia được/ bị kiểm điểm định kỳ.

Bài viết sử dụng tư liệu của Văn phòng Cao ủy Liên Hiệp Quốc về Nhân quyền. Bài đã được đăng tại: http://danlambaovn.blogspot.com/2014/01/ngan-gon-ve-upr.html#.UuR2VBD-LIU


Sunday, 12 January 2014

Chuyện chú Ba

Theo chỗ nhà cháu được biết thì trong đời thường, chú Ba là một người cha tuyệt vời. Chú thương yêu ba em vô cùng, phải nói là hiếm có người cha nào thương con như vậy, đến nỗi dù lương tháng chỉ mười mấy triệu, chú cũng cùng dì ráng hết sức để chăm lo các em, đưa các em ra nước ngoài ăn học cho bằng bạn bằng bè. Thiên hạ có đứa xấu mồm bảo chú tham nhũng; nhà cháu thì chỉ thấy chú thương con mới làm thế: sẵn sàng hy sinh cả danh dự, chấp nhận tiếng xấu "gia đình trị" để lo lắng cho sự nghiệp của con.

Ai từng có cơ hội làm việc cùng chú cũng đều dành những lời lẽ tốt đẹp nhất để nói về chú: đẹp trai, thông minh, năng động, phải nói là tài năng. Chú có thể đọc diễn văn một mạch 45 phút không cần cầm giấy. Chú có thể nói chính xác diện tích quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, phần đảo nào đang do quân đội nước nào nắm giữ. Chú còn là người quyết đoán, dám nghĩ, dám làm: Một tay chú xoay xở nuôi nấng, bảo lãnh cả VinaShin, phát triển rồi cơ cấu lại các tập đoàn kinh tế. 

Nhưng mà anh em người ta quý chú nhất ở cái nghĩa, cái tình của chú. Chú Ba cháu là người rất trọng ân nghĩa. Ai đã làm gì cho chú thì chú nhớ suốt đời, và không chỉ nhớ suông, chú còn đền đáp người ta xứng đáng, quyết không bao giờ để ai bị thiệt, nhất là khi người ta lại vì chú mà bị thiệt thì chú không thể nào chấp nhận. Nên dù ở địa phương hay ở trung ương, ở Kiên Giang hay Hải Phòng, Hà Nội hay TP.HCM, chú đều được người người thương mến, quý trọng. Bạn học, đồng đội cũ quý chú đã đành, mà các đồng chí của chú bây giờ cũng “mê anh Ba” lắm. Họ bảo ở chú vừa có “dũng”, vừa có “trí”, lại vừa có chữ “nhân” - mấy năm làm lãnh đạo, chú chưa từng kỷ luật ai.

Mai sau này, nhỡ có lúc nào chẳng may chú bị sa cơ lỡ vận, thằng khốn nào chỉ điểm đẩy chú ra tòa, chắc là ai cũng thương chú. Lúc ấy thể nào báo chí cũng viết về nụ cười của chú, về cái bắt tay ấm áp của chú, về chiếc cravat đỏ tuyệt đẹp của chú. Một con người hào hiệp, chí nghĩa, chí tình là thế... Có khi nhà cháu lưu vài bài báo lại làm mẫu, sau này chỉ việc chỉnh sửa vài từ, thay tên nhân vật là đăng được. Kiểu như là “Vẫn còn là anh Ba”, “18 năm sau, còn ai nhớ đến anh Ba”, hoặc chơi hẳn thế này cho máu: 

“Chẳng biết ba trăm năm lẻ nữa, thiên hạ ai người khóc chú Ba?”.

-------

Bài liên quan: 


Thursday, 9 January 2014

Ý đồ xấu của Nguyễn Như Phong

  • Nguyễn Anh Tuấn – Trịnh Hữu Long – Phạm Đoan Trang 

Ngay sau khi nhân chứng Dương Chí Dũng khai Thứ trưởng Bộ Công an Phạm Quý Ngọ là người gọi điện báo “hung tin” cho Dương Chí Dũng và khuyên nên lánh đi, báo PetroTimes của Đại tá-Tổng Biên tập Nguyễn Như Phong đã lập tức có một loạt bài bày tỏ sự thông cảm, nuối tiếc và thương xót đối với cựu Đại tá CA Dương Tự Trọng và Thượng tướng Phạm Quý Ngọ: “Vẫn còn là Dương Tự Trọng!”, “18 năm sau, còn ai nhớ đến Dương Tự Trọng”, và sự bênh vực ra mặt thể hiện ở bài thứ ba “Suy ngẫm về lời khai của Dương Chí Dũng cho Tướng Phạm Quý Ngọ”.

Đầy mùi ngụy biện

Ba bài tràn ngập những lỗi ngụy biện vốn thường thấy trong các bài báo “tuyên truyền”, “định hướng dư luận” của ngành công an. Chẳng hạn, đó là chiêu đánh vào tình cảm (appeal to emotion): “Người ta vẫn nói người sống nặng tình thường hay chịu khổ. Và quả thật, ở tuổi 52, đến nửa bên kia cuộc đời, Dương Tự Trọng mới thấm thía được... Ít ai biết, ngoài tài đánh án, Dương Tự Trọng còn đam mê nghệ thuật và thích làm thơ...”. 

Độc giả chẳng biết thế nào, nhưng cứ nghe giọng văn sến mượt mà của các nhà báo khoác áo công an – hay là công an khoác áo nhà báo – là dễ mủi lòng lắm, vì nói chung người đọc Việt Nam vốn nặng tình, ít duy lý, lại thiếu thông tin đa chiều từ lâu nay. Họ không biết đến, hoặc sẽ nhanh chóng quên đi, rằng Dương Tự Trọng có mặt và đã trực tiếp cầm loa chỉ huy “trận đánh đẹp” đầm Tiên Lãng ngày 5/1/2012. Họ sẽ nhanh chóng quên đi việc Dương Tự Trọng đã bỏ ra hàng núi tiền để giúp anh mình thoát tội, mà tiền đó, nếu chỉ dựa vào mức lương thưởng của một viên công an, mười kiếp nữa Dương Tự Trọng cũng không kiếm ra được. Họ sẽ nhanh chóng quên đi việc Dương Tự Trọng dung nạp cả tội phạm làm đệ tử. Họ sẽ chỉ còn thấy một đại tá công an anh hùng, oai phong, nghĩa hiệp, trong công việc thì anh xả thân tận tụy, trong tình cảm thì anh cao cả, trong đời thường thì anh bay bổng lãng mạn và nhiều ưu tư như một nghệ sĩ v.v. 

Đó là chiêu viện dẫn quyền lực (appeal to authority): “Việc ông Ngọ vẫn được Chủ tịch nước phong cấp hàm Thượng tướng là minh chứng rõ nhất cho việc ông không ăn hối lộ của Dương Chí Dũng”. Chủ tịch nước không phải là người có thẩm quyền (authority) chính đáng để nói rằng công dân X. là kẻ tham nhũng còn công dân Y. thì không. Áp dụng đúng cái lập luận tạm gọi là “ngụy biện Như Phong” này thì có thể tuyên bố: “Việc ông Dương Chí Dũng vẫn được phong Cục trưởng là minh chứng rõ nhất cho việc ông là một cán bộ có năng lực”.

Song, bỏ qua tất cả những ngụy biện trắng trợn của Petrotimes và đặc biệt là của Đại tá-Tổng Biên tập Nguyễn Như Phong, cái cần nói ở đây là một ý đồ nguy hiểm của Nguyễn Như Phong trong việc dùng phương tiện truyền thông “nhà trồng được” để quật lại phe đối thủ. Ít nhất thì, căn cứ bài viết “Suy ngẫm về lời khai của Dương Chí Dũng cho Tướng Phạm Quý Ngọ”, cũng có thể nói rằng ông Như Phong có ý đồ xấu đối với các đồng nghiệp báo chí của ông.

Đe dọa báo chí?

Nguyễn Như Phong viết: “Đã có những tờ báo giật tít với giọng điệu hả hê, khoái chí khi thấy có một lãnh đạo cao cấp của lực lượng công an "dính chàm". Người ta đang chờ đợi Tòa sẽ xử lý ra sao trước những thông tin này”. Sau câu đá đồng nghiệp (như vẫn thường làm thế), ông Phong vạch đường chỉ lối luôn: “Như vậy, bước tiếp theo là Tòa sẽ chuyển hết hồ sơ vụ án cho Viện Kiểm sát. Cơ quan này sẽ nghiên cứu hồ sơ, củng cố chứng cứ và sẽ có quyết định: Hoặc là kháng nghị quyết định khởi tố điều tra vụ án của Tòa, hoặc giao cho một cơ quan điều tra tiến hành điều tra… Nói tóm lại là “còn tốn thời gian lắm”.

Sao Như Phong lại đưa khả năng Viện Kiểm sát kháng nghị quyết định khởi tố điều tra vụ án của Tòa (tức là bác bỏ quan điểm của Tòa) lên trước, coi như một khả năng cao? Trong khi trên thực tế, chuyện cơ quan công tố bác đề nghị của tòa, cũng đồng nghĩa với phủ nhận toàn bộ quá trình điều tra, là gần như không xảy ra. Đặt một chuyện gần như không xảy ra vào vị trí “khả năng cao”, ông định dọa các nhà báo đã đưa tin “chống lại đại ca Ngọ” hay sao, ông Nguyễn Như Phong?

Hàm ý đe dọa còn lộ liễu hơn ở vế sau: “hoặc giao cho một cơ quan điều tra tiến hành điều tra... Nói tóm lại là “còn tốn thời gian lắm”. Ý ông Nguyễn Như Phong hẳn là vụ việc này trước sau cũng thuộc thẩm quyền của Bộ Công an (cơ quan đang cần bị/được điều tra thì lại trở thành cơ quan điều tra) và thời gian sẽ còn kéo dài...

Cũng trong bài viết này, Đại tá Nguyễn Như Phong phân tích (nghe có vẻ rất hợp lý): 

Ngay khi bị bắt ở Campuchia, Dương Chí Dũng đã khai ra việc biếu ông Ngọ 500.000 đô la. Khi đưa Dương Chí Dũng về tới TP Hồ Chí Minh, Dũng vẫn khai như vậy. Nhưng rồi ít ngày sau, Dương Chí Dũng đã viết bản khai lại và xin lỗi ông Ngọ vì đã vu oan cho ông. Nguyên nhân tại sao lại vu oan cho ông Ngọ thì được Dương Chí Dũng nói trong bản khai ấy rằng do hoảng loạn tâm thần và căm tức ông Ngọ về việc chỉ huy quân lùng bắt Dương Chí Dũng ở khắp nơi. (Chẳng hiểu vì sao trước Tòa, khi Dương Chí Dũng khai ra việc này mà Tòa lại không đưa lời khai và lời xin lỗi của Dũng trước đó ra?)”.

Vậy, ông Nguyễn Như Phong sao lại lờ đi chi tiết là, Dương Chí Dũng đã khai tại tòa rằng trong quá trình điều tra bị ép cung, lo sợ bị giết hại nên Dương Chí Dũng mới phải làm theo lời điều tra viên – viết thư xin lỗi ông Ngọ.

Ý đồ nhằm vào Chủ tịch nước

Mới đọc qua, phép ngụy biện “Và việc ông Ngọ vẫn được Chủ tịch nước phong cấp hàm Thượng tướng là minh chứng rõ nhất cho việc ông không ăn hối lộ của Dương Chí Dũng” có thể chỉ cho ta thấy dụng ý xu nịnh lãnh đạo của Nguyễn Như Phong. Nhưng thật ra ngụy biện Như Phong này có một dụng ý thâm hiểm chứ không đơn giản là xu nịnh: Đại tá đang khéo léo đổ trách nhiệm sang cho Chủ tịch nước, người được cho là thuộc “phe tấn công” trong vụ án này.

Có một chi tiết (mà độc giả đã biết qua báo chí nhưng chưa kiểm chứng được), là Chủ tịch nước trước đây đã từ chối gặp Dương Chí Dũng. Nghĩa là dù thế nào, trước mắt công chúng, ông cũng ít nhiều thể hiện mình là người kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Cái cách “lôi Chủ tịch nước vào cuộc” của Nguyễn Như Phong chỉ là sự chia rẽ, phân hóa nội bộ “phe tấn công”, tách Chủ tịch nước ra khỏi những người ủng hộ ông, hay nói đúng hơn, khỏi những người đang muốn chống tham nhũng. 


Ra sức bao biện cho đồng nghiệp công an...

Nguyễn Như Phong phán xét độc giả - người ngoài: “Nhưng họ không hiểu rằng, ông Phạm Quý Ngọ khi ấy là Trưởng ban Chuyên án Vinalines, là người đề xuất các biện pháp nghiệp vụ đặc biệt để giám sát Dương Chí Dũng, đảm bảo nhất cử nhất động của Dũng đều được biết. Không đời nào ông lại dại dột dùng điện thoại của mình hoặc mượn điện thoại ai đó gọi cho Dương Chí Dũng. Và chính ông là người ký lệnh bắt Dương Chí Dũng, rồi cũng chính ông chỉ huy việc lùng bắt”. 

Việc ông Phạm Quý Ngọ là Trưởng ban Chuyên án không phải là chứng cớ ngoại phạm để chứng tỏ ông Ngọ không báo tin cho Dương Chí Dũng. Tương tự, coi việc ông Ngọ ký lệnh bắt và chỉ huy lùng bắt Dương Chí Dũng là bằng chứng bảo đảm ông này “không đời nào” cấu kết bảo vệ Dương Chí Dũng, là một lập luận thật ngây thơ... không thể có ở công an!

Còn “ngây thơ cụ” hơn nữa là lập luận “xách một túi tiền nặng 5kg không phải là chuyện đùa”. Một người đàn ông khỏe mạnh hồng hào như Dương Chí Dũng nhấc một chiếc valy (cặp công tác) nặng 5k, có gì buồn cười và trinh thám không? 

Cuối bài viết bênh vực đại ca ra mặt, ông Nguyễn Như Phong nhận định: “Từ xưa đến nay, chuyện bị cáo ra Tòa khai vấy theo kiểu "trâu lấm vẩy bùn" cho người khác là không hiếm. Còn trong nghề công an, chuyện trinh sát bị đối tượng cho “leo cây”, cũng là chuyện chẳng hiếm. Chỉ có điều rằng nếu chỉ căn cứ theo những lời khai ấy mà suy diễn, rồi đặt ra những dấu hỏi rằng thế này, rằng thế khác thì xem ra chưa phải là công tâm!”. Rồi ông kết luận: “Rất mong các cơ quan tố tụng khẩn trương vào cuộc, điều tra cho ra sự thực”.

Là người trong ngành, ông Nguyễn Như Phong tất nhiên biết rõ những chuyện bị cáo ra tòa khai lung tung, đổ vấy tội cho người này người khác. Đó là chuyện có thật. Nhưng ông muốn “các cơ quan tố tụng khẩn trương vào cuộc điều tra”, là các cơ quan nào? Nói cách khác, ai sẽ là người điều tra khi chính cơ quan điều tra phạm pháp? Ông không định cùng các đồng nghiệp công an của ông – dưới trướng Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ – đứng ra “thầu” vụ này đấy chứ? Cái đó người ta gọi là “xung đột lợi ích” ông ạ, không được đâu.

Nếu có những lời khai cho rằng cả Bộ trưởng Trần Đại Quang lẫn Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ – nghĩa là hai quan chức đầu ngành của Bộ Công an, riêng Trần Đại Quang còn là ủy viên Bộ Chính trị – đều có liên quan đến chạy án, tham nhũng, làm lộ bí mật công tác, v.v., thì cơ quan nào có thể đứng ra khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử Bộ trưởng Công an? Câu trả lời, trong điều kiện lý tưởng, là Quốc hội sớm lập Ủy ban Điều tra Lâm thời độc lập. Kết quả điều tra và những người tiến hành sẽ ra điều trần trước Quốc hội trong một phiên công khai cho bàn dân thiên hạ cùng xem xét. 

… và chơi xấu đồng nghiệp báo chí

Bài viết của Nguyễn Như Phong, ngoài lời lẽ công khai bênh vực Thứ trưởng Phạm Quý Ngọ, bất chấp tính khách quan – độc lập của báo chí, còn gửi thông điệp đe dọa đến các nhà báo, các tờ báo đã cả gan đưa tin và “hả hê, khoái chí” khi thấy đại ca Ngọ dính chàm.

Cho đến nay, các nhà báo trong mảng nội chính chắc chưa ai quên được vụ PMU 18 và việc “phe bị đánh” đã phản đòn ngoạn mục và tàn bạo như thế nào. Vụ án Dương Chí Dũng-Dương Tự Trọng là một vụ án động chạm đến toàn ngành công an, vì vậy, chuyện phe này quật lại là hoàn toàn có thể. Hiện tại, có dấu hiệu cho thấy phe công an đang phản công, khi mà cả CAND, Petrotimes, trandaiquang.net, nguyentandung.net... đều đang đầu tư công sức, ngày đêm khẩn trương viết bài bảo vệ ngành, bảo vệ nhân quyền (quyền được xét xử công bằng, quyền tiếp cận luật sư, quyền im lặng, v.v.) của các đồng chí đã và chưa bị lộ. Còn tệ hơn thế nữa là khả năng thỏa hiệp giữa các phe phái... 

Chỉ còn biết mong các nhà báo (Một Thế Giới, Pháp luật TP.HCM, Thanh Niên, Tuổi Trẻ...) hãy cẩn thận, và độc giả hãy tỉnh táo...

Bài liên quan (cùng tác giả): "Ông trời con" Hoàng Kông Tư vs. BBC Việt ngữ 

Tuesday, 31 December 2013

Nhìn lại 2013 từ lăng kính nhân quyền

2013 với sự lớn mạnh không ngờ của XHDS

Vài năm gần đây, một số khái niệm vốn lâu nay bị coi là “nhạy cảm”, “đáng sợ” bỗng dưng xuất hiện trở lại ở Việt Nam; mặc dù vẫn là “nhạy cảm”, vẫn bị chính quyền nhìn nhận với một thái độ thù địch. Đó là các khái niệm như: nhân quyền (không biết nếu gọi là “quyền con người” thì có đỡ bị chính quyền cảnh giác và ghét bỏ không?), tự do, dân chủ, và xã hội dân sự (XHDS).

XHDS không phải là chưa từng tồn tại ở Việt Nam. Ngược lại, những hình thức kết giao tự nguyện - như các hương, họ, phái, sinh hoạt nơi đền chùa, đình làng, v.v. - đã từng rất phổ biến và là rường cột của đời sống của người dân Việt Nam, ít nhất là ở nông thôn miền Bắc, trong hàng thế kỷ. Thực sự chỉ đến khi Đảng Cộng sản lên cầm quyền, với việc thi hành các chính sách khắc nghiệt, cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, biến xã hội thành trại lính nơi “mỗi người dân là một chiến sĩ”, thì XHDS mới bị phá vỡ. Tocqueville từng viết, đại ý là các chế độ độc tài không cần người dân thương yêu chúng mà chỉ cần người dân đừng thương yêu nhau và đừng kết hợp với nhau để cho chúng dễ không chế một xã hội phân rã (Nguyễn Gia Kiểng, Tổ quốc ăn năn, NXB Chúng Ta, 2012). Cho nên “Đảng ta” không thích XHDS. Đảng coi đó là một “thủ đoạn của diễn biến hòa bình” và kiên quyết “không để các tổ chức XHDS bị lợi dụng”!

Song, năm 2013, XHDS ở Việt Nam đã lớn mạnh như một sự bùng phát vượt khỏi tầm kiểm soát của Đảng. Lần đầu tiên, người dân công khai tuyên bố thành lập các hội, các nhóm, diễn đàn, mà khỏi cần đến luật về hội và mớ thủ tục “xin-cho” mà Đảng vẫn ưa dùng: Hội Anh Em Dân Chủ, Mạng Lưới Blogger Việt Nam, Hội Phụ nữ Nhân quyền, Hội Bầu bí Tương thân, v.v. Từ xuất phát điểm ban đầu là những hội nhóm thành lập trên mạng, họ đã “xuống đường” và có những hoạt động thực tiễn: Nhóm Công dân tự do tổ chức dã ngoại nhân quyền và phân phát Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền, No-U làm thiện nguyện, Mạng Lưới Blogger Việt Nam đến các đại sứ quán và tổ chức quốc tế để trao Tuyên bố 258. Một số tổ chức NGO quy mô nhỏ trong nước, vốn lâu nay chịu sự dò xét, giám sát của chính quyền, cũng đã cố vươn dậy trong cái vòng kim cô chật hẹp, để góp phần lên tiếng về tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Ngày Nhân quyền Quốc tế 10/12 có thể đã là một ngày hội của XHDS và những công dân tự do nếu họ không bị chính quyền ra sức chống phá, đàn áp: Chương trình “Tôi tự do” bị ép hủy, các buổi kỷ niệm Ngày Nhân quyền ở Hà Nội và TP.HCM bị trấn áp, blogger tham dự bị hành hung và bị người của chính quyền tấn công bằng… mắm tôm.

Nhưng sự kết hợp của người dân, sự phát triển của XHDS, là không thể bị phá hoại một lần nữa như thời kỳ Đảng còn tự tung tự tác tuyệt đối. Từng hội nhóm mới vẫn ra đời và hoạt động ngày càng công khai. Sau “chiến dịch 258”, Mạng Lưới Blogger Việt Nam tuyên bố thành lập chính thức vào đúng ngày Quốc tế Nhân quyền. Diễn đàn Xã hội Dân sự thành lập sau một tuyên bố đòi các quyền dân sự - chính trị, một động thái mà Đảng coi như hành vi tự tiện, ngang nhiên - thì ra ngoài sự kiểm soát của đảng mà lị. Báo Quân Đội Nhân Dân gầm lên: “Gần đây, một số người lập ra cái gọi là “diễn đàn xã hội dân sự” với ý định không úp mở thúc đẩy “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam”.

Hình ảnh No-U Việt Nam trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc 
ở Philippines. Nguồn ảnh: Reuteurs

Trong sự lớn mạnh của XHDS năm 2013 này, còn có một sự kiện đáng chú ý: Lần đầu tiên, các tổ chức XHDS của Việt Nam đã có sự hợp tác (tất nhiên là ngoài bàn tay kiểm soát của Đảng) với các tổ chức trong khu vực, đặc biệt là ở Philippines. Tháng 7, No-U Việt Nam xuất hiện trong cuộc biểu tình chống Trung Quốc do Liên minh Biển Tây Philippines tổ chức. Tháng 10, một nhóm bạn trẻ ở Việt Nam sang Philippines theo lời mời của Asian Bridge để tìm hiểu về XHDS ở Philippines. Họ đã học, say mê và vui thích, và đã trở về Việt Nam bất chấp việc bị công an đe dọa, sách nhiễu. Sự can thiệp của chính quyền vào những hoạt động dân sự bình thường, cuối cùng, đã trở thành một trò lố bịch và vô duyên trong mắt các bạn trẻ và cộng đồng quốc tế.

Nở rộ “luật ngu”

Nói từ giác độ điều hành vĩ mô, không ra những đạo luật yếu kém, gây thiệt hại cho dân thì không phải là chính quyền Việt Nam. Nói cách khác, ban hành những “luật ngu” đã thành chuyện bình thường ở Việt Nam từ hàng chục năm nay. Nhưng chỉ đến thời Internet, những yếu kém ấy mới bị “phơi áo”, và 2013 là một năm đặc biệt chứng kiến nhiều “luật ngu”: Nghị định 72 về “quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng”, Nghị định 174 về “xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện”, Nghị định 159 về “xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản”, Nghị định 208 về “các biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý hành vi chống người thi hành công vụ”, v.v.

Các đạo luật ấy không chỉ “ngu” - chẳng hạn quy định trang tin điện tử cá nhân không được cung cấp thông tin tổng hợp - mà còn “ác”, bởi chúng nhằm hạn chế quyền tự do của công dân, gây thiệt hại, phiền phức cho xã hội và dành phần lợi về nhà nước với lý do “để thuận tiện cho việc quản lý”. Vâng, để giúp việc cai quản xã hội được dễ dàng thì cán bộ thi hành công vụ có quyền nổ súng để phòng vệ, bắt giữ người chống đối; chính quyền có quyền phạt tiền từ 30 triệu đến 50 triệu đồng với hành vi “tuyên truyền chống Nhà nước” mà chưa đến mức truy cứu hình sự (nôm na là chưa đủ chứng cứ để bắt mày thì tao cũng phạt tiền được mày). Và với Nghị định 159 thì tất cả các ngành nghề, đối tượng vốn coi báo chí là kẻ thù tiềm tàng lâu nay, bây giờ đều có thể nghiễm nhiên xử phạt báo chí, từ chủ tịch UBND cấp huyện đến công an, bộ đội, cảnh sát biển, hải quan, cơ quan thuế, quản lý thị trường.

Sự xuất hiện nở rộ những đạo luật ngu và ác cho thấy việc vi phạm nhân quyền ở Việt Nam đã trở thành có hệ thống và được thể chế hóa. Nhưng nó cũng là biểu hiện của sự kém cỏi và bất lực của chính quyền một đảng trong công việc quản trị, điều hành đất nước.

Trò hề sửa đổi Hiến pháp

Công cuộc sửa đổi Hiến pháp của Đảng đã “kết thúc thắng lợi” với việc Đảng có được bản hiến pháp theo ý muốn: tiếp tục khẳng định vị trí “tiên phong” và vai trò lãnh đạo của Đảng, lấy chủ nghĩa Mác-Lê và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Bản hiến pháp 2013 đạt được các mục đích Đảng đề ra từ đầu là “thể chế hóa kịp thời đường lối, các chủ trương, chính sách lớn”, “ghi nhận những thành quả, thành tựu to lớn của đất nước” do Đảng khởi xướng.

Đấy là đứng trên giác độ lợi ích của Đảng. Còn từ giác độ nhân quyền thì bản hiến pháp mới chẳng mang lại lợi ích gì. Các quyền công dân “được ban phát” về cơ bản vẫn như hiến pháp 1992. Khái niệm “quyền con người” được đưa vào một cách chiếu lệ cho đúng “mốt”. Ân xá Quốc tế nhận xét, bản hiến pháp đã “liên tục đặt luật quốc gia lên trước quyền của các cá nhân, kể cả những quyền đã được đề cập trong các nghĩa vụ của Việt Nam trên cơ sở công ước hiện hành”.

Đối với xã hội, các đợt lấy ý kiến và thảo luận sửa đổi Hiến pháp gây lãng phí khổng lồ. Trả lời BBC, TS. Lê Đăng Doanh cho biết: “Các cuộc họp ấy tốn ngân sách nhà nước 250 tỷ đồng, không kể chi phí thời gian, cũng như không kể chi phí của các cấp, các ngành tự chi ra, để dẫn đến là hầu như không có ý kiến nào đóng góp đã được tiếp thu cả”.

Sự lố bịch của màn kịch tưởng như không có giới hạn: Ngày 3/4, tỉnh Bình Dương tổ chức họp báo công bố kết quả lấy ý kiến nhân dân về sửa đổi Hiến pháp, theo đó, số lượt ý kiến đóng góp từ ngày 12/3 tới ngày 27/3 trong toàn tỉnh lên tới 44.459.628 trên tổng dân số 1,7 triệu người. Trong số ý kiến đóng góp này, có 44.455.188 người tán thành nguyên văn với bản Dự thảo Hiến pháp, chiếm tỷ lệ 99,99% dân số tỉnh Bình Dương. Thật là một tỉnh cách mạng!

Báo Quân Đội Nhân Dân số ra ngày 21/4 trích lời Uỷ ban Thường vụ Quốc hội cho biết, “Sau 3 tháng triển khai nghiêm túc, dân chủ Nghị quyết của Quốc hội, Chỉ thị của Bộ Chính trị về tổ chức lấy ý kiến nhân dân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, đã có hơn 26 triệu lượt ý kiến góp ý của cơ quan, tổ chức, cá nhân về Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992, với 28.140 hội nghị, hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến góp ý”. Mới ba tháng mà đã có đến hơn 28.000 cuộc họp.

Vấn đề là, theo khảo sát “Chỉ số Công lý 2012” (UNDP, Hội Luật gia Việt Nam, Trung tâm Nghiên cứu Phát triển và Hỗ trợ Cộng đồng thực hiện), 42,4% dân chúng Việt Nam không biết gì về hiến pháp hoặc chưa bao giờ nghe nói đến. Với 57,6% còn lại thì có tới 23% không hề biết Việt Nam đang tổ chức góp ý sửa đổi Hiến pháp.

Xét cho cùng, đây có vẻ lại càng là một thành công to lớn của Đảng: Đa số người dân sẽ thấy “tự nhiên thì Đảng đem Hiến pháp ra sửa”, “tự nhiên thì Đảng kêu gọi toàn dân góp ý sửa đổi, rồi người ta góp ý xong cũng chẳng để làm gì”. Dân chúng không hiểu và do đó, không quan tâm; còn Đảng thì nghiễm nhiên có được một hiến pháp mới hợp ý.

Tuy nhiên, trong thời đại Internet, với sự phát triển của truyền thông xã hội, những ý đồ của Đảng dù thế nào vẫn bị không ít thì nhiều người nhận ra. Ít nhất thì cái kết 97% đại biểu Quốc hội bỏ phiếu thông qua dự thảo hiến pháp của Đảng cũng đánh dấu cảnh hạ màn vụng về của một trò hề tốn kém.

O ép nghệ sĩ và quyền tự do sáng tạo

Những cái tên này gợi cho bạn điều gì: Asia 71, Thằng mõ 1 - Cái nường 8x, Bụi đời Chợ Lớn, Đại gia, Cafe Cộng, Zone 9?

Zone 9 bị ép giải tán.
Nguồn ảnh: FB ca sĩ Nguyệt Ca Enci
Năm nay (cũng như mọi năm khác), chính quyền tiếp tục “tăng cường công tác thanh kiểm tra, xử lý nghiêm” các trường hợp văn nghệ sĩ lợi dụng... quyền tự do sáng tác để “xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu” Việt Nam, tức là nói những điều Đảng và Nhà nước không muốn nghe. Đầu năm, đĩa Asia 71 bị cấm tại Việt Nam, 6 nghệ sĩ tham gia bị cấm về nước biểu diễn. Tháng 5, CD “Thằng mõ 1 - Cái nường 8x” của nhạc sĩ Ngọc Đại bị thu hồi và tiêu hủy. Tháng 6, phim “Bụi đời Chợ Lớn” bị kiểm duyệt, cấm chiếu vì “không phản ánh đúng hiện thực xã hội Việt Nam nói chung và TP.HCM nói riêng”. Tháng 8, tiểu thuyết “Đại gia” của nhà văn Thiên Sơn bị cấm phát hành vì “cường điệu quá mức” trong việc phản ánh hiện thực xã hội. Cũng tháng 8, chuỗi cửa hàng cafe Cộng của ca sĩ Linh Dung bị “ngả vạ” vì “tội” chế Lenin toàn tập, xuyên tạc thơ Bác Hồ. Cuối năm, tụ điểm vui chơi Zone 9 - “hợp tác xã nghệ thuật”, nơi gặp gỡ ưa thích của bạn trẻ và giới văn nghệ sĩ ở Hà thành - bị buộc phải đóng cửa từ 23/12 không rõ lý do. Chính quyền còn tiến hành “đuổi kỳ cùng” các chủ kinh doanh ở Zone 9, cắt điện, nước rõ sớm, không cho họ đủ thời gian để dọn đồ!

Nói theo ngôn ngữ của Đảng, thì công tác quản lý văn hóa hiện còn nhiều bất cập. Những người nắm quyền sinh quyền sát với văn nghệ sĩ và các sản phẩm văn hóa lại là những đầu óc thủ cựu và thấp văn hóa nhất. Cái khổ cho Việt Nam là bất cập này lại là bất cập chung, tồn tại ở mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề chứ không chỉ trong văn hóa-nghệ thuật. Và sự yếu kém của lãnh đạo sẽ còn làm khổ dân chúng dài dài.

Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) LHQ

Cuối cùng thì, sau nhiều nỗ lực vận động ráo riết và cả nỗ lực đấu tranh với “các thế lực thù địch” như đám blogger phản động đã dám cả gan ra Tuyên bố 258 đòi Nhà nước sửa đổi luật pháp, hay cánh Human Rights Watch, Amnesty International…, ngày 12/11, Việt Nam đã trúng cử vào HĐNQ LHQ với 184/192 phiếu thuận. Trước đó, ngày 7/11, Việt Nam cũng đã gấp rút ký Công ước Chống tra tấn để thể hiện nỗ lực “hội nhập” với các tiêu chuẩn chung của thế giới về nhân quyền.

Khỏi phải nói, sự kiện Việt Nam trở thành thành viên HĐNQ đã được truyền thông của Đảng đưa tin (gồm cả báo chí chính thống lẫn dư luận viên) đưa tin hoan hỉ như thế nào. Hoan hỉ đến mức không một tờ báo, một trang mạng nào của Đảng nói rằng đây là cuộc bầu cử chọn ra 4 ghế từ 4 ứng viên! Thành viên của HĐNQ cũng là các nước có thành tích hữu hảo về nhân quyền ngang ngửa Việt Nam: Trung Quốc, Nga, Ảrập Xê-út. Cách đây hơn một thập niên, Lybia dưới thời Gaddafi còn là chủ tịch của HĐ này.

Lời yêu cầu Nhà nước sửa đổi, hoàn thiện luật pháp để bày tỏ cam kết gia nhập HĐNQ dĩ nhiên không được đáp ứng và đó là điều mà các blogger ra Tuyên bố 258 đã lường trước. Họ, cũng như những người đấu tranh cho nhân quyền - tự do ở Việt Nam, đều hiểu rằng, công cuộc đấu tranh vì quyền con người sẽ còn rất dài, và với việc Việt Nam gia nhập HĐNQ LHQ, tất cả chỉ vừa mới bắt đầu. 


Monday, 16 December 2013

Bộ Công an ngang nhiên vi phạm pháp luật về xuất nhập cảnh

  • Nguyễn Anh Tuấn

Tác giả Nguyễn Anh Tuấn
Tự do đi lại là một trong những quyền tự nhiên căn bản của con người. Quyền này chắc chắn xuất hiện trước mọi loại hình nhà nước, gắn liền với đặc tính di chuyển của loài người.


Điều 12 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị nêu rõ: “Bất cứ ai cư trú hợp pháp trên lãnh thổ của một quốc gia đều có quyền tự do đi lại và tự do lựa chọn nơi cư trú trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó; Mọi người đều có quyền tự do rời khỏi bất kỳ nước nào, kể cả nước mình; Những quyền trên đây sẽ không phải chịu bất kỳ hạn chế nào, trừ những hạn chế do luật định và là cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội hoặc các quyền tự do của người khác, và phải phù hợp với những quyền khác được Công ước này công nhận”.



Như vậy, chỉ "quyền lợi công" mới là cơ sở khả dĩ duy nhất hợp lý để các nhà nước hạn chế quyền tự do đi lại của công dân. Trên lý thuyết, "quyền lợi công" này phải được định nghĩa rõ ràng "theo luật định", tức được quy định chi tiết trong một luật do Quốc hội ban hành, với một tinh thần tôn trọng quyền con người hết sức nghiêm cẩn.



Thực tế Việt Nam



Trái với thông lệ quốc tế, quyền đặt ra các giới hạn về tự do đi lại ở Việt Nam được giao cho hành pháp, mà cụ thể là được quy định trong Nghị định 136/2007/NĐ-CP của Chính phủ.



Thiếu nhận thức về quyền con người, Chính phủ Việt Nam vẫn coi quyền tự do đi lại của công dân là do mình ban phát. Điều này thể hiện rõ trong cách diễn đạt đầy tính chất "xin-cho":



Điều 22.

1. Thẩm quyền quyết định chưa cho công dân Việt Nam xuất cảnh.


Không gian cho quyền tự do đi lại của công dân Việt Nam theo khuôn khổ của Nghị định này vốn đã tương đối chật hẹp, với thẩm quyền "chưa cho xuất cảnh" được ban phát cho nhiều cơ quan từ trung ương đến địa phương. Đã vậy, cách hành xử của nhân viên công quyền trên thực tế còn khiến không gian này trở nên chật hẹp hơn.



Bằng chứng là trong vài ngày gần đây, việc Công an Sài Gòn và Cục Quản lý Xuất Nhập Cảnh liên tục chặn giữ các blogger Châu Văn Thi, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (tức Mẹ Nấm), Nguyễn Hoàng Vi (An Đổ Nguyễn), Đào Trang Loan (Hư Vô), Nguyễn Thảo Chi của Mạng Lưới Blogger Việt Nam đã sai ở hai điểm sau:



Một là, theo Nghị định 136, Công an Sài Gòn (có các cơ quan điều tra cấp tỉnh) chỉ được phép chưa cho xuất cảnh các công dân thuộc diện sau:



Điều 21. Công dân Việt Nam ở trong nước chưa được xuất cảnh nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:



1. Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc có liên quan đến công tác điều tra tội phạm.

2. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án hình sự.
3. Đang có nghĩa vụ chấp hành bản án dân sự, kinh tế; đang chờ để giải quyết tranh chấp về dân sự, kinh tế.


Những blogger kể trên đều không nằm trong các diện được quy định ở Điều 21, bởi vậy Công an Sài Gòn không có quyền cấm họ xuất cảnh.



Hai là, người ra quyết định chưa cho xuất cảnh phải có văn bản thông báo cho công dân bị cấm (phân biệt với văn bản do Cục Quản lý Xuất Nhập Cảnh lập ở sân bay). Đây là cơ sở để xử lý trách nhiệm người đưa ra quyết định trong trường hợp quyết định trái pháp luật. Tuy vậy trong sự việc kể trên, các blogger đều không nhận được văn bản cấm xuất cảnh của mình để làm căn cứ khởi kiện hoặc khiếu nại sau này. Không khó để nhận ra ý đồ trốn tránh trách nhiệm của những người ra quyết định này.



Vẫn biết luật pháp Việt Nam còn nhiều hạn chế so với chuẩn mực quốc tế, đặc biệt là các nội dung liên quan đến quyền con người. Tuy nhiên, việc một chính quyền không tuân thủ luật pháp do chính nó đặt định là minh chứng rõ nhất phủ nhận tính chính danh của nó. Thực tế này tiềm ẩn khả năng đưa xã hội vào một trạng thái vô luật, vô chính phủ.



Vì sao nên nỗi?



Đây không phải là lần đâu tiên chính quyền Việt Nam không tuân thủ luật pháp do chính nó đặt ra, đặc biệt trong lĩnh vực quyền con người. Hiện tượng này đã phổ biến đến mức có thể coi là nguyên tắc cầm quyền của chế độ toàn trị. Có hai khả năng:



Một là chính quyền đang chơi trò hai mặt về nhân quyền. Nó tham gia ký kết các công ước quốc tế và ban hành luật pháp liên quan để thuyết phục cộng đồng quốc tế về cam kết tôn trọng nhân quyền của nó, trong khi đó ở trong nước, vì nhu cầu đàn áp, nó công nhiên phá vỡ luật chơi do nó đặt ra.



Hai là năng lực chính quyền quá yếu kém. Bộ máy công an trị, nhân danh sứ mệnh "còn Đảng còn mình", phớt lờ mọi quy định pháp luật của quốc gia và quốc tế, miễn sao trấn áp thành công những đối tượng mà nó coi là nguy hiểm với chế độ. Kết quả là, chính bộ máy công an này là tác nhân lớn nhất hủy hoại tính chính danh của chính quyền thông qua việc coi thường pháp luật do chính quyền đó đặt định.



Dù là trường hợp nào đi chăng nữa thì người bị thiệt ở đây cũng vẫn là công dân khi họ bị tước đoạt đi những quyền mà họ xứng đáng được hưởng.



Trước các hành vi tùy tiện của Công an Cửa khẩu thuộc Bộ Công an, các blogger nên chủ động tiến hành việc khiếu nại hoặc khởi kiện ra tòa hành chính với Công an Sài Gòn.