Tuesday, December 10, 2013

Phân tích hành vi của Nguyễn Tuấn Anh dưới góc độ pháp luật hình sự


Bối cảnh

Tác giả Trịnh Hữu Long 
Hành vi được phân tích trong bài này được thực hiện vào hồi 17h ngày 08 tháng 12 năm 2013 tại Công viên 23-9, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, bởi công dân Nguyễn Tuấn Anh, sinh năm 1981, nhân viên của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh tại Thành phố Hồ Chí Minh (thường gọi là Thành Đoàn TP. Hồ Chí Minh), trình độ học vấn: thạc sỹ quản lý hành chính công. 1

Chứng cứ được sử dụng để phân tích là một đoạn phim dài 01 phút 11 giây được người sử dụng Thanh Long đăng tải trên website www.youtube.com ngày 08/12/2013. 2

Phân tích hành vi

Đoạn phim cho thấy một tài sản là tệp giấy của một người phụ nữ tên là Nguyễn Hoàng Vi được chuyển dịch cơ học từ Vi sang Tuấn Anh. Khoa học hình sự Việt Nam đưa ra bốn yếu tố để phân tích một hành vi nào đó có phải là tội phạm hay không, hay còn gọi là bốn yếu tố cấu thành tội phạm, bao gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, khách thể, chủ thể. Bài viết sẽ tập trung phân tích bốn yếu tố này trong hành vi của Nguyễn Tuấn Anh được ghi nhận trong đoạn phim nêu trên, để trả lời cho hai câu hỏi:

(i) hành vi này có phải là tội phạm không?
(ii) nếu có, hành vi này là tội gì?

1. Mặt khách quan

Mặt khách quan là tất cả những dấu hiệu được biểu hiện ra bên ngoài của hành vi.

a. Hành vi khách quan

Trong đoạn phim được sử dụng làm chứng cứ, Nguyễn Tuấn Anh đã có các hành vi khách quan sau:

(i) Giật tài sản: Bắt đầu từ giây thứ 52, Nguyễn Tuấn Anh đã giật tài sản thuộc quyền sở hữu hoặc quyền quản lý của Nguyễn Hoàng Vi. Tài sản được xác định là bản sao bằng giấy của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, đang được Nguyễn Hoàng Vi cầm trên tay.

Tính chất nhanh chóng và bất ngờ là dấu hiệu đặc trưng của hành vi giật. Tại đoạn phim, Nguyễn Tuấn Anh đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Hoàng Vi một cách bất ngờ và trong thời gian 03 giây đã hoàn thành mục đích chiếm đoạt tài sản.

Hành vi của Nguyễn Tuấn Anh được diễn ra tại một không gian công cộng là Công viên 23-9, xung quanh có đông người và nhiều phương tiện ghi hình đang làm việc. Điều này cho thấy Nguyễn Tuấn Anh không có ý định che giấu hành vi của mình, đồng nghĩa với việc công khai thực hiện hành vi.

(ii) Tẩu thoát: Ngay sau khi thực hiện xong hành vi giật tài sản, Nguyễn Tuấn Anh đã tẩu thoát ra một địa điểm cách Nguyễn Hoàng Vi khoảng 5 mét và sau đó tiếp tục đi bộ ra khoảng cách xa hơn.

b. Hậu quả

Hậu quả của hành vi là sự thiệt hại về tài sản, tinh thần và sức khỏe của công dân Nguyễn Hoàng Vi. Mặc dù hậu quả và thiệt hại được cho là không đáng kể, nó vẫn được xem xét như một phần của cấu thành tội phạm.

2. Mặt chủ quan

Mặt chủ quan của hành vi là biểu hiệu về mặt tâm lý của người thực hiện đối với hành vi và hậu quả của hành vi đó. Mặt chủ quan bao gồm 03 yếu tố: lỗi, động cơ và mục đích thực hiện hành vi.

a. Lỗi

Lỗi là thái độ tâm lý của một người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả của hành vi đó dưới hình thức cố ý hoặc vô ý.3 Đoạn phim cho thấy Nguyễn Tuấn Anh nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả đó xảy ra. Đây là lỗi cố ý theo quy định tại Khoản 1, Điều 9, Bộ luật Hình sự, hay còn được khoa học hình sự gọi là lỗi cố ý trực tiếp.

Có ý kiến cho rằng, Nguyễn Tuấn Anh không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, với suy nghĩ rằng việc chiếm đoạt bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền là chống lại các thế lực mà anh cho là “thù địch”, chống lại các hành vi mà anh cho là “diễn biến hòa bình”, từ đó góp phần ổn định trật tự xã hội. Tác giả bài viết không đồng ý với các lập luận này, vì cho rằng Nguyễn Tuấn Anh có đầy đủ năng lực chủ thể để hiểu rằng, việc chiếm đoạt một tài sản hợp pháp của người khác là nguy hiểm cho xã hội, bất chấp tài sản hợp pháp đó là bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền hay Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.

b. Động cơ: Có ý kiến cho rằng, đối tượng này muốn lập thành tích với đơn vị công tác trong việc ngăn cản các “thế lực thù địch”, “âm mưu diễn biến hòa bình”. Tuy nhiên, tác giả chưa có căn cứ xác đáng để xác định động cơ của Nguyễn Tuấn Anh khi thực hiện hành vi này.

c. Mục đích: Đoạn phim cho thấy Nguyễn Tuấn Anh đã thực hiện hành vi một cách quả quyết và dứt khoát, trong thời gian rất ngắn, đó là dấu hiệu cho thấy đối tượng này có mục đích chiếm đoạt tài sản một cách rất rõ ràng.

3. Khách thể

Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị xâm phạm mà các quan hệ xã hội đó được Bộ luật Hình sự bảo vệ.4 Ở đây, hành vi của Nguyễn Tuấn Anh đã cùng lúc xâm phạm hai quan hệ xã hội: quan hệ tài sản và quan hệ nhân thân, mà cụ thể ở đây là: (i) sở hữu cá nhân của Nguyễn Hoàng Vi đối với bản sao bằng giấy của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, và (ii) trạng thái tinh thần, sức khỏe của Nguyễn Hoàng Vi.

4. Chủ thể

Nguyễn Tuấn Anh, người được xác định là chủ thể của hành vi, 32 tuổi, nằm trong độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ đối với hành vi của mình.

Tác giả không có hồ sơ bệnh án đối với các bệnh về tâm thần của Nguyễn Tuấn Anh và căn cứ dựa trên việc đối tượng này đang làm việc tại tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tác giả cho rằng Nguyễn Tuấn Anh không mắc các bệnh về tâm thần. Có ý kiến cho rằng biểu hiện tâm lý của đối tượng trong đoạn phim như cười nhếch mép, đối xử thô bạo với một phụ nữ có thể hình kém hơn hẳn, cướp giật một văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng về nhân quyền (mà Việt Nam là nước ký kết) từ một người đang cố gắng giúp người dân tiếp cận, bỏ chạy sau khi thực hiện xong hành vi,... là dấu hiệu của bệnh tâm thần và cần được trưng cầu giám định. Tác giả giữ quan điểm cho rằng, những dấu hiệu này thuộc về phạm trù tâm lý học tội phạm chứ không phải phạm trù bệnh lý và cho rằng tình trạng sức khỏe tâm thần của Nguyễn Tuấn Anh hoàn toàn bình thường.

Như vậy, căn cứ vào Điều 12 của Bộ luật Hình sự về tuổi chịu trách nhiệm hình sự và Điều 13 về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự, tác giả cho rằng Nguyễn Tuấn Anh là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Kết luận

Từ các phân tích nêu trên, tác giả cho rằng hành vi của Nguyễn Tuấn Anh là hành vi cướp giật tài sản, được quy định tại Điều 136 của Bộ luật Hình sự:

Điều 136. Tội cướp giật tài sản

1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
đ) Hành hung để tẩu thoát;
e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
h) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.

Theo thạc sĩ Đinh Văn Quế, nguyên Phó Chánh tòa Tòa hình sự, Tòa án Nhân dân Tối cao, “cướp giật tài sản là nhanh chóng giật lấy tài sản của người khác một cách công khai rồi tìm cách tẩu thoát”. 5

Bộ luật Hình sự không quy định giá trị tài sản bị cướp giật như là tình tiết định tội. Điều này đồng nghĩa với việc giá trị tài sản bị loại bỏ trong quá trình xem xét một hành vi của Nguyễn Tuấn Anh có phải là tội cướp giật tài sản hay không. Bất kể bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của công dân Nguyễn Hoàng Vi có giá trị bao nhiêu, đó vẫn là tài sản đang nằm trong sự chiếm hữu của Nguyễn Hoàng Vi, và hành vi của Nguyễn Tuấn Anh phải được xác định là cướp giật tài sản.

Tại sao hành vi của Nguyễn Tuấn Anh không phải là cướp tài sản mà lại là cướp giật tài sản? Sự khác nhau giữa hai hành vi này là yếu tố vũ lực.

Điều 138, Bộ luật Hình sự quy định như sau:

            Tội cướp tài sản
1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Dựa trên đoạn phim được sử dụng làm chứng cứ, chúng ta có thể xác định Nguyễn Tuấn Anh không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc đối với Nguyễn Hoàng Vi hoặc có hành vi nào khác làm cho Nguyễn Hoàng Vi lâm vào tình trạng không thể chống cự. Hành vi của Nguyễn Tuấn Anh là dùng tay tác động vào bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và giật nó ra khỏi tay Nguyễn Hoàng Vi. Việc Nguyễn Hoàng Vi bị chao đảo và sắp ngã không phải là hậu quả của việc Nguyễn Tuấn Anh sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực.

Như vậy, thông qua các phân tích trên đây, chúng ta nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng của việc phạm tội cướp giật tài sản, mà người thực hiện là Nguyễn Tuấn Anh./.
____________

* Do một số hạn chế khách quan về tài liệu, một số trích dẫn trong bài viết này đã không được chú thích một cách đầy đủ. Tác giả rất mong được độc giả lượng thứ.

1 Xem: Tiếng vọng quê hương thôi thúc tôi trở về, báo Đại Đoàn Kết, ngày 15/11/2013, tại http://daidoanket.vn/index.aspx?Menu=1463&Style=1&ChiTiet=71698

2 Xem: MLBVN chào mừng ngày Quốc Tế Nhân Quyền tại công viên 23/9, phần 3, tại http://www.youtube.com/watch?v=edpSSgF40W0&feature=youtu.be

3 Xem: Bình luận Bộ luật Hình sự (phần riêng), Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Đinh Văn Quế, Nhà Xuất bản TP. Hồ Chí Minh.

4 Xem: Như trên.

5 Xem: Bình luận Bộ luật Hình sự (phần riêng), Chương XIV Các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự năm 1999, Đinh Văn Quế, Nhà Xuất bản TP. Hồ Chí Minh.