Tuesday, 16 September 2008

Chuyện rất nhạt




Xin thông báo trước với mọi người là chuyện sau đây cực kỳ nhạt, ai muốn cười thì đừng vào, mà vào rồi thì đừng trách Trang the Ridiculous không khuyến cáo.

Số là thời gian vừa rồi Trang the Ridiculous có thực hiện phỏng vấn một nhân vật (người nổi tiếng, tất nhiên). Để bài viết được đầy đủ thông tin (nói chung là chẳng bao giờ đầy đủ đâu, bổ sung được tí nào thì bổ sung thôi), lại đang thừa cảm hứng - điều hiếm gặp ở Trang the Ridiculous trong hơn 3 năm qua, tôi hẹn gặp thêm chị gái của Người. Chị ruột, tất nhiên, và tôi xin cam đoan là quan hệ giữa họ tốt đẹp - từ đánh giá của một người ngoài là tôi.

Nhưng ngồi trò chuyện một lúc, tôi mới tỉnh ra… Trời, cái gì thế này? Hóa ra chị gái của nhân vật là một kẻ cực kỳ lố bịch. Chị cung cấp cho tôi đầy đủ thông tin về nhân vật, nhưng dưới góc nhìn có thể nói là xứng danh Thiên hạ Đệ Nhị Lố Bịch. Đại loại, qua lời kể của chị, người nổi tiếng của chúng ta bỗng trở nên giống một nhà sư trong bộ đồ nâu sồng trang nghiêm, phía dưới tà áo nâu đó lấp ló lòi ra một mảnh của chiếc quần sịp nửa xanh nửa đỏ.

Ôi thôi, scattered image! Hình ảnh đổ vỡ!


Ví dụ mô phỏng một đoạn đối thoại:

- Anh ấy dạo này bận lắm hả chị? Đâu như tham gia một lúc mấy dự án liền, có cả cái dự án chống lũ lụt gì ấy, của LHQ.

- Đầu, đầuuuu. Làm gì có.

- Ơ, chính anh ấy bảo em thế mà!

- Đầuuu. Dự án chống đái dầm thì có, lũ lụt gì!


Trang the Ridiculous đực mặt:

- Chán thế ạ?

- Chán gì? Hơ, em bảo chán gì?


Không thể kìm nổi sự áy náy (chẳng gì thì tôi vẫn còn khá nhiều lương tâm, đủ dùng cho vài năm nữa), tôi cầm cái máy ghi âm ngắm nghía:

- Chị… Chị không sợ em viết như thế lên báo à?

- Khồngggg. Sợ gì. Tất nhiên là em đưa lên rồi thì đi mà giải quyết mọi tranh cãi với nó nhé, chị không chịu trách nhiệm đâu.


Thông tin chị này cung cấp toàn mật cả, nhưng mật đến mức không đưa lên báo nổi. Không thể nào nói người nổi tiếng có thói quen ngoáy mũi được. Trang the Ridiculous thở dài, nghĩ thầm: “Kiểu này chỉ có post lên blog thôi”. Nhưng mở blog ra, lại thấy cũng không post lên blog được.

Thôi vậy, giữ trong đầu vậy. Chuyện đến là nhạt. Xin lỗi mọi người nhé.



(Tất cả thông tin liên quan đế n nhân vật đều đã được thay đổi)

Tuesday, 2 September 2008

Hậu trường của "Bóng" (tiếp)




Sau khi phóng viên đã ra về, câu đầu tiên Dũng hỏi tôi bao giờ cũng là: "Anh trả lời như thế có được không?". Chỉ khi nào tôi khẳng định: "Được ạ, anh yên tâm", Dũng mới bắt đầu nói sang những chuyện khác, như khen phóng viên đẹp trai, có duyên chẳng hạn. Anh không cho tôi biết điều gì anh muốn nói mà không dám nói kia. Nhưng sau vài buổi, tôi đã lờ mờ đoán ra điều đó, khi nhớ lại và tổng kết các câu hỏi thường gặp.

Phóng viên VN:

  • Vì sao anh lại viết tự truyện?
  • Trong tự truyện của anh, có những chi tiết như thế này… thế này… Bao nhiêu phần trăm là sự thật?
  • Căn cứ vào tự truyện thì thấy người đồng tính chỉ toàn yêu đương, đánh ghen?
  • Anh không hài lòng với tác giả cuốn sách?
  • Anh có được đọc bản thảo lần cuối trước khi sách xuất bản không?
  • Bạn bè anh phản ứng như thế nào về cuốn sách?
  • Anh nghĩ sao khi có ý kiến cho rằng cuốn sách viết về một đề tài câu khách mà thật sự rất ít thông điệp xã hội?
  • Anh có nghĩ cuốn sách hơi sến/ đen tối/ nặng nề?

Phóng viên "Tây" ở ta và phóng viên ta ở nước ngoài (tức là Việt kiều):

  • Anh muốn nói điều gì qua cuốn tự truyện?
  • Giới đồng tính ở phương Tây đã phải trải qua một thời gian dài đấu tranh, để dần có được sự bình đẳng như một công dân bình thường. Chuyện đó xảy ra từ thập niên 60 của thế kỷ trước. Anh có nghĩ giới đồng tính VN rồi cũng sẽ đi đến giai đoạn đó?
  • Anh có thể nói cụ thể hơn về sự phân biệt (nếu có) mà xã hội nhằm vào người đồng tính ở VN?
  • Anh nghĩ thế nào về các chính sách của chính phủ đối với một cộng đồng thiểu số - là người đồng tính?
  • Người đồng tính ở Việt Nam bị phân biệt đối xử nặng nhất là như thế nào?
  • Bây giờ anh mong muốn điều gì?


Người được hỏi và người nghe có thể nhận thấy sự khác nhau giữa các bộ câu hỏi được đặt ra cho Dũng. Phóng viên nước ngoài có xu hướng quan tâm tới các vấn đề vĩ mô, ví dụ thái độ của xã hội, chính sách của Nhà nước đối với người đồng tính. Còn phóng viên VN thiên về các khía cạnh cá nhân của cuộc đời Nguyễn Văn Dũng. Về “lập trường” mà nói thì các câu hỏi của cánh ta xem ra luôn có hàm ý moi móc đời tư và công kích cá nhân Dũng – người đồng tính đầu tiên ở VN ra tự truyện. Nếu khai thác được sự bất hòa, mâu thuẫn nào đó giữa tác giả và nhân vật chính của cuốn tự truyện thì rồ ôi tuyệt vời!


Nhưng… không trách các nhà báo được!


Không phải ngẫu nhiên mà các nhà báo VN có phản xạ moi móc và công kích Dũng. Những câu hỏi mang chất tấn công ấy còn có mục đích gì ngoài thu thập thông tin thỏa mãn nhu cầu của độc giả.

Tôi nhớ có một đại nhà báo, chị L., dạy rằng chức năng của báo chí là định hướng xã hội. Thưa, em thì em nghĩ khác, em cho rằng báo chí chỉ phản ánh xã hội mà nó phục vụ, chứ định hướng cái --- gì. Xin lỗi, chúng em chỉ là phóng viên!

Chúng em hỏi những câu ấy vì chúng em biết chắc rằng dân ta “khát” những thông tin ấy. Chúng em biết dân ta ghét người đồng tính – cái lũ đàn ông không ra đàn ông, đàn bà không ra đàn bà, chiếm thiểu số trong xã hội, đã thế lại còn cả gan ra tự truyện – láo thế chứ lậy! Chúng em biết dân ta “háo” những chuyện hậu trường như là tranh cãi giữa tác giả và nhân vật chính. Và tuy chửi truyện đầy tình và sex, đề tài câu khách rẻ tiền thật đấy nhưng cuối cùng vẫn tìm đọc. Vừa đọc vừa chửi (mượn sách đọc thôi, cho nó kinh tế, chứ chẳng mua đâu ạ. Độ 10 người chung nhau 1 quyển photo, ví dụ thế).

Có lẽ vì xã hội như vậy nên việc một người đồng tính ra tự truyện mới thành hiện tượng, đề tài đồng tính mới được xem là "hot". Chứ ở Anh hay Mỹ chẳng hạn, một anh gay ra tự truyện chắc chẳng ai quan tâm, nói đồng tính là đề tài câu khách chắc bị các publisher và editor cười cho thối mũi. Vì sự kiện ấy khác nào các bác cựu chiến binh ở ta viết hồi ký “Đời hoạt động của tôi”, “Trung kiên và bất khuất”... (Ôi thôi, lại nói nhảm rồi. Sợ rồi. Chả dám nói nữa).


Dì Dũng vốn thích nhạc vàng.

Có một câu hát trong bài “16 trăng tròn” mà Tuấn Vũ biểu diễn, như thế này: “Cuối nẻo phong mờ, nhủ riêng ai đó, tha thiết đợi chờ ngày đêm, tôi sẽ về dệt mơ ước.

Em ơi, khi non nước đang còn mịt mờ bên phương nớ, chuyện đó đừng mơ”.

Anh Dũng thích Tuấn Vũ lắm, chắc anh biết bài hát ấy.

Đôi khi nghe anh nói chuyện “quyền bình đẳng của người đồng tính như một công dân bình thường”, tôi cũng muốn cười hì hì mà nói với anh rằng: Anh ơi, khi đất nước đang còn mịt mờ, đầy định kiến, chuyện đó đừng mơ.


Tuesday, 26 August 2008

Hậu trường của "Bóng"




Từ sau khi cuốn “Bóng” ra đời, nhân vật chính của tự truyện – anh Nguyễn Văn Dũng, chúng tôi hay gọi là “dì Dũng” - bỗng trở thành một người “in the news”. Anh thường xuyên được báo chí tìm đến phỏng vấn.

Một đôi lần anh gọi Trang the Ridiculous đi cùng theo kiểu “chị em gái với nhau”, hộ tống cho anh đỡ run. Thực tâm tôi biết anh có phần sợ các nhà báo, anh vẫn bảo giới ấy giống như con dao hai lưỡi. Cực chẳng đã, dằn sự cắn rứt khi bài vở còn một lô chưa viết, tôi đi cùng “dì Dũng” vài buổi, làm ông bầu bất đắc dĩ. Phóng viên hỏi, dì trả lời. Tôi ngồi cạnh, im lìm (trừ lần đóng vai trò phiên dịch trong cuộc gặp với chú Tây làm cho AFP).

Khi những buổi phỏng vấn kết thúc, thường anh Dũng nói phóng viên về trước, còn tôi ngồi lại với anh thêm một lúc. Ánh mắt anh có một vẻ gì đó, mà tôi hiểu anh có điều muốn nói nhưng không dám nói ra...


(Còn tiếp)


+++++

Có bạn nào muốn đọc "Bóng" miễn phí thì vào đây này, làm theo chỉ dẫn:

http://news.zing.vn/news/doi-song/tang-ban-doc-tu-truyen-cua-nguoi-dong-tinh/a28457.html

Friday, 15 August 2008

Nhân vật chính trong “Bóng”: “Mong cái nhìn nhân ái!”




“Bóng” - cuốn tự truyện đầu tiên của người đồng tính ở Việt Nam - đã được NXB Văn học cho ra mắt. Nguyễn Văn Dũng - nhân vật chính trong “Bóng” - đã trò chuyện với chúng tôi (PV báo GĐ&XH) những câu chuyện chưa có trong cuốn sách.



Tôi đã lột trần mình trong “Bóng”

- Động cơ nào giúp Dũng có đủ can đảm để công khai chuyện mình là người đồng tính và quyết định kể lại cuộc đời của mình qua một cuốn tự truyện khá dày dặn?

- Đây có thể nói là quyết định quyết liệt nhất trong cuộc đời của tôi. Tôi phát hiện ra mình đồng tính từ khi 15 tuổi nhưng mãi đến 2005, tức là khi tôi đã 38 tuổi, tôi mới dám công khai trước mọi người bí mật này. Để có được quyết định đó, tôi đã phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều.

Sau khi công khai mình là người đồng tính, tôi đã tham gia rất nhiều các hoạt động xã hội ở các nhóm đồng đẳng, ở các dự án. Về sau, tôi muốn những người đồng tính không phải sinh hoạt trong những khuôn khổ cứng nhắc, có thể hoàn toàn quyết định các công việc và cuộc sống của mình nên tôi bỏ về và lập ra nhóm Thông Xanh - nhóm tự lực của những người đồng tính. Vì là một người đã có thâm niên và kinh nghiệm trong hoạt động xã hội, nên tôi luôn mong muốn mình sẽ làm được một việc gì đó có ích cho những người trong “thế giới thứ ba”.

Năm 2007, Duy - một người bạn ở Công ty cổ phần sách Giao Điểm - DOMINO gợi ý tôi nên dành thời gian làm một cuốn tự truyện. Nghe ý tưởng của Duy tôi thích lắm. Tuy nhiên tôi đã phải đấu tranh tư tưởng rất nhiều. Đã có những lúc tôi gọi cho Duy để từ chối vì cảm thấy mình không thể thực hiện được điều đó. Nhưng tôi lại rất mong muốn cuốn sách sẽ là một người bạn đồng hành, hỗ trợ mình những ngày đầu khi nhóm của mình còn yếu, chưa tạo được hình ảnh, tiếng nói, ảnh hưởng, đến cộng đồng. Vì vậy, tôi chấp nhận hy sinh khi quyết định bóc trần mình ra trong cuốn tự truyện “Bóng”.


- Điều gì làm Dũng đắn đo nhiều nhất khi quyết định bắt tay vào làm cuốn tự truyện của mình?

- Vấn đề về người đồng tính vẫn còn rất nhạy cảm trong xã hội Việt Nam. Những chuyện riêng tư, thầm kín của bọn mình nhiều khi còn giấu cả gia đình chứ đừng nói đến việc kể cho người ngoài nghe. Chẳng dễ gì để có thể bộc bạch những điều như tôi đã kể trong cuốn sách.

Cách đây mấy năm, tôi đã công khai mình đồng tính trên báo chí, nhưng lúc đó chỉ đơn giản là vài dòng thông tin chung chung và ngắn ngủi trên mặt báo thôi. Còn trong cuốn “Bóng” thì có thể nói tôi đã lột trần mình ra rồi. Tôi cũng xác định rằng nếu cuốn sách không ra gì mà để ảnh hưởng đến những người đồng giới thì chỉ có bỏ xứ mà đi.


- Gia đình, bạn bè nói gì khi đọc cuốn tự truyện của anh?

- Gia đình tôi ủng hộ lắm. Mọi người đều thông cảm và thương tôi. Chỉ có mỗi một chi tiết các anh chị không thích là việc tôi nhắc đến tên thật của mẹ mình. Mọi người góp ý là nếu chỉ để là bà T thay vì bà Tốt thì sẽ hay hơn. Đây là mọi người muốn thể hiện lòng kính trọng đối với mẹ tôi thôi, chứ không phải vì tôi là một cái gì đó xấu xa mà phải giấu giếm tên tuổi người thân để khỏi liên lụy. Bạn bè đọc sách thì gọi điện tới tấp. Có anh bạn khen viết tốt nhưng lại chua thêm một câu: Có lẽ từ nay anh chẳng dám đến nhà chú nữa, có gặp thì gặp ở quán xá tiện hơn.



- Phần đầu cuốn tự truyện có viết: “Tiền hai mẹ con kiếm ra bao nhiêu, nó dốc hết vào bao giai, rửa chân, gội đầu nhổ tóc sâu cho giai, còn mẹ nó nằm còng queo góc nhà. Bà ốm nặng, nó đi với giai tít mít, lúc về thấy mẹ ngồi bốc cơm nguội nhai trệu trạo. Lần khác hàng xóm thấy bà cụ ngã nằm ngay cửa nhà, chắc là gượng dậy đi vệ sinh bị trúng gió”. Đây có hoàn toàn là sự thật?

- Khi làm cuốn tự truyện này, tôi đặt trách nhiệm của mình lên cao nhất. Đúng như lời giới thiệu của những người chấp bút, “Bóng có 80% là sự thật, 20% còn lại là sự thật được viết theo cách nhẹ nhàng hơn để giảm đi phần khốc liệt. ”Tôi đã rất khó khăn khi phải kể lại những chuyện đấy. Có những lúc tôi vừa kể vừa ngượng hoặc vừa kể vừa khóc vì xúc động quá. Tôi luôn mong muốn cuốn sách thành công, nếu tôi không kể thật thì cuốn sách làm sao thành công được. Tôi ý thức được rằng nếu cuốn sách ra đời thì tôi sẽ hiện ra thật trần trụi trong từng trang sách. Có thể tưởng tượng rằng tôi đang nằm trên một cái bàn cho mọi người mổ xẻ, xem xét...


- Sau khi kể xong cuốn tự truyện, có thay đổi gì lớn từ trong con người Dũng không?

- Sau khi cuốn sách ra đời, tôi thấy mình già đi rất nhiều và trưởng thành lên rất nhiều. Vì cuốn sách là giới hạn cuối cùng của tất cả mọi thứ trong con người tôi.


Khổ sở vì bị bạn trai rủ đi... mát xa


- Có sự kỳ thị nào của người đời làm anh phải rơi nước mắt chưa?

- Cũng có chứ! Tôi có một nhóm bạn trai chơi rất thân với nhau. Thỉnh thoảng, nhóm lại hẹn nhau tụ tập ở nhà một ai đấy rộng rãi để nhậu nhẹt. Tôi thường tránh những buổi gặp gỡ như vậy nhưng tránh mãi cũng không được vì các bạn lại bảo mình không hòa đồng. Có lần tôi tham gia, khi đêm tất cả phải ngủ lại nhà người bạn đứng ra tổ chức. Một cậu bạn nửa đùa nửa thật bảo: thằng nào bị bệnh xã hội thì nằm riêng ra nhé! Nghe như thế tôi buồn lắm, hay là mình có tật giật mình cũng không biết nữa. Tôi chọn chỗ nằm ở ngoài cùng và không chui vào chăn chung với mọi người. Đêm lạnh thì đắp một cái chăn đơn rồi nằm khóc thầm mà mọi người không biết.

Còn những kỳ thị trong quá trình tôi đi hoạt động xã hội thì cũng có nhưng không nặng nề, thậm chí không rõ ràng, ví dụ như đàn ông thì có vẻ như giữ khoảng cách với mình hoặc có một vài lời dò xét... Tôi trở thành một câu hỏi, một ẩn số để cho mọi người đi tìm lời giải đáp. Chính vì thế mới có những câu chuyện bi hài xảy ra.


- Hình như anh cũng đã từng tham gia quân đội?

- Tôi có tham gia nghĩa vụ quân sự mấy năm. Đối với tôi những ngày trong quân ngũ là những ngày đẹp nhất, vì thời gian đó tôi chưa vướng và rơi vào bế tắc trong chuyện tình cảm. Chỉ có điều trong quân ngũ tôi rất sợ lao động nặng. Tôi to cao hơn các anh em cùng đơn vị nhưng họ vác củi chạy rầm rập hay cưa gỗ ầm ầm thì mình chỉ muốn chết ngất ra đấy. Bạn bè trèo cây hái quả thì tôi chỉ dám đứng dưới nhìn lên vì sợ độ cao. Bởi tâm hồn tôi là phụ nữ nên tôi chỉ thích những gì nhẹ nhàng, thích sống có chiều sâu. Mỗi lần lao động thấy mặt tôi nhợt nhạt đi, anh em xúm lại hỏi thì tôi phải nói dối bị bệnh tim. Mọi người không biết tôi đồng tính nên rất vô tư, đêm nằm ngủ được mọi người ôm tôi rất thích, người cứ lâng lâng như trên mây.


- Những người đồng đội giờ còn liên lạc với anh không?

- Nhóm anh em đồng ngũ cùng tôi ngày trước, năm nào cũng tổ chức gặp gỡ vào ngày 30/8 gọi là kỷ niệm ngày nhập ngũ. Tôi mong chờ ngày đó lắm. Hai mươi năm nay rồi mà sự mong chờ đó vẫn không giảm đi. Từ ngày tôi tham gia hoạt động xã hội một cách công khai ở CLB đồng tính nam Hải Đăng thì mấy năm liền mọi người không gọi tôi đi gặp mặt nữa. Tôi tủi thân lắm.

Năm ngoái, còn cách mấy ngày, tôi gọi điện cho một cậu bạn để hỏi và dặn là nhớ gọi mình. Đúng ngày 30/8 mọi người gọi tôi thật nhưng là khi họ đã ngồi ăn uống chán chê rồi. Những người như tôi thì hay dỗi, hay tự ái và tủi thân nên tôi không đi. Về sau tôi vỡ lẽ ra mọi người ghét tôi là vì ăn uống xong, khi tất cả kéo nhau đi hát karaoke, đi giải trí thì tôi lại bỏ về trước. Cuối cùng tôi phải nói thẳng với mọi người là phải thông cảm cho tôi, vì tôi có như mọi người đâu, tôi có thích phụ nữ đâu. Sau đó anh em gọi tôi là “con vợ” và hứa năm nay sẽ gọi cho tôi.



Mong nhận được một cái nhìn nhân ái hơn


- Anh đã trải qua bao nhiêu mối tình rồi?

- Cả người đồng giới và người khác giới thì khoảng 20 người. Những người khác giới thì chỉ là yêu giả vờ thôi. Người đồng tính chúng tôi bị mang tiếng lắm. Người ta bảo bọn tôi là đa tình, là đa dâm. Đấy cũng là hạt sạn trong cuốn tự truyện của tôi mà khi đọc lại bản thảo tôi cũng bỏ sót, không phát hiện ra. Nói chúng tôi đa dâm là hoàn toàn không phải. Chẳng ai sinh ra lại muốn mình truân chuyên trong tình yêu, muốn tình yêu của mình rơi vào tuyệt vọng, không có tương lai, không có hạnh phúc...

Chúng tôi không được lựa chọn trong tình yêu, hay bị người tình bỏ rơi, thích đàn ông nhưng chẳng người đàn ông nào chấp nhận. Đây là cuốn tự truyện của tôi nên những câu chữ trong sách coi như là phát ngôn của tôi. Tuy những gì tôi kể không phải đại diện cho thế giới thứ 3 nhưng người ta vẫn sẽ nghĩ tôi là người đại diện.


- Dự định trong thời gian tới của anh là gì?

- Tôi vẫn tiếp tục đầu tư thời gian, công sức, tâm huyết cho nhóm “Thông Xanh”. Tôi muốn những người đồng tính chúng tôi làm được nhiều hơn nữa những việc có ích cho cuộc đời này. Để giúp chúng tôi làm được việc đó thì mong rằng xã hội sẽ nhìn nhận chúng tôi đúng đắn hơn, thông cảm hơn, nhân ái hơn. Và một khát vọng không nguôi là tôi vẫn tin mình sẽ có được một gia đình hạnh phúc như những người bình thường khác. Dù đấy chẳng phải một điều đơn giản!



(Nguồn: báo Gia đình - Xã hội)

Monday, 11 August 2008

Tình yêu thời bão giá




Bực bội và chán bão giá nên post cái bài này (không đăng được ở đâu ngoài một tờ báo hải ngoại hết sức phản động!). Ảnh chẳng có tính gì, kể cả tính minh họa. Photo by Z20.


Y mới có người yêu. Cô ta xinh hay xấu, lành hay ác, tuổi tác ít hay nhiều, làm nghề ngồi một chỗ hay chạy loạn ngoài đường, là mối tình thứ mấy của y… chuyện ấy chẳng có gì đáng nói. Điều đáng nói là y có tình duyên mới đúng vào lúc cả nước đang rơi vào vòng xoáy điên cuồng của một cơn bão mạnh cấp 11, giật trên cấp 12: bão giá.

Trời hại y, con tim đang vui trở lại, lòng dạt dào muốn yêu, thì bão giá nổ ra. Hàng hóa gì cũng tăng giá, trừ hàng hóa sức lao động của y. Lẽ thường, với một người nghèo, chi tiêu sẽ dồn vào ăn là chính. Điều này đúng cho cả một gia đình lẫn một đất nước: Nhà nghèo tốn tiền ăn phần nhiều chứ mấy nhà tốn vào tiền mua vé xem phim với xem thi hoa hậu. Đứng trên tầm vĩ mô mà nói, khi đất nước nghèo, chi tiêu của dân chúng đổ hầu hết vào ăn uống, còn chuyện làm đẹp, giải trí, giáo dục, nâng cao đời sống tinh thần… phải để sau, cứ theo thứ tự ấy mà ưu tiên.

Y cũng thế. Dạo trước bão giá, sau khi bán hàng hóa sức lao động của mình, y có thể dùng tiền ấy để ăn uống, tậu thiết bị cho con laptop cưng, mua giày, cắt tóc, mua sách báo truyện đọc cho dễ ngủ mỗi đêm. Từ khi bão giá nổ ra, y chẳng còn mua được gì, suốt ngày chỉ thấy lo ăn. Đã thế lại đèo bòng thêm một cô người yêu đúng vào lúc này, quả là trong cái may có cái rủi.


Chẳng hiểu người khác yêu đương thế nào chứ với y, mối tình nào cũng làm y lõm về tài chính. Y quan niệm: làm thằng đàn ông đi ăn uống với phụ nữ dứt khoát là phải trả tiền. “Bất khả tri” thì được chứ “bất khả chi” là một điều không thể chấp nhận. (Chính cái ý nghĩ nặng nề ấy giết chết y, chứ thật ra cô người yêu kể cũng thuộc dạng biết điều, cô ta muốn chung lưng chia sẻ tiền ăn uống với tình nhân lắm. Khổ là cứ mỗi khi cô ta toan rút ví thì đều bị y lấy cái lưng to cồ cộ chặn lại, đứng chắn giữa cô ta và người bán hàng).

Mà giá cái gì cũng tăng chóng mặt, giời ơi. Xưa một ly trà Lipton có 5.000 đồng mà bây giờ lên 12.000. Xưa vé xem phim Vincom có 55.000 đồng/ người, giờ vọt lên 70.000 đồng, thêm tiền vé gửi xe bị tương lên 10.000. Mỗi lần giành trả tiền với người yêu, y cố lấy vẻ mặt hào hứng hoặc tệ nhất cũng là lạnh lùng bình thản. Nhưng trong lòng y xót, y đau, và nhất là y buồn, y nhớ. Vốn người hoài cổ, y nhớ tiếc cái thời cấp ba của y, với mối tình đầu. Đó là đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Thời ấy hình như cái gì cũng ngon hơn, rẻ hơn. Phở 3.000 đồng/bát. Bánh mì patê 2.000 đồng/cái, bánh mì không nhân 1.000 đồng. Với 10.000 đồng thầy u chu cấp, y và tình nhân đầu tiên có thể lang thang đi chơi khắp Hà Nội cả ngày mà vẫn no đủ. Thời ấy nay còn đâu?

Rồi miên man nhớ cái thời ấy, y lại nhớ đến mối tình đầu của y, thầm chép miệng: “Sao hồi xưa mình trong sáng thế nhỉ?...”. Cô người yêu đi bên cạnh chẳng hiểu quái gì, nhìn y âu yếm. Y cũng nhìn cô âu yếm không kém.


Các nhà kinh tế phân tích tình hình sao đó, y không nhớ, nhưng đại ý là thế này: “Thị trường nó lạ lắm nhé, nó tự điều chỉnh được hết. Khi nào lạm phát xảy ra thì dân chúng sẽ tự biết cách thắt lưng buộc bụng, giảm chi tiêu cá nhân đi. Mà nói thật ra lạm phát đây là do dân ta ăn tiêu xa hoa quá đấy, bây giờ phải nhịn miệng đi là đúng rồi, còn cãi gì?

Y vốn dân kỹ thuật, chẳng hiểu gì về kinh tế - cái môn khoa học mà y không biết là nên xếp vào xã hội hay tự nhiên, văn hay toán nữa. Nhưng y nghe mang máng thế thì cũng tự hiểu: Phải biết tiết kiệm chi tiêu. Trong lúc hàng hóa sức lao động của y không lên giá, mà lại vẫn phải đảm bảo “khả chi” mỗi lần đi ăn đi uống với bồ, thì y chỉ còn cách nhịn ăn tiêu ở những chỗ khác. Giống như giáo Thứ của cụ Nam Cao khi xưa, nay y tự bảo y rằng: Y sẽ bỏ cái lệ 10.000 phở mỗi sáng đi. Y sẽ tự cắt tóc để khỏi phải ra hàng. Y sẽ ít đú với bọn thằng X thằng Z để tránh những lúc hứng ăn hàng hay uống nước (trà) chanh. Tất cả những món tiền ấy, góp lại chẳng đủ cho y và bạn gái đi chơi, uống nước cả tuần đó ư?




+++++++

Cập nhật: Thưa quý vị và các bạn, nhất là các bạn đồng bào ở xa Tổ quốc, Trang the Ridiculous viết cái mẩu ngăn ngắn (không phải bài báo) trên vào ngày 5/6/2008. Từ đó đến nay, giá cả hàng hóa dịch vụ trên thị trường VN đã biến động đáng kể theo chiều hướng tăng, chẳng hạn một ly trà Lipton bây giờ có thể có giá 15.000 đồng.


Wednesday, 30 July 2008

Harvard của VN (hay chuyên đề về ĐH Ngoại thương, kỳ V)




Không dưới ba lần có người đá xoáy Trang the Ridiculous: “Entry nào cũng phải nhắc tới chuyện mình đã học Ngoại thương”, “Đọc blog toàn thấy nói xấu trường cũ bạn xưa”. Quả có thế thật. Đã vậy hôm nay không xa gần nữa, tôi nói trắng ra đây này, rằng tôi tốt nghiệp ĐH Ngoại thương, chuyên ngành Kinh tế đây này! Bằng Tiêu biểu Khá đây này! Nào.

Tuy vậy, khác với các entry trước toàn nói xấu thầy cô bạn bè, hôm nay Trang the Ridiculous sẽ nói với mọi người về những cái đáng yêu của sinh viên Ngoại thương, và ở một chừng mực nào đó là của giáo dục ở ĐH Ngoại thương.

1.

Trong các trường thuộc khối kinh tế ở VN, ĐH Ngoại thương (sau đây xin gọi tắt là FTU) là trường được đánh giá cao nhất (đánh giá qua đường miệng thôi, nhưng mà thế là đủ, các vị lại đòi hỏi phải có tổng điều tra toàn bộ hệ thống giáo dục đại học mới được phép rút ra kết luận ấy à?). Tại sao lại thế? Bởi các công ty tuyển dụng căn cứ vào chất lượng của các nhân viên tốt nghiệp FTU mà ra.


Công nhận là dân FTU ra trường làm được ở nhiều vị trí trong một nền kinh tế đang thời kỳ hội nhập như Việt Nam ta: bảo hiểm, ngân hàng, chứng khoán, kiểm toán, kinh doanh (cá thể, độc lập), phân tích tài chính, phát triển cộng đồng, và cả làm văn, làm thơ, dịch thuật, làm báo nữa. (Một số gương mặt khí nổi là Nguyễn Thế Hoàng Linh, Cao Việt Dũng, và Phan Việt, như chúng ta đều đã biết).

Đến đây, tôi xin moi tấm bằng tốt nghiệp ra đặt trước mặt để mong được phép phân tích như một kinh tế gia thứ thiệt (đăm chiêu rút kính ra lau). "Có một câu hỏi mà các nhà kinh tế học rất thích đặt ra, gọi là “câu hỏi Harvard”: Những sinh viên tốt nghiệp Harvard (Mỹ) làm việc rất tốt khi ra trường, nhưng đó là vì họ đã học được ở Harvard mọi thứ có thể mang lại thành công, hay bởi vì trường đại học này đã nhận những sinh viên tài năng, có nhiều khả năng đạt thành tựu trong cuộc sống sau này?" (trích "Đô-la hay lá nho?" - "Naked Economics", Charles Wheelan, Alphabooks xuất bản)

Câu trả lời, như thường lệ, bị các nhà kinh tế bỏ ngỏ do họ chưa đạt được sự thống nhất. Nhưng theo tôi, gì thì gì, cứ giơ tấm bằng có chữ Harvard ra là mát mặt mát ruột rồi, Harvard Mỹ hay Harvard Việt Nam cũng vậy cả.


2.

Trường Ngoại thương những năm 1996-2000. Đám sinh viên chúng tôi trẻ, khỏe; rất chăm học vì điểm (trong đầu xác định rõ ràng là thế, nhưng mồm đứa nào cũng kêu ‘tao lười lắm’ để chứng tỏ mình là người thông minh, không cần học nhiều vẫn giỏi); rất thích sâu sắc hóa các vấn đề kinh tế tầm thường: “Cần phải hy sinh một tỷ lệ tăng trưởng nhất định để có một tỷ lệ lạm phát ở mức độ nhất định…”. Đau đầu lắm. Căng thẳng lắm. Dạo ấy cái anh Internet mới chập chững vào VN, sinh viên lên mạng hãy còn bẽn lẽn rón rén, chưa được tự nhiên nhi nhiên như bây giờ. Sách chẳng có, thực tế thì rõ ràng là không giống sách rồi, với lại ai cho sinh viên nhong nhong ra vào các công ty, tổ chức lớn để tìm hiểu thực tế nếu cái lũ vừa ngố vừa nhặng xị ấy không phải con cháu giám đốc? Vì vậy, các sinh viên chăm học có một nguồn tài liệu đặc biệt hữu ích là các bài báo kinh tế - do các nhà báo viết hoặc dịch, tất nhiên. Nói vậy là đủ thấy công lao của báo chí nhé. Nhiều độc giả cứ phàn nàn là nhà báo viết về kinh tế sai, ngu, dốt, đáng chấm ngòi bút vào shit cho chừa tội viết bậy… mà đâu biết rằng đã có bao thế hệ sinh viên kinh tế trưởng thành từ chính những bài báo ấy.

Năm 1997 khủng hoảng tài chính châu Á. Các bài báo (một phần là dịch, phần còn lại là dịch và xào xáo) nói về cuộc khủng hoảng này được photo thật lực, truyền tay nhau trong đám sinh viên chúng tôi. Vẻ mặt ai cũng đăm chiêu và căng thẳng.

3.

Những giờ Anh văn. Chưa vào tiết, sinh viên hỏi nhau: “Hôm nay có dự giờ T.H. không?”. “Phải dự chứ. Không bà ấy lại điểm danh cho phát nữa thì bỏ mẹ, tao vắng ba buổi rồi”. Thế là vào lớp, dự giờ. Mấy đứa ngồi hàng cuối chăm chú chơi cờ caro. Có đứa cao hứng hát: “I’m sitting here in the boring room…” (Tôi ngồi đây trong căn phòng buồn chán). Thời gian ấy, Lemon Tree, Doctor Jones, Barbie Girl, That’s Why đang là hits.

Những giờ học kinh tế. Thầy giáo nhắc: “Các em thảo luận đi chứ”. Thế là thảo luận. Có sự to tiếng:

- Ừ, nhưng mà mày có công nhận với tao là vào cái thời bà Phạm Chi Lan với ông Lê Đăng Doanh học, thì cái trường Ngoại thương này là trường vét đĩa nhất xã hội không? Chỉ có thằng nào dốt quá không học được ở đâu khác mới chui vào đây học.

- Đồng ý! Hồi mấy ông bà thầy dạy mình học, trường Ngoại thương là trường dốt nhấtttttt… Bây giờ mở cửa, tự nhiên mấy ông bà ấy thành có giá.



Dĩ nhiên Trang the Ridiculous (hồi đó cũng đã lố bịch lắm rồi nhưng phải cố nhịn miệng, vì cái bằng) không ủng hộ việc mạt sát các thầy cô giáo, nhưng tôi đặc biệt cổ vũ cho tư tưởng “đạp đổ thần tượng”. Kinh tế học là môn khoa học không có chân lý, và người ta chỉ có thể khá lên được nếu đủ can đảm đập vỡ không thương tiếc các lý thuyết có trước.

Khi tôi nói rằng sinh viên Ngoại thương là những kẻ (bị đẩy vào tình thế phải) nói phét, có bị hỏi: “Thế phải học thế nào mới không là nói phét?”. Than ôi, biết trả lời thế nào, chuyện dài và buồn lắm. Chúng tôi nói phét bởi vì chúng tôi: 1/ không có kiến thức nên phải lấp liếm; 2/ nói thật làm gì nhỉ?


Bắt sinh viên phải đứng lên tranh luận, có ý kiến hùng biện trước lớp, là việc làm thừa và khó khả thi, vì lẽ ra bọn ngố và nhặng sị ấy phải được làm như thế từ hồi học mẫu giáo cơ. Làm sao mà chúng tôi dám đứng lên bảo: “Các đồng chí sai bét, cả Keynes cũng thế, sai hết sai hếttttt”, khi mà hồi cấp 2, đứa nào dám mở miệng bảo “em khinh ông lão đánh cá trong chuyện Ông lão đánh cá và con cá vàng lắm ạ, đồ nhu nhược sợ vợ” đều xơi điểm 5 cả. Mà có phải chỉ xơi điểm 5 là không thôi đâu, thầy/cô giáo còn mang bài ra đọc cho cả lớp nghe và cười nữa, nhục chết đi ấy chứ. Cả nhục, cả nhục!

Vì thế, đối với tôi, những câu nói “đạp đổ thần tượng” kia rất đáng yêu, ở một góc độ nào đó. Về sau này, mỗi lần phóng viên Trang the Ridiculous đi gặp một nhà kinh tế hoặc đại gia, quan chức nào đó để phỏng vấn, phóng viên lại thường nhớ đến câu nói ấy để cười một mình và tự căn dặn: “Không được sợ nhé. Cấm run nhé. Cấm choáng nhé. Không tin bố con thằng nào nhé!”.

Và vì thế, sinh viên Ngoại thương rất đáng được ngợi ca!

Friday, 18 July 2008

Nước ta còn nghèo...




Vào những ngày bão giá rú rít quanh đầu, Trang the Ridiculous thỉnh thoảng lại đi qua phố Thợ Nhuộm, và luôn luôn bị một tấm biển gỗ nhỏ đập vào mắt, trên ấy ghi dòng chữ: “Ở đây bán đĩa mài sừng tê giác”.

Một vài lần trong những dịp “thỉnh thoảng” ấy, tôi thoáng có ý nghĩ tìm hiểu để làm quả phóng sự về những ngành kinh doanh liên quan đến sừng tê giác như thế. Nhưng chợt nghĩ mình cưỡi con xe 82 “chở lợn”, đĩnh đạc dừng chân, hất hàm hỏi người bán “đĩa mài sừng tê giác đâu?”, người ta lại tưởng một đại gia nào giả gái vi hành dạo quanh phố phường, dạo qua thị trường, thì phiền ra. Thế nên là thôi, lần nào cũng chỉ giữ ý nghĩ ấy trong đầu một hai phút rồi bỏ đi.

Tuy nhiên, cứ mỗi lần như thế, tôi lại nhớ tới câu nhận xét kinh điển từng được nghe từ anh Lê Tuấn Tú (nguyên phóng viên truyền hình, một trong số các đồng nghiệp của Trang the Ridiculous). Anh Tú thường nói với vẻ mặt rất chi là đau xót:


- Nước ta còn nghèo – Anh ngừng một lát, môi hơi mím lại, bùi ngùi - Dân ta chưa chắc đã nghèo.


(Câu ấy tôi nghe từ anh Tú. Còn anh Tú lấy từ nguồn nào nữa thì em không chịu trách nhiệm nhé!)

Đúng ra câu này cần được sửa thành: “Nước ta còn nghèo. Một bộ phận dân ta chưa chắc đã nghèo”. Viết đến đây, Trang the Ridiculous lại lim dim nghĩ tới những chiếc sừng tê giác mà mình chưa từng được trông thấy.

Vẫn có người mua được sừng tê giác và đĩa mài sừng. Nhiều người mua được ôtô riêng. Thậm chí máy bay riêng, ở VN cũng có rồi. Tiền ở đâu ra mà nhiều thế?


Cách đây ít năm, câu hỏi này từng được một độc giả xưng tên Lê Đức Thụ nêu ra, và được một học giả, ông Ngô Nhân Dụng, trả lời. Cá nhân Trang the Ridiculous rất thích bài viết trả lời của ông Dụng. Lý do thích: Nó hoàn toàn dựa trên suy đoán, cũng giống như cách Trang the Ridiculous đương nhiên sẽ phải làm trong tình trạng chẳng có thông tin đếch gì về thu nhập của các tầng lớp trên trong xã hội, về cơ chế phân chia thu nhập, cơ chế quản lý – lãnh đạo v.v.

Cho nên, mặc dù chưa bao giờ làm động tác nhấn tổ hợp phím Ctrl+C, Ctrl+V trên blog, hôm nay tôi xin phép phá lệ, phệt nguyên xi bài này lên đây cho mọi người cùng đọc.


* * *



Tôi xin nhắc lại câu hỏi: Vì sao người Việt Nam có nhiều tiền chi ra như vậy? Không biết ông Thụ có ý hỏi về "một số người Việt Nam" có nhiều tiền, hay ông muốn hỏi về "người Việt Nam" trong cả nước nói chung? Nhưng cũng không cần phân biệt như vậy. Vì nếu tài sản của 100 ngàn người ở trong nước tăng lên mỗi người 100 ngàn đô la thì tài sản chung cả nước Việt Nam cũng cao hơn mười tỷ đô la, nghĩa là nói chung nước mình giầu thêm 10 tỷ. Mười tỷ bạc đó ở đâu ra? Vì sao "người Việt Nam chúng ta" có nhiều tiền như vậy, trong lúc sản xuất nông nghiệp, công nghiệp còn quá lạc hậu, nghèo nàn?

Xin thưa với ông là, một phần tài sản đó do tổ tiên để lại. Một phần nữa là do chúng tôi, người Việt từ nước ngoài đóng góp gửi về! Đó là cách trả lời đơn giản cho một bài toán có vẻ đơn giản! Thu nhập từ các tài sản đó không được phân bố đều cho tất cả mọi người mà dồn vào cho một số nhỏ, thí dụ trăm ngàn người; để họ ăn tiêu thong thả, có tiền mua nhà trị giá hàng nửa triệu đô la, mua xe ô tô Mercedes mới, Lexus mới, vân vân. Tại sao việc phân bố không đồng đều, người có nhiều, người có ít thì các cụ tổ tiên cũng như chúng tôi ở ngoài không ai cố ý gây ra cảnh đó, chính đồng bào mình ở trong nước chịu trách nhiệm.

Sau đây tôi xin phân tích kỹ hơn, dùng những số thống kê của tạp chí The Economist xuất bản ở Anh quốc, tờ báo này tôi đọc mỗi tuần và tôi rất tin. Tổng sản lượng nội địa của Việt Nam khoảng 33 tỷ mỹ kim một năm, đó là trị giá tất cả những hàng hoá, dịch vụ của cả nước có được và tiêu dùng trong một năm. Chia đều ra cho hơn 80 triệu đồng bào trong nước thì mỗi người có thu nhập khoảng 400 đô la, không lớn bằng con số 2-3 ngàn mà ông ước đoán. Số tiền 400 đô la đó mọi người đem tiêu thụ hoặc để dành, đầu tư. Tờ Economist tính dân mình chi tiêu chừng 65 phần trăm số thu nhập, tức là mỗi người tiêu bình quân 240 đô la. Họ đóng góp cho các cấp chính phủ chừng 8 phần trăm. Phần còn lại là để dành và đầu tư. Riêng con số ngân sách nhà nước thì năm nay được biết khoảng 10 tỷ đô la, cao hơn tỷ lệ 8 phần trăm. Nhưng trong ngân sách đó có cả những khoản nhà nước đầu tư, như là làm đường xá, xây cơ xưởng máy móc, có thể tính chung vào mục đầu tư, số còn lại thuần túy tiêu dùng nhỏ hơn. Cho nên có thể dùng các số thống kê của tạp chí Economist, vì họ đã thu nhặt từ nhiều nguồn tài liệu đáng tin cậy.

Tất nhiên, nếu mỗi người ai cũng chỉ tiêu thụ 240 đô la một năm thì không ai có tiền mua xe Lexus cả, trông nước mình sẽ thấy nghèo lắm chứ không giàu sang như ông Thụ nhận xét. Vậy thì nếu có người lái xe Mercedes tất phải có người chi tiêu ít đi. Thí dụ các nông dân, làm ruộng, đánh cá, đốn gỗ trên rừng, vân vân. Số chi tiêu hàng năm của họ chỉ có 100 đô la một năm chẳng hạn. Mấy năm trước ông Hoàng Minh Chính cho biết có nơi đồng bào miền núi chỉ tiêu có 50 đô la một năm, nhưng cứ tính đổ đồng là 100 cho tiện. Trong dân số nước ta 70 phần trăm là nông dân, khoảng 56 triệu người. Những người này tiêu 5-600 triệu, tính tròn là 6 tỷ trong tổng số 33 tỷ. Còn lại 27 tỷ chia cho 24 triệu người dân kia. Nhưng các người dân thành phố không phải ai cũng chi tiêu nhiều như nhau. Tôi không có số thống kê về thu nhập bình quân của người dân thành phố. Dân Sài Gòn có thể thu nhập bình quân hơn 1000 đô la. Thu nhập 500 đến 1000 đô la là thuộc loại khá giả rồi. Những người thu nhập hàng trăm ngàn đô la một năm cũng có. Tôi đã gặp mấy người từ Việt Nam qua California chơi, họ nói họ giàu như vậy. Nhưng tôi biết ở các thành phố cũng có những công nhân không có việc làm, có 100 đô la một tháng cũng mừng lắm. Giả dụ trong số 24 triệu người ở thành phố có 22 triệu thu nhập bình quân 500 đô la một năm, ta có 11.000 triệu, tức 11 tỉ trong số 27 tỷ kể trên. Vẫn còn 16 tỷ chia cho 2 triệu người còn lại. Nếu chia đều thì mỗi người được 8 ngàn; nhưng chúng ta biết có những người kiếm ra và chi tiêu nhiều hơn, có người ít hơn.

Nhiều người bạn tôi cho biết khi về nước gặp bạn cũ họ đãi đằng một đêm tốn cả ngàn đô la, uống rượu ngoại không cần tính toán và nhiều mục giải trí khác dân Việt kiều chịu thua! Tôi cũng là một người Việt Nam trung bình, tính rộng rãi với bạn bè nhưng cũng biết tằn tiện, tôi chưa bao giờ đãi bạn bè ở xa tới mà tiêu vài trăm đô la một buổi tối. Cho nên tôi nghĩ những người tiêu cả ngàn đô la thì chắc họ phải kiếm ra mỗi năm vài trăm ngàn đến nửa triệu mỹ kim. Số người kiếm nửa triệu đô la là bao nhiêu, phải hỏi các ngân hàng nơi họ gửi tiền. Hay là ông Thụ thử đếm số xe ô tô đắt tiền họ mua mấy năm gần đây thì đoán được một phần. Hỏi các đại lý xe chắc biết các con số. Biết một phần thôi, vì nhiều người thích giữ của chìm hơn đi khoe của nổi. Mà của chìm thì không phải chỉ để chìm trong nước mà còn ngâm ở tận nước ngoài nữa.

Bây giờ trở lại câu hỏi chính, là tiền ở đâu ra nếu trong cả nước dân ta sản xuất ít như vậy. Trong số 33 tỷ thu nhập chung cả nước có những món do đồng bào làm ruộng, người làm thợ sản xuất ra, đó là những thứ mà ông Thụ trông thấy, ông cho là không đủ cho dân mình giàu có như cách tiêu dùng của nhiều người. Như vậy thì ngoài ra, còn phải có những nguồn sinh lợi khác, đem về cho cả nước những món tiền lớn. Như ở trên tôi mới nói đến, có những thứ do tổ tiên để lại, di sản của tổ tiên chung cả nước chúng ta chứ không riêng gia đình nào, các di sản đó cũng sinh ra tiền. Thí dụ, đất đai; rừng, rừng núi có gỗ, có cả than, quặng mỏ, đá quý; biển, tôm cá và dầu lửa ngoài biển, vân vân. Những thứ như đất đai, đem cho công ty nước ngoài thuê, tiền thu vào là của chung. Có những thứ đem bán ra nước ngoài, tiền đem về cũng là tiền chung của cả nước. Hai nguồn thu nhập ngoại tệ lớn nhất của nước ta là xuất khẩu dầu lửa và gạo. Những món tiền lớn đó thu về rồi được đưa cho những ai chi tiêu, cái này quý vị ở trong nước có thể tính toán được. Nguồn thu nhập lớn thứ ba chính là những món do đồng bào ở nước ngoài gửi về và đem về chi tiêu. Năm ngoái con số kiều hối chính thức là 2 tỉ 700 triệu đô la, con số thật có thể lên tới 3 tỉ rưỡi. Ngoài ra còn những người Việt về nước cũng đem tiền về. Riêng dịp Tết vừa qua có 300 ngàn người, tính cả năm coi như gấp đôi lên thành 600 ngàn. Nếu mỗi người mang về 5 ngàn đô la, (họ còn mang về hộ người khác ngoài số tiền họ đem về để chi tiêu) thì cũng thành 3 tỷ. Như vậy thì đồng bào ở nước ngoài gửi về và đem về tới 6 tỷ, chiếm một phần năm tới một phần sáu tổng sản lượng nội địa. Nếu chỉ tính 3 tỷ rưỡi cũng là một phần mười! Thử tưởng tượng bây giờ chúng ta thấy số thu nhập của mình tăng lên 10 tới 20 phần trăm, mà mình không cần làm gì vẫn có được, cũng thấy dễ chịu lắm chứ? Nếu tính gồm cả số thu nhập nhờ cho thuê và xuất cảng những thứ di sản do tổ tiên để lại cộng với kiều hối thì tổng số có thể lên đến hơn mười tỉ, tức là một phần ba số thu nhập và tiêu dùng của cả nước. Khi chúng ta nhìn vào số sản xuất của các nông dân và các nhà máy, chúng ta không thấy số thu nhập đó. Nghĩa là dân mình giàu gấp rưỡi mà chính mình không biết!

Nhưng tất nhiên con số một phần ba tổng sản lượng nội địa đó không chia đều cho 80 triệu người. Những người nhận được tiền của thân nhân từ Mỹ gửi về, của những anh chị em đi lao động ở Hàn Quốc hay lấy chồng Đài Loan gửi về, những người phục vụ cho các ngành du lịch, họ được hưởng một phần các món kiều hối.

Có những người được hưởng lợi trên những số tiền xuất cảng gạo, dầu lửa cũng như kiều hối mà không phải làm việc nhiều như người dân bình thường. Gạo do nông dân bán ra, người ta mua rẻ rồi bán đắt cho nước ngoài, họ hưởng lợi. Họ biết cách hưởng vì họ khôn hơn người hay vì có quyền thế hơn, cái đó bà con biết. Xuất cảng tôm, cá, quế, đá quý cũng vậy. Ai được hưởng nhiều, ai hưởng ít, đó là do cách tổ chức kinh tế mà ra. Trên nguyên tắc trong một nền kinh tế thị trường ai cũng bình đẳng, có cơ hội làm giàu như nhau. Nhưng cơ cấu kinh tế nước ta chưa hẳn là thị trường, nó có "định hướng xã hội chủ nghĩa." Như vậy thì chắc ai "xã hội chủ nghĩa" hơn thiên hạ, người đó phải "bình đẳng hơn," có cơ hội được chia phần nhiều hơn.

Biết tin tức trước người khác cũng là một cách sinh lợi. Thí dụ nếu họ biết trước tin về quy hoạch nhà đất, họ mua nhà trước; đến khi quy hoạch mới ban ra giá nhà đất tăng vọt, họ bán và hưởng lợi. Có những người biết trước một dự án lớn, như một khu chế xuất, một khu sẽ xây dựng nhà máy lọc dầu, họ cũng mua, bán như vậy. Số tiền họ kiếm được thì chúng ta người trần mắt thịt không tưởng tượng nổi. Cho nên có những người chi tiêu một ngàn mỹ kim một đêm để đãi bạn bè, có người đi Macao đánh bạc thua cả trăm ngàn mỹ kim. Lại có những sinh viên đến California du học, mới tới đã có nhà sẵn để ở, có xe mới để lái đi học và đi chơi, con số đó cũng không nhỏ. Nói chung, nếu cả nước giầu thêm lên gấp rưỡi mà số tiền mươi tỉ thêm đó được tập trung vào trong tay một trăm ngàn người thì những người đó phải giầu nứt đố đổ vách, kiếm thêm một năm 100 ngàn mỹ kim, ăn tiêu vô tư thoải mái, cũng không có gì lạ!

Tôi không biết những lời giải thích như trên có tạm giải quyết óc tò mò của ông Thụ hay chưa. Tôi xin ông cho tôi biết ý kiến. (Ngô Nhân Dụng)




+++++++

Về các phần tiếp theo của “Bóng”, các bạn có thể xem tiếp trên báo Tiền Phong, cả báo giấy và mạng tại địa chỉ: http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=130431&ChannelID=4