I dare not describe myself as a patriot. I just believe I am psychologically attached to my country.
Saturday, 7 November 2009
NHỮNG ĐỨA TRẺ LỚN TUỔI
Thầy giáo người Pháp kia bèn giơ máy ảnh chụp cả lớp, rồi bản thân ông cũng chạy vào ngồi cùng học sinh, tạo dáng, bấm máy, lăng xa lăng xăng, loay ha loay hoay… Trong khi đó, ông giáo người Paris đứng đợi nơi góc lớp với vẻ mặt hết sức kiên nhẫn và điệu bộ thì lịch thiệp.
Chờ cho đồng nghiệp chụp xong loạt ảnh và chào cả lớp ra về, khuất hẳn, ông mới quay sang học sinh và mỉm cười độ lượng:
- Các bạn thông cảm. Anh ấy là người Marseille.
Cả lớp cười ồ lên. Bạn tôi không thích kiểu đùa có vẻ miệt thị, địa phương chủ nghĩa ấy, nên hỏi vặn:
- Người Marseille thì sao, thưa thầy?
- Thì thích chụp ảnh. Tất cả người Marseille đều thích chụp ảnh.
Ông giáo Paris nháy nháy mắt, le lưỡi. Sau đó, tự nhiên ông đế thêm: “Và cả người Việt Nam cũng vậy”.
Câu chuyện đột ngột xoay hẳn sang chủ đề “tính cách dân tộc”. Ông giáo hăng hái liệt kê một loạt đặc điểm của người Việt Nam trong mắt ông. Học sinh cũng hăng hái phụ họa hoặc phản bác. Không khí sôi nổi. Ông giáo tỏ ra thẳng thắn, nói rằng: “Người Việt Nam thích chụp ảnh, thích khoe ảnh, hay tin vào những điều hết sức buồn cười, hay đi cúng bái và kiêng kỵ đủ thứ”. Ông chốt hạ bằng một câu ngắn gọn, làm học sinh nhao nhao phản đối: “Tôi thấy người Việt các bạn đúng là những đứa trẻ lớn tuổi”.
* * *
Câu chuyện bạn tôi kể lại cho tôi chẳng có gì làm tôi quan tâm. Dù sao thì đó cũng là một lớp học ngoại ngữ, nhiều khi những ý kiến thầy giáo đưa ra chỉ có tính “khêu gợi” cho học sinh thảo luận, thực hành tiếng, chứ nội dung quan trọng quái gì. Tuy nhiên, tôi rất thích cụm từ “những đứa trẻ lớn tuổi”, vì thấy nó ứng dụng được vào nhiều người, nhiều nơi, nhiều lúc, chẳng hạn...........
(TỰ KIỂM DUYỆT)
Tuesday, 27 October 2009
Tám về Lê Văn Tám
Còn lần đầu tiên tôi nghe nói rằng Lê Văn Tám không có thực là vào năm 1998, từ một nhà báo cựu trào của Hà Nội Mới. Tôi còn nhớ rõ hôm đó mình đã điên tiết như thế nào vì cảm thấy mình (và hàng triệu dân ngu k.đen khác) bị lừa. (Bây giờ thì hết bực rồi vì đã biết ngành Tuyên truyền có nghĩa vụ xây dựng hình tượng lịch sử, nhưng tôi tin là người nào lần đầu tiên nghe những chuyện này cũng đều cảm thấy ít nhiều tức tối hoặc bị tổn thương).
Theo một tài liệu (ở nước ngoài, không tiện nêu tên ở đây), thì Nguyễn Bá Ngọc cũng không có thật. Anh Ngọc lấy thân mình che bom cho mấy em nhỏ, thiếu nhi xưa từng hát ca ngợi "anh qua đời, gương anh còn soi" ấy.
Thế này có lẽ Ngô Mây, Phạm Ngọc Đa cũng... cũng... ? Riêng anh Phạm Ngọc Đa thì ngay từ hồi còn bé, ngồi trong lớp nghe cô giáo đọc truyện về anh, mình cứ thấy làm sao ấy: Trẻ nông thôn miền Bắc ngày trước mà tên hay thế, mà sao trẻ con chịu đau giỏi thế, sợ thật.
Dưới đây là trích đoạn một bài viết về vụ Lê Văn Tám, trên báo Thế giới (Hà Nội) số 39 (154) ngày 27/9/04 (trang 22-23). Khác với GS Phan Huy Lê nói rằng ông Trần Huy Liệu (quan chức kháng chiến cũ, sau nghiên cứu lịch sử, trở thành nhà sử học) là người tạo nên "huyền sử một người mang tên Tám", bài viết dưới đây có một câu gán trách nhiệm về việc này cho (các nhà tuyên truyền và) đạo diễn Phan Vũ.
* * *
Tạp chí Xưa & Nay số 154 (202) - XII - 2003, bài Đọc hồi ký Dương Quang Đông trọn đời tận trung với Đảng tận hiếu với dân của Nguyễn Quế Lâm, trang 9, có đoạn viết:
"Vụ đốt kho đạn Thi Nghè ngày 1.1.1946 bao nhiêu năm nay quy về một huyền thoại Lê Văn Tám. Nhưng về phương diện khoa học, huyền thoại này không đứng vững được. Và chúng ta cứ chấp nhận như thế mà lưu truyền như là một hình tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Nay bác Năm Đông đưa ra một tư liệu khác. Tổ đánh mìn kho đạn Thị Nghè là công nhân nhà máy đèn Chợ Quán gồm có Ka Kim, Kỷ và Nỉ. Ka Kim là chỉ huy. Kỷ và Nỉ dùng thuyền nhỏ chở mìn chờ lúc con nước ròng đưa thuyền chở mìn và hai người chui qua ống cống thoát nước. Vì lính gác chặt chẽ nên hai anh tiến hành công việc đặt mìn rất chậm. Khi đặt xong đến giờ điểm hỏa thì con nước đã lớn, ống cống ngập lút không ra được. Giờ điểm hỏa phá tung kho đạn Thị Nghè cũng là giờ phút hy sinh của hai công nhân nhà máy điện Chợ Quán.”
Tôi (tác giả bài trên báo Thế Giới) xin có một vài ý kiến nhỏ, rất mong được các bạn đọc góp thêm, để tìm đúng sự thật.
Có nhiều bài báo, có cả sách viết về Lê Văn Tám. Rất nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước có nào là tượng đài, công viên, đường phố mang tên Lê Văn Tám, trường học Lê Văn Tám...
Tuy nhiên, nếu nghiêm túc về nguồn để tìm kiếm sự kiện lịch sử có thể sẽ nảy sinh những thắc mắc: liệu Lê Văn Tám có phải là người thật việc thật, từng lập nên chiến công oanh liệt? Xin nêu bốn điểm thắc mắc:
1. Qua tên gọi Lê Văn Tám, với tập quán đặt tên của người miền Nam, có thể suy ra Tám có sáu anh chị ruột lớn hơn (không kể các em). Năm 1946, Tám khoảng 10 tuổi như vậy phỏng đoán các anh chị của Tám hơn 10 tuổi đến hơn 20 tuổi. Qua 1975, tức 30 năm sau, anh chị của Tám khoảng chừng từ 40 đến 50 tuổi. Ở lứa tuổi này, rất nhiều khả năng trong số sáu anh, chị của Tám có người vẫn còn sống (ngay cha mẹ của Tám cũng có thể còn sống với lứa tuổi từ 60-80). Trước 1975, có thể họ không dám nhận là anh chị của Tám, nhưng sau khi cách mạng thành công, tại sao không thấy ai đứng ra nhận vinh dự (và cả quyền lợi) cho gia đình? Nếu gia đình khiêm tốn không nhận công lao kháng chiến, các cơ quan chức năng cũng phải đi tìm. Ngành thương binh xã hội phải lập danh sách gia đình có công, ngành viết lịch sử phải tra cứu thân thế sự nghiệp.
Chẳng lẽ tất cả sáu anh chị của Tám đều đã chết yểu ở độ tuổi từ 20 đến 30? Ngay cả trong trường hợp chuyện này xẩy ra, hẳn chú bác, cô dì của Lê Văn Tám thế nào cũng có người còn sống, vì Tám ở ngay vùng Thị Nghè chớ nào phải xa xôi, hẻo lánh gì?
Để làm rõ hơn, đề nghị nên đăng thông báo trên truyền hình, phát thanh, báo chí, cả trung ương lẫn địa phương, tìm người thân của Lê Văn Tám.
2. Chỉ nghe kể Lê Văn Tám là giao liên, nhưng không thấy nói cụ thể Tám là giao liên cho đơn vị nào. Phàm đã hoạt động cách mạng, thời chống Pháp cũng như chống Mỹ, dứt khoát phải hoạt động trực thuộc một đơn vị nào đó (như Thành đoàn, Công đoàn, Binh vận, Biệt động thành, Trinh sát vũ trang, Địch vận v.v.), không ai có thể một mình một cõi, tự tung tự tác, muốn hoạt động ra sao cũng được, dù là tự thiêu, phá hủy kho đạn của địch.
Thực tiễn hoạt động cách mạng tại Sài Gòn cho thấy đến tình báo hoạt động cũng phải có tổ chức. Đơn vị của Tám không đứng ra báo công trường hợp người của đơn vị mình là thiếu sót lớn, không phải để hưởng tiếng thơm lây, mà là có tội che giấu thành tích của người làm nên lịch sử. Vậy đơn vị nào có chiến sĩ Tám, cần nhanh chóng làm các thủ tục này. Không lẽ cả đơn vị lớn nhỏ đều hy sinh hết? Nhiều trường hợp cả đơn vị hy sinh, vẫn có nhiều người biết do cuộc chiến tranh của chúng ta luôn được nhân dân nuôi dưỡng, bảo vệ giúp đỡ.
3. Thông thường, theo nguyên tắc quân sự, kho đạn nào cũng được bảo vệ nghiêm ngặt. Đây là khu quân sự cấm người lạ mặt lai vãng, ngoài cổng luôn có lính gác "vũ trang đến tận răng". Trong kho lại có nhiều nhà kho, mỗi nhà kho đều có cánh cửa luôn khóa chặt, đạn được bỏ trong thùng. Chỉ khi có người đến lãnh đạn hoặc quan hệ công tác, trình giấy tờ hợp lệ và đầy đủ, lính gác mới mở cổng cho vào. Tiếp đó, phải có lệnh của trưởng kho, thủ kho mới mở khóa, giao đạn.
Đằng này Lê Văn Tám chạy một hơi từ cổng đến tận nhà kho chẳng thấy lính tráng nào ngăn cản, cứ như xông vào chỗ không người, tất cả mọi cánh cổng, cánh cửa kho đều mở rộng như chờ đón sẵn!
4. Giả sử Lê Văn Tám đã điều nghiên kỹ lưỡng, nắm được quy luật của địch, hoặc rơi vào trường hợp may mắn ngẫu nhiên, do lính gác cổng bị bất ngờ không kịp phản ứng và tất cả mọi tình huống đều thuận lợi cho Tám, thì một người bình thường tẩm xăng đốt mình cháy như cây đuốc sống cũng khó chạy bộ một quãng vài chục mét. Nhà kho, nhất là kho đạn, không phải nhà mặt tiền, chí ít cũng phải qua cổng gác rồi cách vài chục mét.
Hình tượng Lê Văn Tám được đưa lên như thế nào? Người sáng tác hình tượng này là đạo diễn phim truyện Phan Vũ.
Theo ông Phan Vũ kể, ông không hề viết rằng Lê Văn Tám là nhân vật có thực lập nên kỳ công "cây đuốc sống", mà chỉ viết một phim truyện. Nhưng do các nhà tuyên truyền thời ấy thấy cần xây dựng một tấm gương dũng cảm hy sinh cứu nước, bèn chộp luôn sáng tác của ông, hiện thực hóa như một nhân vật có thật. Lỡ phóng lao đành theo lao luôn. Tại sao nhân vật được đặt tên là Lê Văn Tám? Vẫn theo tác giả Phan Vũ, khi ấy nhân Cách mạng tháng Tám, ông đặt luôn nhân vật của mình tên Tám, vừa có ý nghĩa, vừa dễ nhớ, vừa dân dã lại rất Nam Bộ gần gũi.
Thời chiến, có thể dùng mọi biện pháp, miễn hữu ích. Nay cũng cần trả lại sự thật cho các các sự kiện lịch sử.
Nguồn: Báo Thế giới (Hà Nội) số 39 (154) ngày 27/9/04 (trang 22-23).
Monday, 26 October 2009
Sức ép lên những người anh hùng
Người ta cứ hay nói mấy cô chú teen là “đang ở độ tuổi thèm thần tượng”, nhưng tôi nghĩ hình như con người dù ở tuổi nào cũng đều có nhu cầu có thần tượng, không cứ thế hệ trẻ. Thần tượng của mỗi người có thể khác nhau, nhưng nhìn chung đều chia sẻ một số đặc điểm: anh hùng (can đảm), tài ba (thông minh, học giỏi, nhiều sáng kiến), và trẻ đẹp. Chính vì thế mà trong những nhóm người có khả năng trở thành thần tượng của xã hội thì các anh hùng trong chiến tranh là một nhóm ứng cử viên quan trọng.
Chiến tranh là khoảng thời gian khắc nghiệt của xã hội, hay nói một cách văn học thì đó là “hoàn cảnh điển hình để các cá nhân bộc lộ con người mình” - ai sợ chết, ai không sợ chết đều lộ ra cả. Vì vậy, các anh hùng trong chiến tranh dĩ nhiên là đạt được phẩm chất đầu tiên: can đảm. Nếu không thì, ngoài họ, còn ai dám hy sinh cho cách mạng?
Tương tự, chiến tranh cũng là khoảng thời gian đòi hỏi người ta phải thông minh, tuy rằng kiểu thông minh có thể khác thời bình (hơi khác hay là rất khác thì tôi không rõ, nhưng chắc chắn là phải khác). Các anh hùng nhiều khả năng là đều đáp ứng được điều kiện thứ hai. Người có khả năng cãi nhau tay đôi với mật thám Pháp bằng thứ tiếng của chúng, như đồng chí Trần Phú. Người có tài nhại tiếng động vật - chó, mèo, hổ, báo, sư tử... như một giao liên nào đó (tôi quên tên). Người võ giỏi như anh Hồng Quang. Người lại hát hay như chị Sáu...
Riêng phẩm chất thứ ba thì có một chút lấn cấn: trẻ đẹp.
Dường như trong vô thức, tất cả chúng ta đều mặc định anh hùng là phải trẻ đẹp. Có hình ảnh nào lãng mạn cho bằng hình ảnh Triệu Tử Long mặt trắng môi đỏ tả xung hữu đột giữa trận tiền? Hình ảnh em gái hậu phương đứng như quê hương trong cánh rừng ào ào lá đỏ, bụi Trường Sơn nhòa trời lửa? Hình ảnh Nguyễn Viết Xuân đứng thẳng, đôi mắt như lửa sôi, với câu nói bất hủ: “Nhằm thẳng quân thù, bắn!”? v.v. Chúng ta thèm được thấy họ đẹp, đẹp rực rỡ như mặt trời trên chiến trận. Chúng ta thèm được thấy Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Thị Khương, Tư Phùng (tức chị Sứ), Võ Thị Sáu đẹp sắc sảo, mặn mà, duyên dáng biết bao.
Trước tình hình đó, trước nhu cầu đó, các cây viết, đặc biệt là nhà báo - những “thư ký của thời đại”, “thư ký của lịch sử” như thời đại và lịch sử vẫn tôn vinh - không còn lựa chọn nào khác ngoài việc phải làm đẹp cho các anh hùng anh thư. Không tin bạn cứ mở những bài báo viết về thương binh liệt sĩ ra thì sẽ thấy: Trăm phần trăm những người anh hùng đều có đôi mắt trong, gương mặt hiền lành, nụ cười đôn hậu v.v. Các nữ anh hùng, nếu sinh ra ở miền biển, sẽ có làn tóc dài mượt, làn da mặn mòi rám nắng và nét cười đằm thắm. Nếu sinh ra trên núi, các chị sẽ có nước da trắng như trứng gà bóc, đôi môi hồng đào, giọng hát trong veo của chim sơn ca v.v.
... (tự kiểm duyệt một đoạn)
Thực tế nhiều khi chẳng chiều "lòng người đọc ý nhà báo" gì cả.
Có bữa ngồi tán phét với mấy người bạn về chủ đề làm phim tài liệu lịch sử, tôi càu nhàu: “Sao có mỗi Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Trỗi với Nguyễn Viết Xuân là đẹp trai nhỉ?”. Đám bạn mắng cho một trận: “Điên à? Đẹp thì người ta đã đi thi hoa hậu, ai làm cách mạng cho mày?”
Thì biết thế rồi, đã hẳn rồi, mình có nói gì quá đáng đâu. Nhưng tôi vẫn cứ... tiêng tiếc, vẫn cứ thèm được thấy các liệt sĩ đẹp ngời ngời như cách chúng ta được hướng dẫn để hình dung về họ. Suy cho cùng đó là một thứ áp lực, một gánh nặng, một sức ép đè lên những người anh hùng của chúng ta. Cuộc sống mãi mãi là như thế.
Thursday, 8 October 2009
Ngỗng con bị táo bón
http://bauxitevietnam.info/c/11814.html
TS kinh tế Nguyễn Đức Thành: “Trong khoa học về chiến lược, có khái niệm gọi là “hiệu ứng con ngỗng con”. Khi con ngỗng ra đời mà bị cách ly với mẹ, nó có thể tưởng nhà bác học chăm nuôi nó chính là mẹ, và nó sẽ đi theo nhà bác học đó như thể đó là ngỗng mẹ vậy.
Hiện tượng tương tự xảy ra trong kinh doanh và xây dựng chiến lược phát triển: Các nền kinh tế nhỏ, chậm phát triển, đi sau, rất dễ bị ảnh hưởng, thậm chí sao chép một cách có chủ ý từ nền kinh tế có quy mô lớn hơn, gần gũi mình và đi trước mình, vì nghĩ rằng như thế là tốt, là ưu việt".
Từ hai phát biểu trên, suy ra: VN là con ngỗng con bị táo bón...
Hay đổi title là thế này nhỉ? Việt Nam - ngỗng con bị táo bón
Thôi lại nói nhảm rồi :-((
Monday, 14 September 2009
Cảm ơn mọi người nhiều lắm!
Em đã ứa nước mắt khi đọc những dòng chia sẻ của tất cả mọi người (cho phép em gọi các bác, các cô chú, anh chị em bằng một từ không được tình cảm và trang trọng lắm như vậy). Em rất cảm động và biết ơn, cảm ơn mọi người nhiều lắm. Vì nếu không có sự chia sẻ và ủng hộ đó, chắc gì em đã được tại ngoại.
Em vẫn khỏe, chỉ bị tê hai tay (chắc là do không được gõ bàn phím thường xuyên mà thôi :-). Về nguyên nhân của việc em bị bắt, vào thời điểm này (cho đến khi nào chưa rõ), em không thể nói được vì đã nhận yêu cầu như vậy. Em chỉ có thể khẳng định (như đã khẳng định trước cơ quan điều tra) là em không làm chính trị, không tham gia và không đại diện cho bất kỳ đảng phái, tổ chức nào. Em mong mọi người hiểu cho hoàn cảnh em lúc này và không hỏi gì về vấn đề mà em không thể nói.
Em luôn biết ơn và trân trọng tấm lòng của tất cả mọi người: gia đình, tòa soạn, Tổng Biên tập, các đồng nghiệp ở VietNamNet, các đồng nghiệp trong và ngoài nước, bạn bè… Cảm ơn một số nhân viên điều tra đã khách quan và công bằng trong quá trình làm việc với em.
Em cũng muốn xin lỗi tất cả những người có thể vì em mà gặp phiền phức, nhất là gia đình và tòa soạn – mong mọi người hiểu rằng em không hề chủ định như thế. Một lần nữa, em xin chân thành cảm ơn - tất cả.
TB: Hôm thứ sáu 4/9, nick chat của em có sáng lên nhưng đó không phải là em, tuy nhiên nếu anh chị em nào có nhắn gì em lúc đó thì bây giờ có thể nhắn lại ạ.
Thursday, 28 May 2009
Ném đá hội nghị
Biết chắc chắn là sau khi viết bài này, sẽ có ít nhất một người bảo mình là “ngu như chó”. So sánh thế không đúng đâu, vì chó khôn và trung thành, còn Trang the Ridiculous thì vừa dại vừa phản trắc, chẳng thích “trung” với ai cả. Vậy nên cứ viết và bốt bài lên đây vậy. Muôn năm cái anh Internet!
*
* *
QUỐC HỘI TA HIỀN THẬT!
Tuần đầu tiên của kỳ họp thứ năm, Quốc hội (QH) khóa XII, vừa kết thúc với một loạt vấn đề được đặt lên bàn nghị sự, thảy đều là các vấn đề được dư luận quan tâm. Rõ ràng là QH đang ngày càng gần với vai trò đại diện cho người dân. Nhưng bên cạnh đó, những ngày họp cũng cho thấy, vẫn còn nhiều điểm phải được “chuyên nghiệp hóa” để có một QH chất lượng hơn.
* “Gãi trúng chỗ ngứa” của dân
Dường như, trong lịch sử hoạt động của QH từ năm 1946 tới nay, không nhiều kỳ họp của QH thu hút sự chú ý của dân chúng như khóa XII này: suốt từ chủ trương sát nhập Hà Nội – Hà Tây tới chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên, mỗi chủ trương được đưa ra trước QH khóa XII đều là một lần được người dân nơi nơi quan tâm đặc biệt, từ quán nước tới công sở.
Chỉ mới tuần đầu tiên, kỳ họp thứ năm của QH khóa XII đã đặt lên bàn nghị sự nóng bỏng nhiều vấn đề, mà nổi lên là chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên của Chính phủ (CP).
Với việc vấn đề này được bàn thảo “nóng sốt” ngay trong tuần đầu, có thể thấy QH đã và đang “gãi trúng chỗ ngứa” của người dân và vì thế, đang ngày càng tỏ ra có vai trò trong đời sống chính trị của đất nước. Ít nhất, cũng làm người dân bớt đi cảm giác “QH nhà mình hình như toàn… nghị gật”: Chủ trương đã quyết, CP chỉ báo cáo, QH không có quyền.
Không chỉ với dân chúng trong nước, QH cũng đã thể hiện sự quan tâm đến cộng đồng mấy triệu người Việt hải ngoại, qua việc đưa lên bàn nghị sự hai vấn đề quan trọng: nhà ở cho Việt kiều và bảo vệ quyền lợi công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thấy rõ đó, QH cũng để “lộ” ra một vài khía cạnh cần chuyên nghiệp hóa.
* QH ta hiền khô...
Về chủ trương khai thác bô-xít Tây Nguyên, dư luận hể hả khi thấy có những đại biểu QH tỏ ra quyết liệt: QH “muốn CP gửi báo cáo riêng về bô-xít ngay trong tuần này” (tức là tuần làm việc đầu tiên của kỳ họp).
Ví dụ, đại biểu Đặng Huyền Thái, Phó Chủ tịch Ủy ban (UB) Mặt trận Tổ quốc TP Hà Nội, đề nghị “CP và QH phải cung cấp đầy đủ thông tin cho đại biểu nắm được tình hình, nếu cần thì phải chất vấn cho rõ chuyện”.
Và quả thực là ngày 23-5 (ba ngày sau khi khai mạc kỳ họp), CP đã có báo cáo gửi QH về việc triển khai các dự án bô-xít.
Sẽ không có gì đáng nói nếu như các đại dự án bô-xít không thuộc về một chủ trương lớn của đất nước, rất phức tạp về chuyên môn trên tất cả các mặt khoa học, kinh tế, xã hội, an ninh - quốc phòng. Như vậy, một cách… khoa học thì đại biểu QH cần được báo cáo kỹ từ trước khi kỳ họp khai mạc, thay vì ngồi vào họp rồi mới quyết liệt đề nghị CP gửi báo cáo.
Và người dân có thể lo lắng: trong một vài ngày họp (dĩ nhiên không kéo dài câu chuyện bô-xít tới một tháng QH họp), các đại biểu QH, với tầm hiểu biết chuyên môn hạn chế trong một lĩnh vực đặc biệt phức tạp là công nghiệp khai thác khoáng sản, sẽ xử lý ra sao với một bản báo cáo dài dằng dặc, đòi hỏi thời gian đọc, hiểu, nghiền ngẫm, suy xét?
Trước đó, bên cạnh những đại biểu bày tỏ “mong muốn” CP chuẩn bị một báo cáo chuyên đề để đệ trình, Chủ nhiệm UB Quốc phòng và An ninh của QH Lê Quang Bình cũng đã “nhắn” Bộ trưởng Kế hoạch - Đầu tư Võ Hồng Phúc, “nhắc” CP “ngay trong tuần này phải có báo cáo riêng về bô-xít gửi tới các đại biểu”.
“Việc này CP đã giao Bộ Công thương rồi”, ông Võ Hồng Phúc đáp.
Thật ra thì, một QH “nghiêm khắc” sẽ không phải “mong muốn”, “nhắn nhủ” gì CP cả, mà là yêu cầu giải trình trước một thời hạn cụ thể, và CP phải gửi báo cáo từ trước khi họp, cũng như phải chỉ định rõ ràng ngay từ đầu rằng Bộ nào sẽ thực hiện công việc này.
Cách làm đó xem chừng hợp lý hơn là việc CP để QH ngồi vào bàn họp rồi mới đệ trình báo cáo, đẩy các đại biểu vào thế “nước đến chân mới nhảy”, việc đến cổ mới quyết, rồi Bộ này “kính chuyển” nhiệm vụ cho Bộ kia, v.v…
Từ vài chuyện nho nhỏ như vậy, có thể rút ra một nhận xét cũng nho nhỏ như thế, là: QH ta… hiền thật!
*... Và xuề xòa nữa
“Cơ quan đại diện ngoại giao phải bảo vệ công dân Việt Nam”. Đây cũng là vấn đề được các đại biểu QH mổ xẻ mạnh mẽ khi bàn về dự luật cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài.
Điều này quan trọng và kể ra cũng là một nội dung hấp dẫn của kỳ họp QH, ngoài chuyện nó là một việc tưởng chừng như hiển nhiên: cơ quan đại diện ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài, không bảo vệ công dân Việt Nam thì còn bảo vệ ai?
Sự việc gợi nhớ lại một chuyện phiếm ngày trước, khi có đại biểu nêu vấn đề “người bị án tù phải vào tù”. Bởi lẽ, đại biểu này quá bức xúc trước tình trạng nhiều kẻ bị tòa kết luận phải ngồi tù rồi vẫn… tung tăng ở ngoài.
Dù sao, đây cũng không phải là “lỗi” của QH. Chỉ có điều, vấn đề cho thấy QH của chúng ta đang phải dành quá nhiều thời gian cho những việc lẽ ra không cần bàn mà mặc nhiên là phải được thực hiện từ rất lâu.
Các ĐSQ cố nhiên là có chức năng đại diện cho Nhà nước và bảo vệ quyền lợi của công dân nước mình. Thế nhưng, từ trước đến nay, nhiều tòa đại sứ Việt Nam ở nước ngoài dường như chỉ có nhiệm vụ cấp hộ chiếu, làm giấy tờ đăng ký kết hôn, hoặc đứng ra vận động các phong trào, hô hào các dịp lễ lạt, chứ chức năng “bảo vệ” kia không thấy có, hoặc rất nhạt nhòa.
Về chuyện này, chính Phó Chủ nhiệm UB Quốc phòng và An ninh của QH Trần Đình Nhã kể, có lần đi công tác nước ngoài, ông đã chứng kiến công dân Việt Nam bị giam tới 2-3 năm nhưng sứ quán Việt Nam vẫn không hay biết (!)
Điều đáng nói ở đây là công dân Việt Nam có khi cũng không biết mình được hưởng quyền “kêu cứu tới sứ quán”. Vậy, nếu họ bị bắt mà không kêu thì cơ quan đại diện cũng có lý do để không làm gì cả. Hòa cả làng!
Nghĩ mà thương, giá như QH ta bớt được thời gian dành cho những việc hiển nhiên như thế (nêu vấn đề “cơ quan đại diện ngoại giao phải bảo vệ công dân Việt Nam”), thì đã có thể dồn thì giờ ra quyết định, kiểm tra và giám sát trong nhiều lĩnh vực khác.
Mà muốn bớt thời gian cho những chuyện hiển nhiên phải được thực hiện như vậy, đã hẳn là QH cần “nghiêm khắc” hơn.
* Để QH “nghiêm khắc” hơn…
Trong những vấn đề cụ thể như chủ trương khai thác bô-xít ở Tây Nguyên, sẽ là rất khó khăn cho các ĐBQH trong việc chất vấn, tranh luận về chuyên môn (với TKV và những người ủng hộ chủ trương này).
Như chính ĐB Dương Trung Quốc đã nói với “VietNamNet”: "Tôi là đại biểu QH mà còn chẳng biết mô tê ra làm sao. Ngay tại hội thảo do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải chủ trì, trong khi báo cáo phản biện được thực hiện bằng một cuộc điều tra tại thực địa của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam đưa ra con số lao động nước ngoài sử dụng visa du lịch khá cao, thì ông Phó Chủ tịch tỉnh sở tại chỉ đưa ra con số không bằng 1/10".
Trong điều kiện thiếu thông tin và kiến thức chuyên môn, QH hoàn toàn có thể đặt hàng một nhóm nghiên cứu độc lập để kiểm tra toàn bộ thông tin về đại dự án khai thác bô-xít, và tất nhiên, điều này sẽ đòi hỏi QH phải hoãn ra quyết định một thời gian. Có kiểm tra thì mới có thể ra quyết định và tiến tới giám sát (nếu dự án được thực hiện).
Tuy nhiên, điều đó đòi hỏi một quan hệ “rạch ròi” hơn, “dứt khoát” hơn giữa QH và CP. Sẽ khó có chuyện như ông Chủ nhiệm UB Quốc phòng và An ninh của QH Lê Quang Bình cho biết, rằng “Ủy ban Thường vụ QH và CP đã họp bàn và thống nhất báo cáo chung của CP về các vấn đề kinh tế - xã hội sẽ nêu một đoạn về bô-xít Tây Nguyên”.
Trên nguyên tắc (và theo Luật Tổ chức QH năm 2001), QH và UB Thường vụ QH không cần họp với CP để thống nhất báo cáo chung. Thay vì thế, CP có nghĩa vụ đệ trình báo cáo sớm, đúng hạn, để QH phán xét, kiểm tra và biểu quyết.
Ngoài ra, hoạt động hiệu quả của QH đòi hỏi sự chuyên nghiệp: đặt hàng cơ quan giám sát độc lập, nâng cao chất lượng đại biểu. Nếu ngay cả đến đại biểu cũng chưa ý thức rõ ràng về vai trò tối cao của QH (trường hợp của ông Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Trần Đình Đàn, khi QH chưa họp đã vội vã tuyên bố “chắc chắn hoàn toàn ủng hộ chủ trương khai thác bô-xít”), thì chúng ta chưa thể có một QH thật sự đại diện cho nhân dân.
Dù sao đi nữa, một quan hệ độc lập, nghiêm túc, không còn mang nặng tính “người nhà”, giữa CP và QH, là điều kiện tiên quyết cho việc nâng cao tính chuyên nghiệp và hiệu quả của QH.
Monday, 20 April 2009
Bài cũ cóp lại

Nhớ Sài Gòn nên post một bài vào tháng 11 năm ngoái, mà lúc viết cứ có cảm giác như để tặng Sài Gòn. Tiện đây tự hỏi sao nhiều người lại phải “yêu ghét phân minh” giữa Hà Nội và Sài Gòn. Với Trang the Ridiculous thì cả hai thành phố đều đáng yêu cả, đáng yêu trong sự khác biệt và tương đồng. “In my life, I love them all.”
Còn về cái bài viết dưới đây thì thật chán là đến giờ phút này vẫn không viết được tên đầy đủ của các nhân vật – mà mình thì chúa ghét cái trò để tên tắt kiểu anh A. chị X. v.v.
+++++++
Chuyện làm báo ở Sài Gòn trước 1975
“Báo chí SG cũ có nhiều từ mà độc giả ngày nay đọc thì thấy cổ lắm, "xe nhà binh", "tư thất", "tư gia"... Nhưng ngôn ngữ hồi đó thuần Việt chứ không bị lẫn tiếng nước ngoài nhiều như bây giờ. Còn quảng cáo thì không nhiều, hầu hết các báo không sống nhờ quảng cáo mà nhờ độc giả” - một nhà báo của SG trước 1975 nhớ lại.
Mỗi tháng khoảng một tuần, ông Y. chạy xe máy tới nhà in Quân Đội 2 và ngồi đó cả ngày để kiểm tra, soát lỗi bản bông của mấy tờ tạp chí do tòa soạn ngoài Hà Nội gửi vào in.
Và rất thường xuyên, ông dùng bút khoanh tròn những từ tiếng Anh xen lẫn trong bài, chi chít như xôi đỗ. Từ "golfer" này phải thay bằng "tay gôn", "gôn thủ" mới là tiếng Việt. Từ "super star" này thay bằng "siêu sao". Từ "computer" này nữa, sao không viết là "máy vi tính"?
"Nhiều nhà báo trẻ bây giờ sính dùng tiếng Anh, tiếng Mỹ trong bài quá, mặc dù nhiều từ có tiếng Việt tương ứng. Có khi lại dùng từ nước ngoài kèm theo tiếng Việt, kiểu như: fan hâm mộ, nắp ca-pô…” - ông Y. nói. “Tôi nhớ báo chí Sài Gòn thời trước 75 không ai viết tiếng Việt theo kiểu "ba rọi" như vậy, mà phóng viên có lỡ viết thì biên tập viên cũng sẽ sửa ngay".
Ông Y. sống cả tuổi trẻ của mình ở Sài Gòn cũ. Ông học ĐH Văn khoa Sài Gòn, ban Anh văn, vừa học vừa đi viết nhật báo rồi chuyển qua làm cho một tạp chí văn nghệ. Còn bây giờ, ông làm biên tập viên "kiêm" sửa morat cho mấy tờ tạp chí tiêu dùng của một tòa soạn ngoài Hà Nội.
Theo ông, ngôn ngữ chỉ là một trong rất nhiều điểm khác biệt giữa báo chí Sài Gòn cũ và báo bây giờ. Nhưng nghề báo thì bao giờ cũng vậy, là niềm vui, là nỗi buồn, là lòng nhiệt tình của tuổi trẻ và cả những giọt nước mắt.
Sinh ngữ thành tử ngữ
T.T.T., một người làm báo thời Sài Gòn cũ, hiện viết báo tiếng Việt ở nước ngoài, từng bày tỏ sự lo lắng về nguy cơ biến mất một thứ tiếng Việt mà người Sài Gòn hồi đó dùng, được thể hiện trên báo chí và văn học. Hiện nay, nhiều từ ngữ đã bị quên lãng hoặc rất hiếm được dùng như: sổ gia đình, bằng khoán nhà, gá nghĩa, giáo học v.v.
Đổi lại, kho ngôn ngữ của người miền Nam sau giải phóng được bổ sung thêm rất nhiều "từ vựng": hộ khẩu, đề xuất, quyết sách, bồi dưỡng, kiểm thảo… Từ khi mở cửa nền kinh tế và Internet bùng nổ ở Việt Nam, ngôn ngữ hiện đại càng phát triển, từ mới xuất hiện chóng mặt trong mỗi lĩnh vực chuyên môn cũng như ngoài đời sống.
Những người hoài cổ có thể thấy xót xa cho một thứ tiếng Việt trong quá khứ, giờ sắp thành cổ ngữ hoặc tử ngữ. Nhưng suy cho cùng, ngôn ngữ là thế, luôn vận động và thay đổi cùng cuộc sống, cái mới sinh ra thì cái cũ phải mất đi.
Tiếng Việt của báo chí Sài Gòn cũ giờ chỉ còn được dùng ít nhiều trong làng báo chí hải ngoại, đặc biệt bởi thế hệ cao tuổi. Độc giả trẻ ở Việt Nam ngày nay có thể bật cười khi đọc những câu như: "Tờ Nữu Ước Thời Báo loan tin…".
Thông tín viên và phóng viên
Ngoài văn phong, ngôn từ, báo chí Sài Gòn cũ còn rất nhiều điểm khác thời nay. Chẳng hạn về cách tổ chức. Ngoài các phóng viên chính thức, mỗi tờ nhật báo còn có một lực lượng "thông tín viên" (correspondent).
Những người này cũng là ký giả, nhưng chỉ chuyên săn tin vặt. Hàng ngày, họ đạp xe (sang hơn thì chạy vélo-solex hay mobylette) đi khắp thành phố, lượm lặt những tin nho nhỏ dạng "xe cán chó, chó cắn xe"... để bán cho các báo.
Cánh phóng viên thì dường như thời nào cũng vậy, viết bài nộp tòa soạn xong là xả hơi, gặp nhau bàn chuyện nghề chuyện đời, rồi tán dóc, nhậu nhẹt.
Ông Y. nhớ lại: "Làm báo giàu thì nhiều tiền, làm báo nghèo thì ít tiền. Nhiều phóng viên của các tờ báo giàu ăn chơi đế vương lắm, nhảy đầm, bài bạc, có người còn hút sách nữa. Nhưng chính vì thế nên thường không có nhà báo giàu mà chỉ có ông chủ bút là giàu thôi".
Thật ra thời đó chiến tranh nguy hiểm, phóng viên salon cũng nhiều. Vậy nên các tòa soạn mà có được phóng viên trẻ nhiệt tình, chịu khó ra vùng chiến sự để gửi tin bài về thì chủ báo “cưng” lắm.
Bản thân ông Y. cũng hay tới các vùng chiến sự quanh Sài Gòn, thậm chí đến tận miền Trung, nơi được xem là chiến tranh ác liệt nhất như "Nam Ngãi Bình Phú" (Quảng Nam - Quảng Ngãi - Bình Định - Phú Yên), để viết bài phản ánh về cuộc sống khổ cực của nông dân trong thời loạn lạc.
"Hồi ấy tôi trẻ, nên nhiệt tình phơi phới, ham đi. Chứ chiến tranh bom đạn, làm phóng viên chiến trường nguy hiểm lắm. Các nhà báo phương Tây mà tôi biết đều được bảo hiểm rất lớn. Phóng viên bản xứ thì không thế".
Có lẽ đó cũng là một lý do khiến làng báo Sài Gòn cũ không có nhiều phóng viên chiến trường nổi tiếng tầm cỡ thế giới như đồng nghiệp ở AP, UPI, hay Time. Nick Út của AP (nổi tiếng với bức ảnh chụp em bé bị bỏng bom napalm) là một trường hợp hiếm hoi trong lĩnh vực báo ảnh.
Báo Sài Gòn cũ - mỗi tờ mỗi vẻ
Báo chí Sài Gòn cũ có nhiều loại. Có những tờ công khai chống chính quyền Sài Gòn tham nhũng, như Tin Sáng (chủ nhiệm là ông Ngô Công Đức, đã mất năm 2007 tại TP HCM), Điện Tín (cố nhà báo Chánh Trinh tức Lý Quý Chung là cây bút bình luận chính trị sắc sảo của tờ này). Họ châm biếm chính quyền kém cỏi, gọi "Tổng thống Thiệu" là "Tổng thống Thẹo", "Sáu Thẹo", hay Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn thời Johnson là "Ông già tủ lạnh", chẳng biết sợ.
Những năm cuối thập niên 60, đầu thập niên 70, mục "Tin vịt nghe qua rồi bỏ" trên báo Tin Sáng đã có những bài viết trào phúng phê phán chế độ Sài Gòn, rất được độc giả ưa thích.
Ngược lại, có tờ báo chống cộng dữ dội. Và cũng có nhiều tờ trung lập, gọi là thuộc "thành phần thứ ba", "đường lối thứ ba" - kêu gọi hòa bình, hòa hợp hòa giải chung chung, không ưa gì chế độ miền Nam nhưng cũng không ra mặt chống đối.
Một trong các báo có số bán ra nhiều nhất là Sống của Chu Tử, một tờ khét tiếng chống cộng. Tất nhiên, báo có lượng phát hành cao không nhất thiết là báo hay.
Dĩ nhiên là không thiếu cả những "lá cải" xanh xanh, chuyên đăng tin "xe cán chó", đâm chém, tình tiền, tù tội… được mệnh danh là báo "4T". Và không thể không kể tới một thứ "đặc sản" của báo chí hồi đó: Đã báo ngày thì phải có feuilleton (truyện dài nhiều kỳ, đăng trên báo, sau có thể in thành sách).
Feuilleton có thể là truyện tình cảm xã hội, ly kỳ, éo le, đẫm nước mắt, đặc biệt hấp dẫn giới tiểu thương, hoặc là truyện chưởng, kiếm hiệp kỳ tình của Kim Dung. Nhà văn Việt Nam thời đó cũng có những người viết feuilleton chuyên nghiệp, như Dương Hà, Nghiêm Lệ Quân, Tùng Long...
Ông L.T., một cây bút viết feuilleton thể loại dã sử, nhớ lại: "Viết feuilleton thật ra rất khó vì phải hấp dẫn, ăn khách ngay từ đầu, lại phải liên tục, hàng ngày. Có người viết đồng thời 5 feuilleton cho 5 tờ nhật báo khác nhau, đâm ra lẫn lộn, cho một nhân vật chết mấy tháng rồi lại dựng anh ta dậy. Nhà văn Sơn Nam hồi đó cũng viết feuilleton, nhưng lồng nhiều chuyện về phong tục, tập quán Nam Bộ vào, người đọc thích lắm".
Nhưng cái tên ăn khách nhất hẳn là một gương mặt ngoại quốc: Kim Dung. Ông L.T. bảo, hầu hết các nhật báo ở Sài Gòn đều tranh nhau mua, dịch và đăng tải truyện chưởng Kim Dung. Tờ nào đăng được sớm thì bán chạy lắm. Ví dụ tờ Chính Luận được nhiều người đọc không phải vì có tin tức chính trị - xã hội hay, mà vì mỗi ngày họ đều đăng truyện Kim Dung sớm nhất.
Và những nỗi thất vọng
Ở miền Nam trước năm 1975, hầu như các tỉnh không có báo riêng (báo địa phương). Toàn bộ báo chí tập trung ở Sài Gòn. Dân số trong thành phố ngày đó chưa tới một triệu. Vậy nhưng báo chí thì rất nhiều, và theo ông Y. thì báo "thường do các phe đảng hoặc các đại gia nắm, với mục đích phục vụ cho quyền lợi của đảng mình hoặc cho cá nhân thay vì nhân dân".
Vì có nhiều đảng phái chính trị tranh giành ảnh hưởng nên báo chí cũng bị cuốn vào cuộc. Có trường hợp báo chí vừa ca ngợi rùm beng một viên tỉnh trưởng người của đảng này hôm trước, thì hôm sau một tờ báo của đảng khác đã khui ra là ông ta tham ô đến cả tiền cứu trợ cho dân nghèo, nếu bị đưa ra tòa theo luật pháp của chính quyền Sài Gòn thì phải lãnh án tử hình. Phóng viên ngớ người cả loạt.
Ông Y. thở dài: "Thấy mà ngán. Rút cục, nhà báo vô tình trở thành công cụ cho các đảng phái và cá nhân mà thôi".
Do kinh tế không phát triển, lệ thuộc hoàn toàn vào Mỹ, báo chí Sài Gòn hầu như không chú trọng tới mảng kinh tế hay các chính sách vĩ mô về điều hành kinh tế, chỉ nặng về chính trị, xã hội, văn nghệ, giải trí. Càng về những ngày cuối của chế độ, báo chí càng rệu rã, chia rẽ, không phản ánh hay cổ vũ được cho một lý tưởng chung nào của xã hội.
Tuy nhiên, dù sao nền báo chí miền Nam trước 1975 cũng đã làm được việc ghi lại một giai đoạn trong lịch sử của một nửa đất nước.
Những cây bút sắc sảo năm xưa giờ nhiều người đã mất: Lê Ngộ Châu, Ngô Công Đức, Lý Quý Chung (Chánh Trinh)… Một số chọn con đường ra nước ngoài, làm báo bên đó, đôi ba người vẫn tiếp tục "cuộc chiến chống cộng" mệt mỏi và vô vọng.
Cây viết truyện dã sử hồi nào, ông L.T., vẫn cầm bút, nhưng tuổi già đã làm sức viết của ông yếu đi nhiều. Về phần mình, ông Y. nghỉ viết báo đã lâu. Phần lớn thời gian, ông vui chơi với cây cá cảnh, ngoài công việc biên tập kiếm sống. "Cây cá kiểng làm tôi thư thái hơn".
Nói rồi ông lặng lẽ cầm cây bút đỏ, đánh dấu những chỗ sai sót trên tập bản bông xếp ngổn ngang trước mặt. Phải làm cho xong trong buổi sáng nay để còn in, ngày kia báo ra rồi.