Sunday, 15 June 2014

Ai mới đang gây căng thẳng trên Biển Đông?

Dưới đây là bài viết mới nhất của TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn nhằm phản bác tác giả Sam Bateman – vị chuyên gia, nghiên cứu viên cao cấp của RSIS, người đã liên tục nêu quan điểm cho rằng Việt Nam nên đồng ý “gác tranh chấp cùng khai thác” với Trung Quốc, cũng như nên chấp nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc, vì cơ sở bảo vệ chủ quyền của Việt Nam yếu hơn.

Mặc dù các lập luận của TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn (đăng trên Eurasia Review ngày 5/6/2014) đã phản bác đầy đủ Sam Bateman, song độc giả cũng cần lưu ý rằng các quan điểm của Sam Bateman đã được một cơ quan truyền thông quốc tế lớn là CNN trích dẫn lại trong một bài xã luận của họ về vụ giàn khoan 981, đăng ngày 19/5. Ngày 11/6, CNN tiếp tục đăng bài xã luận thứ hai sử dụng các ý kiến của Sam Bateman, trong đó, ông này khẳng định Việt Nam đuối lý hơn hẳn Trung Quốc trong tranh chấp quần đảo Hoàng Sa.

* * *

ĐỐI ĐẦU TRONG VỤ GIÀN KHOAN 981:
MỐI NGUY HIỂM CỦA VIỆC ĐÁNH ĐỒNG MỌI THỨ VÀO TRANH CHẤP CHỦ QUYỀN

  • Huy Duong - Tuan Pham

Mở rộng những tranh chấp trên Biển Đông – đẩy chúng vượt ra ngoài bất kỳ một vùng đặc quyền kinh tế nào mà những hòn đảo nhỏ xíu đang bị tranh chấp có thể có được – là hành động cản trở an ninh và hợp tác trong khu vực. Nhìn chung tất cả mâu thuẫn đều có thể được xử lý bằng cách áp dụng quy trình giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho các vấn đề liên quan đến phân định ranh giới trên biển và hợp tác trong các khu vực tranh chấp.

Trong bài đáp trả bài bình luận của chúng tôi, Tiến sĩ Bateman viết: “Những yêu sách chủ quyền gay gắt, thậm chí còn thể hiện rõ ràng hơn trong cách viết của hai tác giả, đang trở nên ngày càng phản tác dụng và chẳng đi tới đâu”. Lối đánh giá vội vàng như vậy không nên có chỗ trong thảo luận khoa học, trong khi những dữ kiện thực tế và những số liệu vững chắc sẽ có ích hơn nhiều cho việc tìm ra một giải pháp hòa bình để xử lý xung đột. Trong bài bình luận trước đó của chúng tôi, chẳng có chi tiết nào có thể bị coi là “yêu sách chủ quyền gay gắt”. Ngược lại, chính ông Batman mới là người khẳng định ngay từ đầu rằng “vấn đề ai có chủ quyền đối với Hoàng Sa là trọng tâm của tình hình hiện nay”, và ông đứng về phía Trung Quốc trong câu chuyện chủ quyền này, dựa trên những bằng chứng và lập luận rất đáng ngờ; ông còn đề nghị Việt Nam “chấp nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với Hoàng Sa”, trong khi đó, bài viết hồi đáp của chúng tôi đã hạn chế đến mức thấp nhất mức độ gay gắt của những yêu sách chủ quyền mâu thuẫn nhau.

Căn nguyên của vấn đề

Bài viết trước đó của chúng tôi đưa ra các dữ kiện thực tế, số liệu, và hồ sơ của Tòa án Công lý Quốc tế và Hiệp định Vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhằm chứng tỏ rằng vùng đặc quyền kinh tế mà quần đảo Hoàng Sa (đang bị tranh chấp) có được sẽ không thể mở rộng đến được vị trí của giàn khoan Haiyang 981. Qua đó, chúng tôi bác bỏ quan điểm của Bateman cho rằng vấn đề ai có chủ quyền đối với Hoàng Sa là trọng tâm của tình hình hiện nay, hay là “một đường biên giới hàng hải đã được đàm phán trong khu vực này thì chắc chắn sẽ xác định rằng giàn khoan dầu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc”. Trên thực tế, chúng tôi chỉ đặt tình hình hiện nay vào đúng thực trạng của nó: Không liên quan đến tranh chấp chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa.

Rõ ràng, chúng tôi không phủ nhận việc đang có tranh chấp chủ quyền trong khu vực. Tuy nhiên, tranh chấp chủ quyền đối với những hòn đảo quá nhỏ, những bãi (reef) và đá (rock) thì không thể gây ra căng thẳng nghiêm trọng như chúng ta đã và đang chứng kiến trên Biển Đông. Hãy lưu ý, hoàn toàn không có căng thẳng nghiêm trọng nào giữa Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei, dù các quốc gia này đều có tranh chấp chủ quyền với nhau.

Về Biển Đông và về nguồn gốc của những căng thẳng mà chúng ta đang thấy, vấn đề là có một nước rất gay gắt trong những yêu sách chủ quyền của họ, đến mức họ không chịu công nhận Hoàng Sa là quần đảo đang tranh chấp; một nước ra yêu sách đòi sở hữu gần hết Biển Đông và thềm lục địa, chẳng đếm xỉa gì đến cả UNCLOS lẫn các dàn xếp pháp lý hay những thỏa thuận đã được đàm phán trước đây trong phân định ranh giới trên biển; một nước không ngại đơn phương khẳng định các yêu sách đó, và đã tuyên bố rằng họ không công nhận thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho một số lĩnh vực tranh chấp, đặc biệt là những tranh chấp liên quan đến việc diễn giải và áp dụng các điều khoản của UNCLOS để phân định ranh giới trên biển. Nước đó chính là Trung Quốc.

Chúng tôi đánh giá cao và ủng hộ mong muốn của Bateman là sẽ có sự hợp tác nhiều hơn trên Biển Đông; nhưng dụng ý của Bateman nhằm biện hộ cho việc Trung Quốc đơn phương triển khai một giàn khoan nước sâu khổng lồ trong khu vực chồng lấn về vùng đặc quyền kinh tế, hoàn toàn không đếm xỉa gì đến Điều 74 của UNCLOS, thì chính xác là đang đi ngược lại mong muốn đó. Ngoài ra, chúng tôi phản đối quan điểm của ông ta cho rằng “Các nước có chung đường biên đều tránh hợp tác, vì sợ là nếu hợp tác thì, cách này cách khác, họ có thể sẽ phải nhân nhượng về yêu sách chủ quyền của mình”. Theo chúng tôi, trở ngại lớn nhất cho những hợp tác như vậy, là việc Trung Quốc từ chối, không chịu công nhận rằng đang có tranh chấp chủ quyền xoay quanh quần đảo Hoàng Sa và xoay quanh yêu sách chủ quyền mập mờ của họ đối với vùng biển và thềm lục địa tạo thành đường chữ U – một phần dựa vào cái lập trường rất bất công là phân bổ vùng đặc quyền kinh tế cho các hòn đảo nhỏ xíu, đang bị tranh chấp, và một phần dựa vào việc lạm dụng  khái niệm “các quyền (có từ trong) lịch sử”. Cần phải nhấn mạnh rằng, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Malaysia đã có những chương trình hợp tác trong các khu vực có yêu sách chủ quyền chồng lấn, chưa giải quyết được, và họ có thể làm được việc này vì họ đều không có những yêu sách chủ quyền biển đảo gây phẫn nộ như Trung Quốc.

Tàu Trung Quốc bắn vòi rồng vào tàu Việt Nam, ngày 28/5. Ảnh: CNN

Con đường phía trước

Mặc dù các tranh chấp biển đảo trên Biển Đông rất phức tạp, nhưng chúng không phải là nằm ngoài khả năng của các tòa án quốc tế hay là các cuộc đàm phán có thiện ý nhằm giải quyết mâu thuẫn. Trên thế giới từ trước đến nay, những tòa trọng tài và những cuộc thương thuyết về biên giới trên biển đã cung cấp cho tòa án và các nhà đàm phán có thiện ý rất nhiều tiền lệ để họ đi tới. Giá như Trung Quốc không tuyên bố rằng họ bác bỏ mọi thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS, thì các tòa án quốc tế hẳn đã có thể tách phần lớn những tranh chấp biên giới biển trên Biển Đông khỏi tranh chấp chủ quyền các hòn đảo, và tháo gỡ chúng, để chỉ còn lại một số vùng tranh chấp. Đấy sẽ là một điểm khởi đầu tốt cho sự hợp tác cả trong khu vực tranh chấp lẫn khu vực không tranh chấp.

Một tác hại nữa của việc Trung Quốc bác bỏ thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS, là họ khiến cho tòa án mất thẩm quyền áp dụng quy định của Điều 74 về thiện chí và hợp tác vào những vùng biển có yêu sách chồng lấn về vùng đặc quyền kinh tế, vẫn còn treo đó chưa giải quyết được – mà đó là điều mà tình hình trên Biển Đông hiện nay đang cần một cách tuyệt vọng.

Bateman viết: “Hai tác giả kết luận bài viết phê bình của họ dành cho tôi bằng tuyên bố rằng tôi “có thể có đóng góp tích cực hơn cho hòa bình và hợp tác bằng cách khuyến khích Trung Quốc chịu khó tuân theo các thủ tục giải quyết tranh chấp đã được cụ thể hóa trong UNCLOS”. Tôi cũng có thể nói như thế về Việt Nam chứ?”. Có thể ông Bateman sẽ ngạc nhiên khi biết rằng Việt Nam đã chấp nhận thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS khi họ phê chuẩn Công ước này vào năm 1994 mà không bảo lưu điều khoản nào, không như Trung Quốc công khai bác bỏ triệt để phần thủ tục nói trên vào năm 2006.

UNCLOS là nền tảng cho sự hợp tác và trật tự trên các biển và đại dương của thế giới, nhưng chắc chắn nó có những khía cạnh cần làm rõ. Thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS đảm bảo rằng việc diễn giải và áp dụng UNCLOS là công bằng và tuân theo những chuẩn mực khách quan; do đó, nó là điều quan trọng sống còn để Công ước có thể vận hành trên thực tế. Không có thủ tục này, những nước thành viên của UNCLOS có thể dễ dàng biến cái nền tảng UNCLOS thành trò hề.

Vì lý do đó, chúng tôi đề nghị Tiến sĩ Bateman và các học giả quốc tế có quan tâm đến công bằng, hợp tác và trật tự trên các biển và đại dương của thế giới, hãy cùng chúng tôi kêu gọi Trung Quốc hạn chế bớt các yêu sách chủ quyền biển đảo của họ, để các yêu sách đó phù hợp hơn với những dàn xếp pháp lý và những thỏa thuận đã được đàm phán trước đây trên thế giới (đề nghị này không nhất thiết đòi hỏi một sự phân định ranh giới cuối cùng), và chấp nhận thủ tục giải quyết tranh chấp của UNCLOS cho vấn đề Biển Đông.


Thursday, 12 June 2014

Cuộc chiến không cân sức giữa học giả Việt Nam và Trung Quốc

Bài viết dưới đây của tôi, “Cuộc chiến không cân sức giữa học giả Việt Nam và Trung Quốc”, được đăng tải trên Tuần Việt Nam vào ngày 16/3/2009, một ngày trước hội thảo quốc gia đầu tiên về tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông.

Hơn 5 năm đã trôi qua. “Cuộc chiến” vẫn không cân sức. Sự xuất hiện những gương mặt mới, những nghiên cứu mới bên phía Việt Nam, vẫn hoàn toàn là các nỗ lực cá nhân của những người Việt còn quan tâm đến chủ quyền đất nước. 5 năm qua, giới truyền thông vừa viết bài vừa nghe ngóng, đoán ý lãnh đạo, thấy “bật đèn xanh” thì dấn tới, thấy “không ổn” thì im bặt. Dư luận viên vẫn canh từng diễn đàn, từng trang FB, blog chính trị, hối hả lao vào định hướng mỗi khi thấy có ý kiến nào có vẻ bất lợi cho chính quyền. Thỉnh thoảng, lại thấy một đồng chí cán bộ cao cấp nào đấy, kiểu như Đại tá-PGS-TS-NGƯT Trần Đăng Thanh, được mời đi “nói chuyện chính trị” tại những “Đảng ủy khối, lãnh đạo Đảng, Tuyên giáo, Công tác chính trị, Quản lý sinh viên, Đoàn, Hội thanh niên các trường Đại học-Cao đẳng Hà Nội” về Biển Đông và quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, huấn thị rằng “ta” thế này, “bạn” thế kia…

Để rồi tới hôm nay thì báo chí được bật đèn xanh, phỏng vấn, viết bài, đưa tin rõ náo nhiệt, được tố cáo Trung Quốc “lập luận vô lý”, “bất nhất”, “lấy thịt đè người”, “vu cáo” cái lọ cái chai… Thể nào cũng có đồng chí cán bộ nào đó đã và đang chém tay vào không khí mà nói rằng “ta làm truyền thông chưa đủ mạnh cho thế giới biết chính nghĩa của ta”, rồi thì “cần đề nghị đẩy mạnh truyền thông bằng tiếng Anh ra cộng đồng quốc tế”, v.v.

Đúng là đi theo đường lối của Đảng thì đến con rắn cũng phải gãy xương sống.

Trong khi đó, bao nhiêu năm qua, có nhiều học giả, nhà khoa học, ở trong và ngoài nước, có hoặc không có chuyên môn liên quan, vẫn thầm lặng nghiên cứu về Biển Đông, vượt qua những khó khăn, cực nhọc về điều kiện vật chất và tinh thần, vượt qua sự dò xét, nghi ngờ của các đồng chí an ninh rỗi việc, vượt qua cả muôn vàn ức chế đời thường. Tất cả đều đã lao vào nghiên cứu, lặng lẽ và âm thầm, chỉ với mục đích “vì chủ quyền của Việt Nam”, “vì công lý và hòa bình trên Biển Đông”… Không được một xu trợ cấp của Nhà nước (tất nhiên rồi), không được hỏi một lời, không được đếm xỉa đến trong mọi sự kiện ngoại giao, mọi quyết định ngoại giao; không những thế còn thường xuyên bị an ninh hạch sách, quấy rối.

Hỏi ai mới đã và đang liên tục lợi dụng lòng yêu nước của họ, của người dân Việt Nam?

* * *

CUỘC CHIẾN KHÔNG CÂN SỨC GIỮA HỌC GIẢ VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC

Trong đàm phán lãnh hải với Trung Quốc, nếu coi việc nghiên cứu và đưa ra các bằng chứng để xác lập chủ quyền là một mặt trận, thì đã và đang có một cuộc chiến không cân sức giữa giới nghiên cứu của hai nước, với phần thua thiệt thuộc về các học giả Việt Nam. Sự thua thiệt thể hiện rõ trên các mặt: số lượng học giả, số lượng và diện phổ biến của công trình nghiên cứu, sự hỗ trợ từ phía Nhà nước, sự tham gia của tư nhân…

Để cất lên tiếng nói khẳng định chủ quyền

Ngày nay, tất cả các học giả về quan hệ quốc tế đều khẳng định rằng: Thời hiện đại, để chiến thắng trong những cuộc đấu tranh phức tạp như tranh chấp chủ quyền, điều kiện cốt yếu là sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, chứ không đơn thuần là ưu thế về quân sự. Việc quốc tế hóa vấn đề lãnh thổ, lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa, do đó, là điều Việt Nam không thể không làm. Việc này mở đầu bằng quá trình đưa các quan điểm của phía Việt Nam ra trường quốc tế.

Có ba kênh chính để đưa quan điểm của Việt Nam ra quốc tế.

Thứ nhất là thông qua các tuyên bố ngoại giao, như chúng ta vẫn thường thấy phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao trả lời báo giới: "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa".

Thứ hai là thông qua các tạp chí khoa học quốc tế, các diễn đàn thế giới. Sự xuất hiện những bài viết khoa học, công trình nghiên cứu của phía Việt Nam trên các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới về lịch sử, địa lý, hàng hải, công pháp quốc tế… sẽ cực kỳ có sức nặng trong việc tranh biện.

Thứ ba là thông qua các nỗ lực ngoại giao và truyền thông như ra sách trắng, tổ chức hội thảo quốc tế, giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài, v.v…

Trung Quốc "chiếm sóng"

Trên kênh thứ hai, có thể thấy phía Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc. Dù không nhiều, nhưng đã có những bài viết khoa học của học giả Trung Quốc về vấn đề lãnh hải đăng trên các tạp chí uy tín của thế giới và khu vực như: Marine Policy, Marine Custom Management, Marine and Coastal Law Journal (các tạp chí về hàng hải và luật biển), American Journal for International Law (tạp chí nghiên cứu luật pháp, của Mỹ), Southeast Asia Studies (tạp chí nghiên cứu Đông Nam Á, của Singapore).

Đây là các tạp chí khoa học đầu ngành của thế giới, nghĩa là uy tín của chúng được thừa nhận trên phạm vi quốc tế. Một bài viết được đăng trên những tạp chí loại này mang lại danh tiếng cho sự nghiệp cá nhân của nhà khoa học - tại một số nước, bậc lương và số lần tăng lương của giáo sư tỷ lệ thuận với số bài viết khoa học được đăng ở tạp chí đầu ngành.

Quan trọng hơn nữa, nó gây ảnh hưởng rất lớn đến cộng đồng. Trong ngắn hạn và trung hạn, nó là tiếng nói có sức nặng với giới khoa học quốc tế. Trong dài hạn, nó là nguồn tài liệu tham khảo có tác động đáng sợ. Một nhà khoa học trẻ Việt Nam từng đặt vấn đề: "Giả sử 10-20 năm nữa, có nhà nghiên cứu phương Tây muốn tìm hiểu về tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam và Trung Quốc đối với Hoàng Sa - Trường Sa: Cái mà ông ta tìm thấy sẽ là hàng chục bài viết của học giả Trung Quốc trên các tạp chí quốc tế nhằm chứng minh Hoàng Sa - Trường Sa là của họ. Lúc đó, ông ta có muốn khách quan khoa học cũng khó. Tích tiểu thành đại, hàng loạt bài viết như vậy sẽ làm cán cân sức mạnh nghiêng thêm về phía Trung Quốc, gây ảnh hưởng rất bất lợi cho Việt Nam".

Về phía các học giả Việt Nam ở trong nước, cũng đã có những bài viết khoa học liên quan tới vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa. Tuy nhiên, các bài này chỉ được đăng tải bằng tiếng Việt trên các tạp chí chuyên ngành của Việt Nam (Tạp chí Hán Nôm, Nghiên cứu Lịch sử, Lịch sử Quân sự, Nghiên cứu Phát triển - tạp chí của Thừa Thiên - Huế) . Số lượng bản in hạn chế - chừng 1.000 bản, phát hành trên diện rất hẹp, tới mức gần như “lưu hành nội bộ”.

Trung Quốc đã đưa bài viết tố cáo "Việt Nam khiêu khích" 
lên báo Philippines (Philippines Star, 12/6/2014) 

Việt Nam yếu thế

Trung Quốc cũng đã có khoảng 60 cuốn sách về Hoàng Sa - Trường Sa, bằng tiếng Trung và tiếng Anh, như Trung Quốc dữ Trung Quốc Nam Hải vấn đề (Trung Quốc và vấn đề biển Nam Trung Quốc, Phó Côn Thành - Thủy Bỉnh Hòa, 2007), Nam Hải chư đảo địa danh luận cảo (Lưu Nam Uy, 1996), Nam Hải chư đảo địa lý - lịch sử - chủ quyền (Lữ Nhất Nhiên chủ biên, 1992)... Chưa kể, còn hàng chục công trình của các nhà nghiên cứu gốc Trung Quốc ở Đài Loan, Hong Kong, Singapore, Anh, Mỹ.

Việt Nam có vài đầu sách, như Cuộc tranh chấp Việt - Trung về hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa (Lưu Văn Lợi, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, 1995), Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020 (Nguyễn Hồng Thao chủ biên, Nhà xuất bản Sự thật, 11/2008)… Nhưng số lượng chỉ đếm trên đầu ngón tay, các sách đều bằng tiếng Việt, phát hành rất ít. Đa số là "tài liệu tham khảo nội bộ" hoặc cũng gần như "lưu hành nội bộ" bởi không được quảng bá và phát hành rộng.

Gần đây, Nhà xuất bản Tri thức bắt đầu tham gia giới thiệu rộng rãi tới công chúng các cuốn sách nghiên cứu về chủ quyền biển, với mục tiêu giới thiệu được khoảng 5 đầu sách/năm. Tuy nhiên, theo ông Chu Hảo, Giám đốc Nhà xuất bản, khó khăn lớn nhất là nguồn kết quả nghiên cứu của giới học giả Việt Nam còn hạn chế.

Hiện tại, Việt Nam chỉ có ba cơ quan nhà nước từng đặt vấn đề nghiên cứu chính thức về lãnh hải và luật biển, là Vụ Biển thuộc Ủy ban Biên giới Quốc gia, Trung tâm Luật Biển và Hàng hải Quốc tế, Tổng cục Quản lý Biển và Hải đảo. Đếm số lượng các nhà nghiên cứu chuyên sâu vào vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa, tính cả người đã mất, thì “vét” trong cả nước được gần một chục người.

Còn Trung Quốc đã có hàng chục cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về tranh chấp lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa từ hơn nửa thế kỷ qua. Ít nhất, có thể kể tới trung tâm nghiên cứu trực thuộc các trường đại học Bắc Kinh, Hạ Môn, Phúc Kiến, Trung Sơn, hoặc trực thuộc Ủy ban Nghiên cứu Biên cương, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á, v.v…

Với kênh thứ ba - thông qua việc tổ chức hội thảo quốc tế, đưa các học giả đi giảng bài tại các trường đại học ở nước ngoài v.v. - thì sự tham gia của giới khoa học gia Việt Nam càng yếu ớt hơn.

Cộng đồng các nhà khoa học người Việt tại nước ngoài đã có nhiều nỗ lực nghiên cứu để đưa ra các bằng chứng giúp Việt Nam tranh biện trong vấn đề lãnh hải. Chẳng hạn, Tiến sĩ Từ Đặng Minh Thu (Đại học Luật Sorbonne), luật gia Đào Văn Thụy từng đọc bài tham luận tại Hội thảo hè "Vấn đề tranh chấp Biển Đông" (New York, 1998), phân tích lập luận của Việt Nam và Trung Quốc với nhiều lý lẽ khoa học xác đáng. Tuy nhiên, không rõ vì lý do gì mà các công trình như vậy lại chưa được phổ biến chính thức tại Việt Nam.

Danh mục một số sách của các học giả TQ và thế giới về tranh chấp chủ quyền và quan hệ VN-TQ.

Vì đâu giới nghiên cứu Việt Nam yếu thế?

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện (Viện Nghiên cứu Hán Nôm) nhận xét: "So tương quan lực lượng với Trung Quốc trong chuyện nghiên cứu về lãnh hải, thì các công trình của học giả Việt Nam vừa ít ỏi, manh mún về số lượng, lại vừa không được sự quan tâm, hỗ trợ của xã hội".

Ai cũng biết rằng điều kiện cần để có bài viết khoa học là một quá trình nghiên cứu tập trung cao và kéo dài. Nghiên cứu về vấn đề lãnh hải và Hoàng Sa - Trường Sa lại càng khó khăn hơn, nó đòi hỏi rất nhiều công sức, thời gian, kinh phí. Người nghiên cứu phải có khả năng tiếp cận với các tài liệu cổ bằng nhiều thứ tiếng khó (Hán, Nôm, Pháp, Anh, thậm chí tiếng Latin), phải bỏ chi phí mua tài liệu, đi thực địa, trao đổi tìm kiếm thông tin, v.v... Đổi lại, mỗi bài viết trên các tạp chí của Việt Nam được nhận vài trăm nghìn đồng nhuận bút.

Còn việc đưa bài viết ra tạp chí quốc tế thì gần như không tưởng, bởi thật khó để các nhà khoa học dồn sự nghiệp cho cả một công trình nghiên cứu để rồi không biết… đi về đâu, có được đăng tải hay không. Thiếu kinh phí, khó khăn trong việc tiếp cận các tài liệu "nhạy cảm" là những vật cản lớn. Chỉ riêng việc dịch bài viết sang một thứ tiếng quốc tế, như tiếng Anh hay tiếng Trung, cũng đã là vấn đề.

Một nhà nghiên cứu độc lập, ông Phạm Hoàng Quân, cho biết: "Ở Trung Quốc, việc tuyên truyền về Hoàng Sa - Trường Sa và lãnh hải được phân chia thành ba cấp. Cấp thấp nhất là cấp phổ thông, cho quần chúng. Cấp hai và cấp ba là cho các độc giả có trình độ cao hơn và các nhà nghiên cứu chuyên sâu. Như ở Việt Nam thì chẳng cấp nào phát triển cả".

Không có văn bản quy định chính thức, nhưng tài liệu liên quan tới lãnh hải, biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc mặc nhiên được coi là "nhạy cảm", "mật", và một cá nhân khó mà có đủ tư cách để "xin" được nghiên cứu về Hoàng Sa - Trường Sa hay chủ quyền đất nước. Ông Quân, với tư cách nhà nghiên cứu độc lập, gặp khó khăn tương đối trong việc tiếp cận các tài liệu khoa học phục vụ cho công việc. Dĩ nhiên là chẳng bao giờ ông được mời tham dự những hội thảo chuyên đề về lĩnh vực mình nghiên cứu - thường chỉ dành cho những nhà khoa học đã có biên chế chính thức ở một cơ quan nhà nước nào đó.

Với một cá nhân là như vậy. Với các viện nghiên cứu trực thuộc Nhà nước, tình hình cũng không khả quan hơn. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện nhận xét: "Về nguyên tắc, phải là cấp trên đặt hàng, cấp dưới đề đạt lên. Nếu Nhà nước không đặt hàng, các cơ quan chuyên môn có khả năng làm cũng e dè không muốn đề xuất. Các cá nhân nghiên cứu độc lập thì không thể có điều kiện thuận lợi về sưu tập tư liệu, điền dã thực địa, công bố kết quả của đề tài".

Không tiếp cận được với các công trình nghiên cứu chuyên sâu đã đành, người dân còn không được giới truyền thông cung cấp thông tin và kiến thức về chủ quyền đất nước. Trong khi, trên thực tế, "Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa" - như khẳng định của Bộ Ngoại giao. (Các tuyên bố ngoại giao theo thông lệ này lại không kéo theo việc công bố một bằng chứng cụ thể nào, khiến cho người nghe ngay cả khi muốn tham gia vào một nỗ lực chung để xác lập chủ quyền cho Hoàng Sa - Trường Sa cũng bớt phần tự tin).

Nhà nghiên cứu Phạm Hoàng Quân 
trong một lần làm "ông đồ cho chữ" ngày Tết.

Chúng ta có thể làm gì?

Về bản chất, nghiên cứu khoa học là các nỗ lực cá nhân, tuy nhiên, với những vấn đề thuộc diện "công ích" như tranh chấp chủ quyền, thì Nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng.

Nhà nước phải đặt hàng giới nghiên cứu, tạo thành một chiến lược lâu dài và bài bản, đồng thời để cho giới truyền thông diễn giải và phổ biến những công trình nghiên cứu chuyên sâu tới quần chúng sao cho tất cả mọi người đều có ý thức về chủ quyền đất nước. Một số học giả người Việt Nam ở nước ngoài gợi ý rằng, cách tốt nhất là Nhà nước "xã hội hóa" công việc nghiên cứu khoa học, bằng cách tạo điều kiện để xã hội dân sự (tư nhân, các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội, quỹ...) tài trợ cho các dự án khoa học, tạo điều kiện, thậm chí "luật hóa", để người nghiên cứu được tiếp xúc với thông tin khi cần.

Một điểm cần lưu ý là hoạt động nghiên cứu phải mang tính liên ngành, toàn diện, trên mọi lĩnh vực: văn bản học, khảo cổ, địa chất lịch sử, thổ nhưỡng, công pháp quốc tế...Theo quy luật số lớn, số lượng nghiên cứu càng nhiều thì khả năng có những công trình chất lượng càng cao.

Sau hết, không thể thiếu nỗ lực công bố các công trình nghiên cứu đó ra diễn đàn quốc tế, nỗ lực diễn giải và phổ cập chúng tới người dân trong nước, cũng như, thông qua chính sách "ngoại giao nhân dân", tới được dư luận quốc tế và cộng đồng Việt Nam tại nước ngoài.

Monday, 9 June 2014

The Paracels: Forty Years On

VIETNAMESE/ BẢN TIẾNG VIỆT

By Nguyen Thi Lan Anh

Synopsis

China’s act of locating its oil rig in contested waters in the Paracels is more than a dispute over sovereignty. It is also a dispute about international law of the sea.

Commentary

IT HAS been a month since the South China Sea was again stirred up near the Paracel Islands. Forty years ago, in January 1974, the Paracels were a battlefield between China and the then South Vietnam.

In taking control of the islands from South Vietnam, China sank one South Vietnamese naval ship and damaged four others, leaving 53 Vietnamese killed and 16 injured. The battle resulted in China obtaining full control of the Paracels for the first time.

More than a dispute over sovereignty

Vietnam’s sovereignty claim over the Paracel Islands is based on the Nguyen dynasty occupation of the Paracels and Spratlys from at least the 17th century when the islands belonged to no one. During the period of Western colonial expansion sovereignty over the Paracels was continuously exercised by France, the protector of Vietnam.

Sovereignty later passed from France to South Vietnam under the 1954 Geneva Accords, and it then passed by succession to the Socialist Republic of Vietnam when North and South Vietnam were united in 1975. Vietnam has continued to assert its sovereignty claim by protesting activities conducted by China in the Paracels.

Although Vietnam’s sovereignty claim to the Paracels has a strong legal basis, China insists that it has “indisputable” sovereignty. China refuses to acknowledge that sovereignty over the islands is in dispute and it refuses to discuss the sovereignty issue with Vietnam in bilateral negotiations. Also, China will not agree to refer the sovereignty dispute to an international court or tribunal.

The act which made the Paracel Islands the latest hotspot in the South China Sea was China’s placement of the Haiyang Shiyou 981 oil rig deep inside Vietnam’s exclusive economic zone (EEZ) and continental shelf, close to the islands.

At first, the oil rig controversy may look like a dispute over who has sovereignty over the Paracels. However, a closer look reveals that it is also a dispute about the international law of the sea.  

Geographical distance not the issue

Triton Island in the Paracels, where China located the deep-water oil rig HD-981, is a 1.6 km2 sand and coral cay that cannot sustain human habitation or economic life of its own. Consequently, under the 1982 Convention on the Law of the Sea (UNCLOS), it is a “rock” that can generate no more than a 12 nautical mile territorial sea. Even if some other islands in the Paracels are in principle entitled to an EEZ and continental shelf, the rig would still be located in an “area in dispute” for two reasons.

First, since both Vietnam and China claim sovereignty over the Paracels, any EEZ claimed from the Paracels is an area in dispute. Second, the rig is in an area of overlapping claims because it is within the EEZ and continental shelf claimed by Vietnam from its mainland as well as within the EEZ claimed by China from the Paracels.

The area where the rig has been placed is an area in dispute until China and Vietnam agree on how to delimit the maritime boundary in that area. According to the practice of States in maritime boundary delimitations, Triton Island and the other islands of the Paracels should be given “reduced effect” in drawing the maritime boundary because the length of coastline of the small islands is much shorter than the coastline of Vietnam.

China and Vietnam have followed this practice in negotiating their maritime boundary. In delimiting their limited maritime boundary in the northern-most section of the Gulf of Tonkin, the two States agreed to give only 25% effect to Bach Long Vi Island, a Vietnamese island located in the Gulf of Tonkin. This was the case even though the island has an area of 2.33 km2 and a permanent population.  

In any case, since there is no agreed maritime boundary in this area, the argument that the rig is located closer to the Paracels than to the Vietnamese coast is not relevant. The rig is located in a “disputed area”, where China cannot exercise exclusive rights

China’s oil rig move violates DOC

The true basis for China’s claim to the natural resources in Vietnam’s EEZ is not an EEZ claim from the Paracels, but its claim to rights and jurisdiction over all the natural resources with the nine-dash line that Beijing has demarcated on its map of the South China Sea. Without providing any official documents supporting this claim or its legal basis under international law, the nine-dash line map is being used by China to claim rights to all the natural resources in and under the waters inside the line, even when they are in the EEZ of other States.

It is very significant that the rig has been place in an area of disputed waters. Under the law of the sea, until an agreement has been reached between China and Vietnam on the maritime boundary in this area, the two States are under a legal obligation to make every effort to enter into provisional arrangements of a practical nature. The international law of the sea also imposes an obligation on China and Vietnam not to undertake any unilateral activities that would jeopardise or hamper the negotiation of a final boundary agreement.

China is basing its claim on the nine-dash line map because the areas with high oil and gas potential off the coast of Vietnam are all located outside the areas that China could claim under the international law of the sea. Therefore, China has decided to ignore the international law of the sea, and assert claims based upon its nine-dash line map, which includes up to 85% of the South China Sea.

International tribunals have ruled that in an area of overlapping maritime claims, it is unlawful for one State to attempt to exploit the natural resources by drilling because such a unilateral activity would permanently change the status quo and thus jeopardise or hamper the negotiation of a final boundary agreement.

In its discussions with ASEAN on a legally binding Code of Conduct for the South China Sea, China has consistently maintained that there must be full and effective implementation of the 1992 Declaration on Conduct of Parties in the South China Sea (DOC). However, China’s act of unilateral drilling is a clear violation of the provision in the DOC which provides that the Parties undertake to exercise self-restraint in the conduct of activities that would complicate or escalate disputes.

It is hoped that China will soon understand that bullying neighbouring countries in violation of international law is not the way a responsible power behaves in the international arena.

Nguyen Thi Lan Anh is the Vice Dean at the International Faculty of the Diplomatic Academy of Vietnam. 


Sunday, 8 June 2014

Sam Bateman bút chiến với học giả Việt Nam về Hoàng Sa

Vào ngày 15/5/2014, Sam Bateman, nghiên cứu viên cấp cao của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS, thuộc Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore), đã có bài phân tích đăng trên Eurasia Review, nhan đề “Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam”.

Đại ý Sam Bateman cho rằng: Do Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 thừa nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc và từ đó đến năm 1975, Việt Nam cũng không phản đối gì; cho nên nếu bây giờ Việt Nam đòi chủ quyền đối với Hoàng Sa thì sẽ yếu thế. Do quần đảo Hoàng Sa không phải của Việt Nam, cho nên giàn khoan Haiyang 981 đặt gần đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa thì cũng không vi phạm chủ quyền của Việt Nam. Ngoài ra, Sam Bateman cho rằng các nước ASEAN tham gia tranh chấp không nên “thiển cận”, mà nên nhìn xa hơn để chấp nhận hợp tác với Trung Quốc, ví dụ Việt Nam nên đồng ý khai thác chung nguồn lợi hải sản trong khu vực biển tranh chấp.

Ngày 26/5, hai học giả Việt Nam là TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn đã có bài viết phản bác tác giả Sam Bateman. Hai ông chỉ ra rằng Bateman quá thiên vị Trung Quốc, đồng thời, ở vị trí hiện tại, giàn khoan phải bị coi là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (tính từ bờ biển đất liền Việt Nam), chứ không phải của Hoàng Sa, bất luận Hoàng Sa thuộc về Việt Nam hay Trung Quốc.

Ngay sau đó, Sam Bateman viết bài đáp trả (bản dịch dưới đây). Bạn đọc có thể thấy trong bài này, tác giả Sam Bateman vẫn tiếp tục lập luận theo hướng bênh vực Trung Quốc và quan điểm gác tranh chấp cùng khai thác” của Bắc Kinh, với lý do (rất không thuyết phục) rằng như thế có lợi chung


* * *

AI CÓ CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HOÀNG SA? XIN ĐÁP LỜI

  • Sam Bateman

Tóm tắt

Thay vì sa vào một cuộc tranh luận vô bổ về các vấn đề chi tiết, bài viết này nhằm đáp lại một bài phê bình, và sẽ nhìn sâu vào tác động nguy hiểm của các lập luận liên quan đến chủ quyền và vấn đề quản lý Biển Đông cũng như các nguồn lực của nó.

Bình luận

Trong bài báo viết chung, đăng trên RSIS, số 099/2014, mang tựa đề “Chủ quyền đối với Hoàng Sa: Về một bài báo thiên vị Trung Quốc”, TS. Huy Duong và TS. Tuan Pham (tức TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn – ND) đã phê phán quan điểm của tôi trong bài “Về những căng thẳng mới đây trên biển Hoa Đông: Ai có chủ quyền đối với Hoàng Sa” (RSIS, số 088/2014).

Bài phản biện của họ chỉ càng làm nổi bật hơn hai vấn đề căn bản trong cuộc tranh luận về Biển Đông. Thứ nhất, những tranh chấp và tác động của chúng đến các biên giới trên biển là chuyện rất phức tạp và hầu như không có khả năng được giải quyết trong tương lai gần. Yếu tố này đã trở thành vật cản chính trong việc quản lý Biển Đông một cách hiệu quả.

Thứ hai, các yêu sách chủ quyền gay gắt đều không ích lợi gì và chẳng làm sao tạo ra được những cơ chế cần thiết cho việc quản lý Biển Đông và nguồn lực của nó. Trong khi đó thì nguồn cá đang bị khai thác quá mức, môi trường biển bị phá hoại, thiếu vắng trật tự an ninh trên biển, và không có đủ tri thức khoa học phù hợp để phát triển nguồn lực biển.

Chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa

Giàn khoan dầu của Trung Quốc có nằm trong vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Việt Nam hay không, điều đó chủ yếu phụ thuộc vào việc nước nào có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa. Hai tác giả đã phê phán bình luận của tôi về lập luận rất yếu của phía Việt Nam. Khi làm như vậy, họ quên mất một sự thật rằng đảo Phú Lâm (Woody Island, thuộc Hoàng Sa – ND) đã bị chiếm đóng liên tục bởi Trung Quốc kể từ ngay sau Thế Chiến II; có thể họ sẽ viết dòng này bởi vì như thế là “nhầm lẫn giữa chiếm đóng và có chủ quyền” – nhưng hơn 60 năm đã qua, không có phản đối nào hiệu quả trong phần lớn khoảng thời gian ấy, thì là quá lâu.

Hai tác giả đã hiểu sai bình luận của tôi, là “gần gũi về địa lý không thôi thì không phải là một cơ sở rõ ràng cho việc ra yêu sách chủ quyền hay quyền chủ quyền”. Khi tôi viết như vậy, không có nghĩa là tôi lẫn lộn hai khái niệm chủ quyền và quyền chủ quyền. Thay vì thế, bình luận của tôi nhằm vào cái tuyên bố đơn giản, được lặp đi lặp lại nhiều lần, rằng giàn khoan dầu của Trung Quốc “nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, trên cơ sở gần gũi về mặt địa lý với đất liền Việt Nam”. “Các quyền chủ quyền” trong bối cảnh này tất nhiên đã tham chiếu đến một thực tế là, trong vùng đặc quyền kinh tế, một quốc gia chỉ có thể thực thi các quyền của họ đối với tài nguyên của khu vực đó, chứ không có chủ quyền tuyệt đối.

Việt Nam có thể có những lập luận vững để biện hộ cho yêu sách chủ quyền của họ đối với quần đảo Hoàng Sa, nhưng cũng chỉ là các lý lẽ mà thôi. Trung Quốc cũng có. Lý lẽ của mỗi bên dứt khoát phải được kiểm nghiệm, hoặc là thông qua quá trình đàm phán song phương, hoặc là trước một tòa án quốc tế. Trong khi đó thì tại vùng biển này lại vốn chẳng có đường biên giới nào được các bên cùng thỏa thuận cả, và những tranh chấp như cuộc tranh chấp mà chúng ta đang chứng kiến đây hiện đang trở nên phổ biến hơn.

Khẳng định chủ quyền

Trong mấy năm qua, những tuyên bố khẳng định chủ quyền đang ngày càng gay gắt hơn. Các nước có chung đường biên đều tránh hợp tác, vì sợ là nếu hợp tác thì, cách này cách khác, họ có thể sẽ phải nhân nhượng về yêu sách chủ quyền của mình.

Được dẫn dắt chủ yếu nhờ các hội thảo do Indonesia tổ chức xoay quanh việc giải quyết xung đột trên Biển Đông, các quốc gia trong khu vực có vẻ như đã từng tiến tới một quá trình hợp tác hiệu quả vào những năm 1990 và đầu thập niên 2000. Có thể thấy rõ điều này trong Tuyên bố năm 2002 về Cách ứng xử của các bên (DOC), một văn bản liệt kê đầy đủ các lĩnh vực hợp tác. Tuy nhiên, gần đây, quá trình này đã bế tắc vì những yêu sách chủ quyền dân tộc chủ nghĩa.

Những yêu sách đó càng được đà nhờ sự nhiệt tình của công chúng và nhờ quan niệm cho rằng mỗi hòn đảo đều là một phần không thể chia cắt của đất nước mình. Hậu quả của những điều này đã bộc lộ rất rõ ràng trong các cuộc biểu tình bạo lực, đầy tính dân tộc chủ nghĩa, của Việt Nam chống Trung Quốc.

Mặc dù có nguy cơ là lại gây một cơn bão ý kiến phản đối từ các học giả Việt Nam, nhưng tôi vẫn muốn cả gan nói rằng: Trong số các nước ven biển (littoral nation, tức là những quốc gia có bờ biển – ND), Việt Nam cũng là một nước vi phạm chẳng kém gì ai, với những tuyên bố chủ quyền gay gắt và sự thiếu quyết tâm thực hiện những nghĩa vụ của họ theo luật biển quốc tế, đặc biệt là Phần IX của UNCLOS (là phần “Biển kín hay biển nửa kín” – ND). (Trong khi đó) Ít nhất thì Trung Quốc đã đề nghị Quỹ Hợp tác Hàng hải Trung Quốc-ASEAN hỗ trợ quá trình hợp tác.

Tôi vui vẻ thừa nhận rằng, khi dựa vào các nguồn tư liệu thứ cấp trích dẫn những số liệu khác nhau, tôi có thể đã đưa ra một số khoảng cách không đúng. Nhưng sự thiếu sót đó chỉ gây ảnh hưởng không mấy quan trọng, và không làm thay đổi những lo ngại mấu chốt của tôi. Các lập luận kia đi vào tiểu tiết đến mức “thấy cây mà không thấy rừng”, trong đó cơ chế hợp tác hiệu quả chính là “rừng”.

Ngay cả vấn đề kích thước của đảo Phú Lâm cũng không thật có ý nghĩa. Phú Lâm đủ lớn để thỏa mãn yêu cầu “là một đảo”, theo quy chế về đảo trong UNCLOS, và sẽ phải được cân nhắc đến khi phân định ranh giới trên biển. Việt Nam, được hưởng đường bờ biển kéo dài trên Biển Đông, quan niệm rằng trong Biển Đông chẳng có hòn đảo nào chỉ trừ phi đảo ấy là một yếu tố được tính tới trong các cuộc đàm phán về biên giới trên biển.

Tác giả chế ảnh: Họa sĩ Trí Tuệ

Con đường phía trước

Tình hình trên Biển Đông sẽ chỉ được giải quyết khi các quốc gia có chung biên giới thay đổi nếp nghĩ của họ, chuyển từ thứ tư duy nặng về chủ quyền, sở hữu độc quyền các nguồn lực và xây dựng “hàng rào trên biển” (tức là, thiết lập các biên giới hàng hải giữa các nước láng giềng với nhau), sang tư duy về hợp tác cùng có lợi và phối hợp quản lý. Điều này sẽ phù hợp cả với các nghĩa vụ theo Phần IX UNCLOS lẫn theo tinh thần của DOC 2002.

Hai tác giả kết luận bài viết phê bình của họ dành cho tôi bằng tuyên bố rằng tôi “có thể có đóng góp tích cực hơn cho hòa bình và hợp tác bằng cách khuyến khích Trung Quốc chịu khó tuân theo các thủ tục giải quyết tranh chấp đã được cụ thể hóa trong UNCLOS”.

Tôi cũng có thể nói như thế về Việt Nam chứ?

Đóng góp chân thành của tôi cho hòa bình và hợp tác trong khu vực là viết về vụ tranh chấp này theo hướng thúc đẩy một sự thay đổi tư duy, từ quan điểm bảo vệ chủ quyền, sở hữu độc quyền các nguồn lực và xây dựng “hàng rào trên biển”, sang tư duy về hợp tác cùng có lợi và phối hợp quản lý Biển Đông và nguồn lực của nó. Những yêu sách chủ quyền gay gắt, thậm chí còn thể hiện rõ ràng hơn trong cách viết của hai tác giả, đang trở nên ngày càng phản tác dụng và chẳng đi tới đâu.

Về lâu dài, tất cả các bên đều sẽ thiệt thòi vì sự tiếp tục thiếu vắng những cơ chế hiệu quả về quản lý nguồn lực, nghiên cứu khoa học hàng hải, bảo vệ môi trường biển, bảo vệ an ninh cho tàu thuyền đi qua khu vực, và ngăn chặn các hoạt động bất hợp pháp trên biển. Cuối cùng thì, lợi ích quốc gia của tất cả các bên đều đòi hỏi họ phải hợp tác như vậy.


Tuesday, 27 May 2014

Chủ quyền đối với Hoàng Sa: Về một bài báo thiên vị Trung Quốc

ENGLISH

Vào ngày 15/5/2014, Sam Bateman, nghiên cứu viên cấp cao của Trường Nghiên cứu Quốc tế S. Rajaratnam (RSIS, thuộc Đại học Công nghệ Nanyang, Singapore), đã có bài phân tích đăng trên Eurasia Review, nhan đề “Công hàm Phạm Văn Đồng làm lung lay yêu sách chủ quyền của Việt Nam”.

Đại ý tác giả cho rằng: Do Công hàm Phạm Văn Đồng 1958 thừa nhận Hoàng Sa là của Trung Quốc và từ đó đến năm 1975, Việt Nam cũng không phản đối gì; cho nên nếu bây giờ Việt Nam đòi chủ quyền đối với Hoàng Sa thì sẽ yếu thế.

Vài ngày sau đó, hai học giả Việt Nam là TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn đã có bài viết phản bác tác giả Sam Bateman. Hai ông gửi đăng bài này ở RSIS. Ngày 26/5, RSIS đăng tải bài viết của Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn (số thứ tự 99), cùng ngày, đăng luôn một bài viết mới của Sam Bateman phản biện hai học giả Việt Nam (số thứ tự 100).

Dưới đây là nội dung bài viết của TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn.

* * *

CHỦ QUYỀN ĐỐI VỚI HOÀNG SA: VỀ MỘT BÀI BÁO THIÊN VỊ TRUNG QUỐC

  • Huy Duong – Tuan Pham

Tóm tắt

Trong bài bình luận của RSIS, số 88/2014, “Căng thẳng trên Biển Đông: Ai có chủ quyền đối với Hoàng Sa?”, Sam Bateman cho rằng Trung Quốc đang thực hiện đúng quyền của mình khi triển khai giàn khoan Haiyang 981 ở tọa độ hiện tại. Bài viết của ông không bảo vệ được quan điểm đó và cho thấy một cái nhìn không công bằng về những mặt mạnh tương đối trong từng trường hợp – Việt Nam và Trung Quốc.

Bình luận

Trong bài bình luận gần đây của RSIS, số 88/2014, Sam Bateman đã nêu ý kiến về tranh cãi giữa Việt Nam và Trung Quốc xoay quanh việc Bắc Kinh đặt giàn khoan dầu của họ tại một địa điểm gần Việt Nam. Ông Bateman cho rằng “giàn khoan nằm ở vị trí chỉ khoảng 14 hải lý tính từ một hòn đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc có yêu sách chủ quyền, và 80 hải lý tính từ đảo Phú Lâm (Woody Island, thuộc Hoàng Sa – ND), một cấu trúc địa lý lớn, với diện tích khoảng 500 hecta, mà Trung Quốc đang chiếm hữu”. Câu này có một số lỗi và thiếu sót, mà tất cả đều thiên về bênh vực Trung Quốc.

Cấu trúc địa lý gần giàn khoan nhất là đảo Tri Tôn (Triton, thuộc Hoàng Sa – ND), cách đó 17 hải lý. Chênh lệch giữa con số 14 và 17 hải lý có vẻ nhỏ, tuy nhiên, con số 14 ngụ ý rằng giàn khoan chỉ nằm ngoài lãnh hải (territorial waters – vùng biển rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở – ND) của đảo Tri Tôn có 2 hải lý, trong khi khoảng cách thực sự là 5 hải lý.

Đảo Phú Lâm nằm cách giàn khoan 103 hải lý chứ không phải 80, và diện tích của đảo nhìn chung được ghi nhận là khoảng 200 hecta, thống nhất với Google Map (bản đồ của Google).

Còn cái thiếu sót ở đây là tác giả đã không đề cập rằng quần đảo Hoàng Sa là nơi Việt Nam cũng có tuyên bố chủ quyền.

Tọa độ của giàn khoan Haiyang 981. Nguồn: CSIS/CNN

Xem nhẹ các yêu sách của Việt Nam

Tác giả Bateman viết rằng: “Một đường biên giới hàng hải đã được đàm phán trong khu vực này thì chắc chắn sẽ xác định rằng giàn khoan dầu nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc, ngay cả khi những lập luận của Trung Quốc khẳng định các đặc tính của đảo có kém sức thuyết phục đi chăng nữa”.

Một bài phân tích thận trọng sẽ cho thấy điều ngược lại: Thứ nhất, cả Việt Nam và Trung Quốc đều tuyên bố chủ quyền đối với Hoàng Sa; do đó, sẽ là sai lầm nếu mặc định rằng tất cả các đảo thuộc Hoàng Sa và phần vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) bao quanh mỗi đảo đều tự nhiên thuộc về Trung Quốc và đàm phán hay các thủ tục trọng tài đều phải dựa trên cơ sở đó.

Ngay cả trong một trường hợp không có khả năng xảy ra, là Việt Nam tuyên bố từ bỏ chủ quyền đối với Hoàng Sa, thì một tòa án trọng tài có thể cũng sẽ phải ra phán quyết giao khu vực bao quanh giàn khoan cho Việt Nam, bởi lẽ khoảng cách từ giàn khoan tới đất liền Việt Nam (120 hải lý) chỉ xa hơn một chút so với khoảng cách từ giàn khoan đến đảo Phú Lâm (103 hải lý). Trong quá khứ, tại nhiều phiên đàm phán và trọng tài về biên giới trên biển, có những đảo lớn hơn Hoàng Sa nhiều, nhưng chỉ được tính hệ số nhỏ hơn hoặc bằng 1/3 so với bờ biển thuộc đất liền. (xem chú thích)

Trong hiệp định biên giới Vịnh Bắc Bộ (năm 2000), đảo Bạch Long Vỹ của Việt Nam được hưởng 1/4 hiệu lực. Trong phán quyết năm 2012 của Tòa án Quốc tế (ICJ) về tranh chấp giữa Nicaragua và Colombia, các đảo của Colombia được tính cộng thêm 1/4 khoảng cách đến Nicaragua.

Các đảo liên quan trong những trường hợp trên đều có diện tích từ tương đương cho đến gấp 13 lần diện tích đảo Phú Lâm.

Đảo Tri Tôn nằm gần giàn khoan hơn, nhưng theo Điều 121 UNCLOS, đảo này khó được hưởng quy chế có vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), cho nên việc giàn khoan ở gần nó chẳng có ý nghĩa gì.

Bateman viết rằng “Việt Nam tuyên bố rằng, do giàn khoan ở gần đất liền của họ hơn gần Trung Quốc và nằm hoàn toàn trong khoảng cách 200 hải lý tính từ bờ biển Việt Nam, cho nên nó rơi vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam… nhưng gần gũi về địa lý không thôi thì không phải là một cơ sở rõ ràng cho việc ra yêu sách chủ quyền hay quyền chủ quyền”. Đây là một cách mô tả rối rắm và sai lầm về căn cứ của yêu sách chủ quyền của phía Việt Nam. Sự nhầm lẫn bắt nguồn từ việc Bateman làm lẫn lộn hai khái niệm “chủ quyền” và “quyền chủ quyền”.

Thực sự là có tranh chấp chủ quyền

Quả thật là có tranh chấp chủ quyền, nhưng đó là về quần đảo Hoàng Sa chứ không phải về khu vực đặt giàn khoan.

Các yêu sách chủ quyền của Việt Nam chưa bao giờ căn cứ vào chuyện “gần gũi về mặt địa lý”, cho nên lập luận của Bateman về việc các nước có thể có chủ quyền cả với những cấu trúc địa lý nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác, là hoàn toàn chẳng ăn nhập gì.

Còn về những ví dụ mà Bateman đưa ra, về việc có những đường phân định vùng đặc quyền kinh tế được thiết lập gần một quốc gia nào đó hơn hẳn quốc gia khác, thì thật ra lập luận này lại là có lợi cho Việt Nam chứ không phải cho Trung Quốc. Đó là bởi vì, nếu Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc, thì các tiền lệ đàm phán và trọng tài về phân định vùng đặc quyền kinh tế đều ngả theo hướng ưu tiên đất liền (trong trường hợp này là Việt Nam) hơn là đảo, như đã trình bày ở trên. (Xem chú thích)

Bateman coi thường yêu sách chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, thế nhưng các lập luận của ông lại rất yếu. Đúng là Bắc Việt đã im lặng, không phát biểu gì về vấn đề chủ quyền, nhưng theo luật pháp quốc tế, đó không phải là hành vi công nhận. Trong công hàm ngoại giao năm 1958 mà Bateman nhắc đến, Thủ tướng Bắc Việt lúc đó là ông Phạm Văn Đồng đã không đề cập gì tới Hoàng Sa hay Trường Sa. Thêm vào đó, miền Nam Việt Nam đã luôn luôn khẳng định và bảo vệ yêu sách chủ quyền của mình.

Bateman viết, Hoa Kỳ đã công khai hoặc ngấm ngầm công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với một số hoặc tất cả các hòn đảo thuộc Hoàng Sa, nhưng ông không đưa ra được bằng chứng thuyết phục nào về việc này. Trên thực tế, Hoa Kỳ thậm chí còn không công nhận chủ quyền của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với lục địa Trung Hoa, cho mãi đến năm 1979. “Bằng chứng” duy nhất (mà Bateman đưa ra) là các hoạt động của quân Mỹ trong chiến tranh có thể đã bị ảnh hưởng nếu Bắc Việt chiếm được đảo Phú Lâm, nhưng Bateman cũng không giải thích được tại sao lại như vậy và cụ thể như thế nào, và ông ta bị nhầm lẫn giữa “chiếm đóng” và “có chủ quyền”.

Trung Quốc nên tuân thủ UNCLOS

Bên cạnh lập luận mấu chốt nêu trên, một quan điểm khác của Bateman, tuy không phải là chính, nhưng cũng có ý bênh vực Trung Quốc, là khi ông cho rằng Trung Quốc chỉ đang đòi quyền đánh bắt cá truyền thống cho các ngư dân của họ, trên gần như toàn bộ Biển Đông. Quan điểm này không đả động gì tới một thực tế gây tranh cãi, là Trung Quốc sử dụng lập luận “các quyền đánh bắt cá truyền thống” để đòi cả quyền khai thác dầu, mặc dù hai thứ quyền này đã được Tòa án Quốc tế (ICJ) phán quyết là chẳng liên quan gì, như trong vụ Lybia-Tunisia.

Kết luận là, có quá nhiều sai lầm, thiếu sót, lập luận yếu và quan điểm không công bằng trong bài báo của Bateman nhằm bảo vệ luận điểm gây tranh cãi của ông ta, rằng Trung Quốc đang thực hiện đúng quyền của mình khi triển khai giàn khoan Haiyang 981 ở tọa độ hiện tại, hoặc Việt Nam nên đơn phương từ bỏ yêu sách chủ quyền đối với Hoàng Sa.

Vụ giàn khoan Haiyang 981 là một trường hợp các yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế bị chồng lấn. Điều 74 UNCLOS đã quy định về việc các bên tranh chấp phải giải quyết các vụ việc kiểu này như thế nào, và Điều 74 cũng đã được diễn giải, áp dụng trong phán quyết năm 2007 của Tòa Trọng tài Thường trực, trong tranh chấp Guyana-Suriname.

TS. Bateman có thể có đóng góp tích cực hơn cho hòa bình và hợp tác bằng cách khuyến khích Trung Quốc chịu khó tuân theo các thủ tục giải quyết tranh chấp đã được cụ thể hóa trong UNCLOS.



Chú thích:

Để hiểu cặn kẽ bài viết này và bút chiến “Dương Danh Huy và Phạm Quang Tuấn vs. Sam Bateman”, bạn đọc cần có một số kiến thức căn bản về luật pháp quốc tế liên quan đến biển đảo, như sau:

Theo truyền thống, các đảo đều có nội thủy và lãnh hải bao quanh. (Như thế nào là đảo, thì dựa vào Điều 121 UNCLOS). Chiều rộng của lãnh hải, theo Điều 3 UNCLOS, không quá 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Nói cách khác, đường cơ sở là ranh giới bên trong của lãnh hải, từ đây tính thêm 12 hải lý thì ra đường ranh giới bên ngoài của lãnh hải. (Xem ảnh trên)

Bên ngoài lãnh hải của một đảo, là tới vùng tiếp giáp, rồi vùng đặc quyền kinh tế (EEZ), và rộng nhất là thềm lục địa của đảo đó. (Một cấu trúc địa lý nếu không phải là đảo thì chỉ được có nội thủy và lãnh hải).

Trong công pháp quốc tế liên quan đến xác định biên giới trên biển, từng có những án lệ theo đó, nếu so giữa bờ biển đất liền và đảo thì bờ biển đất liền có giá trị hơn là đảo trong việc phân định nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Lý do có thể là bởi các đảo đó quá nhỏ, không thích hợp cho con người ở…

Áp dụng vào trong trường hợp Việt Nam hiện nay, theo TS. Dương Danh Huy và TS. Phạm Quang Tuấn: Giàn khoan nằm gần đảo Phú Lâm (103 hải lý) hơn là gần đất liền Việt Nam (120 hải lý). Tuy nhiên, xét về hiệu lực, đảo Phú Lâm chỉ có hệ số bằng 1/3 hoặc ít hơn nữa, so với (hiệu lực của) bờ biển đất liền Việt Nam. Do đó, nếu sử dụng làm cơ sở để phân định vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa... đất liền Việt Nam có giá trị hơn đảo Phú Lâm, và giàn khoan, ở vị trí hiện tại, phải bị coi là nằm trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam (chứ không phải của Hoàng Sa, cho dù Hoàng Sa thuộc về Trung Quốc hay Việt Nam thì cũng vậy).

Đoan Trang dịch và chú thích