Monday, February 13, 2012

Kissinger bàn về Trung Quốc: Chiến tranh biên giới với Việt Nam

Trong “On China” – cuốn sách nửa hồi ký chính trị, nửa nghiên cứu – của mình, cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger dành riêng một chương để nói về “chiến tranh Việt Nam lần thứ ba”, tức là xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông cho rằng có “ba cuộc chiến tranh Việt Nam”, chống Pháp, chống Mỹ và chống Trung Quốc.

Kisssinger ghi lại: Vào tháng 4-1979, hai tháng sau cuộc xâm lược chớp nhoáng của quân Trung Quốc vào đất Việt Nam, Hoa Quốc Phong, lúc đó là thủ tướng Trung Quốc, đã tổng kết “chiến tranh Việt Nam lần thứ ba” với một giọng điệu rõ là kiêu ngạo, nhằm cả vào Liên Xô: “Họ (Liên Xô) không dám động tay chân. Thế là cuối cùng chúng ta đã có thể sờ hông con hổ”.

Với tư cách người ngoài cuộc, và là một nhà ngoại giao Mỹ, Henry Kissinger nhận định, hành động đem quân vào Việt Nam của Trung Quốc là có ý đồ thách thức một hiệp ước phòng thủ chung được ký giữa Hà Nội và Matxcơva mới cách đó chưa đầy một tháng. Do vậy, việc “Liên Xô không dám động tay chân” có ý nghĩa rất lớn. Cựu ngoại trưởng Mỹ viết:

“Cuộc chiến đặc biệt tốn kém đối với lực lượng vũ trang Trung Quốc – vốn chưa được phục hồi hoàn toàn sau Cách mạng Văn hóa. Nhưng hành động xâm lược đã đạt được hai mục tiêu căn bản của nó: Liên Xô không phản ứng nghĩa là họ đã bộc lộ sự hạn chế của mình trong khả năng vươn xa chiến lược. (…) Chiến tranh Việt Nam lần thứ ba cũng là đỉnh cao của hợp tác chiến lược Trung-Mỹ trong Chiến tranh Lạnh”.

Nguồn ảnh: blog bolapquechoa

Những điều ít người biết

Kissinger nhận thấy khi Việt Nam đương đầu với Trung Quốc, cả hai bên đều chịu một thách thức không hề nhỏ về tâm lý và địa chính trị, ấy là họ ở quá gần nhau, và về tâm lý, họ quá giống nhau. “Các nhà lãnh đạo Việt Nam đều quen thuộc với binh pháp Tôn Tử , và họ đã từng áp dụng đáng kể các nguyên tắc của binh pháp này để chống Pháp và Mỹ” – Kisssinger viết. Đây có lẽ là một điều ít người phát hiện ra hoặc đề cập đến khi bàn về cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung.

Tháng 2-1976, Trung Quốc cắt đứt tất cả các chương trình viện trợ cho Việt Nam. Việc này chỉ đẩy Việt Nam về phía Liên Xô hơn: Tháng 6-1978, Việt Nam gia nhập Hội đồng Tương trợ Kinh tế (COMECON) của khối XHCN. Tháng 11-1978, Liên Xô và Việt Nam ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, trong đó có cả các điều khoản về quân sự. Tháng 12-1978, quân đội Việt Nam tiến vào giải phóng Campuchia, lật đổ chính quyền Khmer Đỏ. Trước đó, một thời gian dài, lính Pol Pot đã không ngừng quấy phá Việt Nam. Suốt từ năm 1975, chính quyền Khmer Đỏ nhiều lần tấn công biên giới phía tây nam Việt Nam, tàn sát thường dân, đánh phá các cơ sở kinh tế và quân sự dọc biên giới. Tuy nhiên, điều này không được cựu ngoại trưởng Mỹ nhắc tới trong cuốn sách của mình.

Nhìn vào cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung, Kissinger nhận định: “Yếu tố ý thức hệ đã biến mất khỏi xung đột. Các trung tâm quyền lực của cộng sản (tức là các nước cộng sản – NV) cuối cùng đã tiến hành chiến tranh giành thế cân bằng quyền lực không phải căn cứ vào ý thức hệ mà hoàn toàn xuất phát từ lợi ích dân tộc”.

Theo ông, mục tiêu của Trung Quốc là “giữ thế cân bằng chiến lược ở châu Á”, và họ thực hiện chiến dịch quân sự của mình “với sự ủng hộ về tinh thần, về ngoại giao, và thông tin tình báo hợp tác từ Mỹ – chính cái “siêu cường đế quốc” mà Bắc Kinh giúp đuổi cổ khỏi Đông Dương 5 năm về trước”.

Điều Kissinger viết góp phần củng cố những gì nhà báo Ấn Độ Nayan Chanda (tạp chí Far Eastern Economic Review) bình luận năm ấy, rằng Mỹ đã là “quốc gia phương Tây duy nhất gần như ủng hộ cuộc xâm lược Việt Nam của Trung Quốc”.

Song Kissinger cũng tiết lộ một số chi tiết cho thấy thái độ của giới chức Mỹ không hoàn toàn ngả về Trung Quốc. Chẳng hạn, vào cuối tháng 2-1979, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Michael Blumenthal sang thăm Bắc Kinh, đã kêu gọi Trung Quốc rút quân khỏi Việt Nam càng sớm càng tốt, vì lẽ Bắc Kinh đang “làm liều”. Đặng Tiểu Bình phản đối. Trao đổi với báo giới trước cuộc gặp với Michael Blumenthal, Đặng tỏ ra xem thường thái độ nước đôi, và ông chế giễu “một số người nào đó” đang sợ chọc giận “Cuba của phương Đông” (ám chỉ Việt Nam).

Tinh thần dân tộc của người Việt Nam

Trong cuốn “On China”, Henry Kissinger luôn nhắc tới Việt Nam với một thái độ ngưỡng mộ dành cho tinh thần dân tộc, lòng yêu nước của người Việt. Dường như đối với ông, đó là đặc điểm nổi bật nhất trong tính cách dân tộc Việt Nam.

Ông nhận định, Trung Quốc đã giúp đỡ Việt Nam nhiều trong kháng chiến chống Mỹ, một phần vì ý thức hệ, một phần là để đẩy các căn cứ quân sự của Mỹ ra xa khỏi biên giới Trung Quốc, càng xa càng tốt. Tháng 4-1968, Chu Ân Lai nói với Thủ tướng Phạm Văn Đồng rằng Trung Quốc sẽ giúp Việt Nam để ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc bị bao vây chiến lược. “Phạm Văn Đồng đã đưa ra một câu trả lời mơ hồ – cái chính là bởi lẽ, ngăn chặn nguy cơ Trung Quốc bị bao vây chưa bao giờ là mục tiêu của Việt Nam, và các mục tiêu Việt Nam đặt ra thuần túy là những mục tiêu dân tộc chủ nghĩa” – Kissinger viết.

Ông tường thuật lại cuộc đối thoại đó như sau:

Chu Ân Lai: Đã lâu rồi, Mỹ nửa bao vây Trung Quốc. Bây giờ Liên Xô cũng đang bao vây Trung Quốc. Vòng vây đang khép kín lại, chỉ còn trừ phần tiếp giáp với Việt Nam.

Phạm Văn Đồng: Chúng tôi hoàn toàn quyết tâm đánh bại đế quốc Mỹ trên toàn lãnh thổ Việt Nam.

Chu Ân Lai: Đó là lý do tại sao chúng tôi ủng hộ các đồng chí.

Phạm Văn Đồng: Việc chúng tôi chiến thắng sẽ có ảnh hưởng tích cực đối với châu Á. Thắng lợi của chúng tôi sẽ mang đến những kết quả không thể dự tính trước.

Chu Ân Lai: Đồng chí nên nghĩ như vậy.

Trên thực tế, Trung Quốc đã gửi hơn 100.000 viên chức phi quân sự sang Việt Nam để giúp đỡ miền Bắc trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng và hậu cần. Điều thú vị là, như Kissinger nhận định, “Mỹ thì chống miền Bắc Việt Nam, coi đó như mũi giáo xung kích của một liên minh Xô-Trung. Trung Quốc thì giúp đỡ Hà Nội để làm cùn bớt lưỡi dao của Mỹ thọc vào châu Á. Cả hai đều nhầm. Hà Nội chỉ chiến đấu vì một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản, chiến thắng vào năm 1975, sẽ là mối đe dọa chiến lược to lớn đối với Trung Quốc còn hơn đối với Mỹ”.

Trở lại với cuộc chiến tranh biên giới tháng 2-1979. Với Henry Kissinger, đây lại là một dịp nữa để thế giới chứng kiến tình yêu nước của nhân dân Việt Nam. Và không chỉ có thế, người ta còn thấy trong bản sắc dân tộc Việt Nam hai xu hướng gần như đối chọi nhưng lại song song tồn tại, rất rõ ràng: Một mặt, hấp thụ văn hóa Trung Quốc; mặt khác, chống lại ảnh hưởng chính trị và quân sự của Trung Quốc.

Những phân tích hậu chiến

Kissinger trích dẫn cuộc đối thoại của ông với Đặng Tiểu Bình, một tháng sau khi Trung Quốc rút quân:

Đặng: Sau khi về nước (từ Mỹ), chúng tôi tiến hành chiến tranh ngay. Nhưng chúng tôi đã hỏi ý kiến Mỹ trước rồi. Tôi có nói chuyện với Tổng thống Carter và sau đấy ông ta trả lời rất hình thức và theo nghi thức. (…) Tôi bảo: Trung Quốc sẽ giải quyết vấn đề một cách độc lập và nếu có rủi ro gì thì Trung Quốc sẽ chịu một mình. Chúng tôi nghĩ nếu chúng tôi tiến sâu hơn vào đất Việt Nam trong chiến dịch trừng phạt, thì có khi còn tốt nữa.

Kissinger: Có thể.

Đặng: Là do quân lực của chúng tôi không đủ để đánh xuống tận Hà Nội thôi. Mà cũng không nên đi quá xa như thế.

Kissinger: Không nên, mọi chuyện có thể vượt ra ngoài khả năng tính toán.

Đặng: Phải, ông nói đúng. Nhưng chúng tôi đã đi sâu tới 30 km vào lãnh thổ Việt Nam. Chúng tôi chiếm được tất cả các điểm phòng thủ. Không còn một tuyến phòng thủ nào trên đường về Hà Nội.

Ngày 5-3-1979, Trung Quốc bắt đầu rút quân. Dù Hoa Quốc Phong và chính quyền Trung Quốc đều tuyên bố chiến thắng, nhưng theo Henry Kissinger, đó là một cuộc chiến gây tổn thất to lớn cho Trung Quốc. “Ảnh hưởng của việc chính trị hóa quân đội (Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc - PLA) trong suốt thời kỳ Cách mạng Văn hóa bộc lộ rõ ràng trong chiến dịch quân sự tấn công Việt Nam: trang thiết bị lạc hậu, hậu cần yếu kém, nhân lực thiếu, kỹ thuật kém linh hoạt. PLA tiến quân rất chậm và phải trả giá đắt. Theo thống kê của một số nhà phân tích, trong một tháng giao tranh với Việt Nam, số thiệt mạng của PLA ngang với số lính Mỹ bị giết trong những năm tháng khốc liệt nhất của chiến tranh Việt Nam”.

Song cái mà Trung Quốc đạt được, theo Henry Kissinger, đó là cơ hội để họ hợp tác chặt chẽ với Mỹ hơn bất kỳ lúc nào khác trong Chiến tranh Lạnh. Ông cho rằng nếu không có sự hỗ trợ từ phía Mỹ, Trung Quốc sẽ không thể “sờ hông con hổ” (ám chỉ Liên Xô).

http://phapluattp.vn/20120211104924657p0c1112/kissinger-ban-ve-trung-quoc-bai-cuoi-chien-tranh-bien-gioi-voi-viet-nam.htm

Wednesday, February 1, 2012

Kissinger bàn về Trung Quốc: Ý chí Mao Trạch Đông

On China của Henry Kissinger dành tới xấp xỉ chín chương trong tổng số 18 chương để viết về Mao Trạch Đông và những biến cố, sự kiện ở Trung Quốc thế kỷ 20 liên quan đến vị lãnh tụ của cách mạng Trung Quốc. Như thế đủ thấy đối với Kissinger, Mao Trạch Đông để lại một ấn tượng sâu sắc tới mức nào.

Ông mở đầu chương sách đầu tiên về Mao như sau: “Ở vị trí người đứng đầu của triều đại mới, triều đại mà vào năm 1949 đã tràn từ nông thôn ra tiếp quản thành phố, sừng sững một người khổng lồ: Mao Trạch Đông. Độc đoán, ảnh hưởng bao trùm, tàn nhẫn và xa cách, vừa là nhà thơ vừa là chiến sĩ, vừa là người đưa ra chủ trương vừa là nhà phê bình, ông thống nhất toàn Trung Quốc và đưa cả đất nước này vào một hành trình gần như hủy diệt xã hội dân sự”. Điều kỳ lạ là cho tới cuối hành trình, Trung Quốc đã trở thành một trong những siêu cường của thế giới. Vậy Mao Trạch Đông có vai trò “xây và phá” tới mức nào trong sự nghiệp của Trung Hoa thế kỷ 20? Với sự khôn ngoan và thận trọng cố hữu của một nhà ngoại giao, Kissinger không đưa ra câu trả lời trực tiếp, song người đọc có thể tự rút ra một nhận định của riêng mình.

Thần tượng Tần Thủy Hoàng

Kissinger bình luận: “Các nhà cách mạng, về bản chất, đều là những người có cá tính mạnh mẽ và luôn theo đuổi chỉ một mục đích. Gần như tất cả họ đều bắt đầu từ một vị trí yếu thế, đối lập với môi trường chính trị đương thời và đều thành công nhờ sức thu hút đối với quần chúng và vào khả năng huy động lòng thù hận, khả năng tận dụng sự sa sút về tâm lý của đối phương”. Theo những tiêu chí này thì Mao Trạch Đông là một nhà cách mạng đúng nghĩa.

Cựu ngoại trưởng Mỹ cũng đưa ra một nhận định có tính khái quát hóa khác: “Hầu hết các cuộc cách mạng đều được thực hiện nhân danh một sự nghiệp cụ thể. Một khi thành công thì cách mạng sẽ được thể chế hóa thành một trật tự mới, một hệ thống mới. Cuộc cách mạng của Mao không có điểm dừng chân cuối cùng; mục tiêu tối cao của nó mà Mao tuyên bố - “đại đồng” - là một ảo ảnh mơ hồ, giống như một sự tán dương tinh thần hơn là một cuộc tái thiết thật sự về chính trị. Các cán bộ của Đảng Cộng sản TQ giống như giới tăng lữ, chỉ có điều giới tăng lữ thì sứ mệnh của họ là thập tự chinh chứ không phải là hoàn thành một kế hoạch định sẵn”.

Kissinger ví cán bộ thời Mao với tăng lữ Âu châu thời Trung cổ là có lý do: Điểm chung lớn giữa họ là sự khắc khổ, nhu cầu vật chất được duy trì ở mức tối thiểu, như thể họ hành hạ thể xác để giữ gìn phần hồn.

Một cách thẳng thắn, Kissinger viết rằng tất cả những người thân cận của Mao trong cách mạng cuối cùng đều bị thanh trừng. chẳng phải ngẫu nhiên mà vị hoàng đế Trung Hoa được Mao Trạch Đông ngưỡng mộ nhất chính là Tần Thủy Hoàng. Có lần Mao nhận xét, để lãnh đạo Trung Quốc phải kết hợp được phương pháp của Mác và Tần Thủy Hoàng.

400 năm dồn nén trong 40 năm

Năm 2005, nhà văn nổi tiếng của nền văn học đương đại Trung Quốc - Dư Hoa - gây chấn động văn đàn với cuốn tiểu thuyết hai tập Huynh Đệ, tập I viết về cách mạng văn hóa ở Trung Quốc. Dư Hoa bảo đó là “một thời đại, tương đương thời trung cổ ở châu Âu”. Điều đặc biệt của cuốn tiểu thuyết là nó cô đọng lại một lịch sử dài dằng dặc: “Muốn trải qua hai thời đại một trời một vực như thế, một người phương Tây phải sống đến 400 năm, một người Trung Quốc thì chỉ cần 40 năm đã trải qua rồi. Những biến động của 400 năm được dồn nén trong 40 năm”.

Nếu tìm hiểu về Mao Trạch Đông qua cuốn On China của Henry Kissinger thì sẽ thấy lịch sử Trung Quốc thế kỷ 20 quả thật buộc phải khốc liệt như thế, với một người cầm lái như Mao. Không thể khác được.

Kissinger viết: “Nước Trung Hoa của Mao là một đất nước chìm trong khủng hoảng vĩnh viễn; ngay từ những ngày đầu cầm quyền, Mao đã tung ra hết đợt sóng đấu tranh này đến đợt sóng đấu tranh khác. Người Trung Hoa không được phép nghỉ ngơi trên các thành quả của mình. Số phận của họ do Mao thiết kế. Ý chí của Mao thể hiện ở sự quyết liệt đoạn tuyệt với quá khứ để thanh lọc bằng được xã hội”.

Kissinger tiến hành so sánh để cho thấy sự khác biệt đến đối lập giữa Mao Trạch Đông và Khổng Tử. Theo ông, Mao đã tấn công thẳng thừng vào tư tưởng chính trị truyền thống của Trung Quốc: Trong khi Khổng Phu Tử đề cao “đại đồng” tức là một sự hòa hợp trên tổng thể, thì Mao cổ súy sự dịch chuyển, cổ vũ xung đột giữa các mặt đối lập. Triết học Khổng Tử nhấn mạnh cân bằng, hòa hợp, trung dung, nếu tiến hành cải cách thì phải dần dần và hướng tới phục hồi lại các giá trị cũ. Còn Mao Trạch Đông luôn muốn thay đổi một cách quyết liệt, ngay lập tức, chấm dứt hoàn toàn với quá khứ.

Thế nhưng con mắt phân tích của Kissinger lại nhận thấy rằng cuối cùng đằng sau sự đối lập đó, đường lối lãnh đạo của Mao vẫn là của một con người chịu ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo: Vẫn thể chế ấy, cách dùng người ấy, hệ thống “có trên có dưới” ấy… Ông không viết ra nhưng độc giả có thể cảm nhận, Trung Hoa thời Mao Trạch Đông vẫn có màu sắc của một triều đại phong kiến.

Những cuộc gặp gỡ cuối cùng

Hai cuộc gặp cuối cùng giữa Kissinger và Mao diễn ra vào tháng 10 và 12-1975. Trong On China, Kissinger cũng hé lộ đôi chút về nội dung đối thoại trong các cuộc tiếp xúc này, càng cho thấy rõ hơn cá tính mạnh mẽ, quyết liệt của vị lãnh tụ tối cao của Trung Quốc.

Khi ấy Mao đã rất yếu, phải có hai y tá kèm bên mới có thể đứng dậy và cần một phiên dịch “viết” vì bản thân ông nói không còn rõ tiếng nữa.

Mao: Giờ tôi 82 rồi. (Chỉ tay vào Ngoại trưởng Kissinger). Ông bao nhiêu tuổi? Chắc 50?

Kissinger: 51.

Mao: (Chỉ tay vào Phó Thủ tướng Đặng Tiểu Bình) Anh này 71. (Xua tay) Và sau khi chúng tôi - tôi, anh này (Đặng), Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh - chết hết thì các ông vẫn sống đúng không? Thấy không? Chúng tôi già cả rồi chẳng làm được gì. (…) Ông biết đấy, tôi bây giờ là để triển lãm cho khách đến xem thôi.

Nói vậy nhưng Mao Trạch Đông vẫn mạnh mẽ và dữ dội như vậy, nhất là khi cuộc đối thoại kết thúc, ông đột ngột thách thức như để khẳng định tinh thần kiên định cách mạng:

Mao: Tôi muốn mọi người chửi vào mặt tôi (cao giọng, đập tay vào thành ghế). Ông phải nói, rằng Mao Chủ tịch là một ông lãnh đạo quan liêu thì tôi mới muốn gặp ông. Khi ấy tôi sẽ vội vàng gặp ông ngay. Nếu ông không chửi thì tôi chẳng gặp ông đâu, tôi đi ngủ cho yên.

Kissinger: Như vậy khó cho chúng tôi quá, nhất là lại gọi ông là lãnh đạo quan liêu.

Mao: Tôi khẳng định thế đấy (đập mạnh vào thành ghế). Tôi sẽ chỉ thích thú khi tất cả những người ngoại quốc đều đập bàn đập ghế và chửi tôi.

Mao chuyển sang giọng hăm dọa.

Mao: LHQ có thông qua một nghị quyết, do Mỹ tài trợ, nói rằng Trung Quốc tham gia xâm lược Triều Tiên.

Kissinger: Chuyện đó là từ 25 năm trước rồi.

Mao: Phải. Như thế tức là không liên quan trực tiếp đến ông. Đấy là vào thời Truman.
Kissinger: Vâng, đã lâu rồi và chúng tôi đã thay đổi quan niệm.

Mao: (Chạm tay vào trán) Nhưng nghị quyết vẫn chưa bị bãi bỏ. Tôi vẫn còn phải đội cái mũ “xâm lược”. Tôi vẫn coi đấy là vinh dự lớn nhất mà chẳng vinh dự nào to lớn hơn được. Tốt, tốt lắm.

Kissinger: Vậy chúng ta có cần thay đổi nghị quyết của LHQ không?
Mao: Thôi, không làm thế. Chúng tôi chưa bao giờ đề nghị như thế… Chúng tôi không có cách nào phủ nhận. Quả thật chúng tôi đã đưa quân vào Đài Loan và cả bán đảo Triều Tiên. Ông có thể giúp tôi ra một tuyên bố công khai (về việc này) không?
Kissinger: Tôi sẽ giúp ông công bố. Có thể tôi đã không nhận được bản tuyên bố nào chính xác cho đến nay.

Ngày 9-9-1976, Mao Trạch Đông qua đời - theo như Kissinger viết thì phải tới lúc đó vị chủ tịch mới đầu hàng bệnh tật. Ông để lại một nước Trung Hoa thống nhất, với nhiều di sản của quá khứ bị tàn phá tan hoang trong Cách mạng Văn hóa. Nhưng cho đến giờ vai trò của Mao Trạch Đông đối với Trung Quốc hiện đại vẫn là vấn đề để lịch sử phán xét, luận công định tội. Với Kissinger, vai trò ấy có phần giống như của Tần Thủy Hoàng: Con người vĩ đại sáng lập ra cả một triều đại, thống nhất đất nước, đồng thời cũng kéo dân tộc vào những hành trình khủng khiếp, nơi lịch sử 400 năm bị ép lại chỉ còn 40 năm…

Còn nhiều kỳ