Friday, 31 March 2017

Không phản bác được, quay sang vu vạ

Dụ dỗ doanh nghiệp thu mua hải sản của ngư dân để giúp “ổn định tình hình an ninh chính trị” trước bầu cử rồi lật lọng, bỏ mặc họ; chậm chạp và rầy rà trong thanh toán tiền bồi thường; đền bù không thỏa đáng và đặc biệt, không công bằng, nhằm cố ý gây chia rẽ trong nhân dân…

Những vấn đề nghiêm trọng đó trong câu chuyện giải quyết hậu quả thảm họa Formosa không bao giờ được hệ thống tuyên truyền của nhà nước công an trị nêu ra. Nhưng hễ có nhà báo, blogger, hay nói chung là bất kỳ người dân nào, công khai lên tiếng về những điều ấy, là bộ máy đàn áp của công an được khởi động ngay lập tức. Trong đó, những cái loa của công an đóng vai trò chủ chốt trong việc định hướng, nhào nặn dư luận, dọn đường cho các hành động đàn áp.

Ví dụ như trang facebook có tên “Tôi Yêu Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” (có dấu hiệu cho thấy nó là của Bộ Công an, phối hợp chặt chẽ với Tổng cục An ninh, nhận thông tin cũng như chỉ đạo từ đó). Không phản bác nổi các phóng sự của “lề trái”, đám dư luận viên này ngay lập tức chơi bài kinh điển: vu vạ. Chúng rống lên rằng các nhà báo, blogger – thành viên của các tổ chức xã hội dân sự độc lập – là phản động, đồng thời dựng đứng lên chuyện Linh mục Nguyễn Công Bình (giáo xứ Trung Nghĩa) đã “chỉ đạo các nhóm côn đồ” ném mìn vào nhà trưởng thôn xã Thạch Bằng (huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh).

Cứ như thể chúng không hề biết chính an ninh Hà Tĩnh đã chặn xe các nhà báo, blogger để sẵn sàng cho một màn kịch gây rối và đánh người, và sở dĩ âm mưu không thành chỉ là vì chúng sợ dân địa phương kéo đến giải cứu.

Cứ như thể chúng không hề biết những cuộc phỏng vấn với người dân đã diễn ra giữa hàng tốp an ninh lởn vởn rình rập, lăm lăm máy quay phim, điện thoại ghi hình.

Cứ như thể chúng không hề biết chuyện công an xã, công an huyện đã đến tận nhà một số nạn nhân của thảm họa Formosa để căn vặn, hạch sách, rồi đe dọa, không cho trả lời phỏng vấn báo chí.

Cứ như thể chúng không hề biết chuyện loa xã tối nào cũng oang oang nhắc người dân “cảnh giác với những đối tượng phản động vừa lọt vào địa bàn” và phải báo ngay với công an nếu gặp phản động.

Cứ như thể chúng không hề biết lý do tại sao nhà ông trưởng thôn xã Thạch Bằng lại bị tấn công. Xưa nay, khi các nhà hoạt động dân chủ-nhân quyền bị an ninh thường phục hành hung thì chúng bảo đó là do “quần chúng tự phát” bức xúc. Nay tư gia đồng chí trưởng thôn bị ném mìn, sao chúng không phán rằng cũng là do quần chúng bức xúc đi? Lẽ nào chúng không biết đến những bất mãn hiện nay của người dân, nhất là liên quan đến thảm họa môi trường do Formosa gây ra?

Đăng bài vu vạ, gọi Linh mục Nguyễn Công Bình là "con quỷ đội lốt thầy tu" xong, có lẽ cũng thấy sợ phản ứng từ phía cộng đồng tôn giáo nên các "biên tập viên" của trang facebook này đã lẳng lặng gỡ bài. Tuy nhiên, hành động gỡ bài cũng chẳng làm thay đổi được bản chất "ăn không nói có, ngậm máu phun người" của chúng.

Ăn không nói có, ngậm máu phun người vốn là truyền thống của an ninh Việt Nam và lực lượng dư luận viên tay sai. Không phản bác được ai thì chỉ việc rống lên rằng người đó là phản động, kẻ thù của cách mạng, là xong.

Từ thời Nhân văn Giai phẩm đã như vậy rồi: Các trí thức-văn nghệ sĩ chưa kịp có tác phẩm nào phê phán chế độ, đã lãnh ngay những quả đấm của bộ máy nhà nước công an trị. (Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, dẫn lời nhạc sĩ Văn Cao nói về đàn áp phong trào Nhân văn Giai phẩm: “Chẳng ai hô hào lật đổ các ông ấy cả. Chỉ có các ông ấy tru tréo lên: ‘Ối giời ơi, có địch, có địch ngay trong hàng ngũ chúng ta’, rồi dựng thành vụ để trấn áp… Họ đánh tuốt trí thức, chứ không phải chỉ văn nghệ sĩ không thôi đâu. Ðánh để trị, để đe”).


* * *

Xin nhắc lại:

Nhân một năm xảy ra thảm họa môi trường biển miền Trung (tháng 4/2016), trong những ngày tới, chúng tôi (Green Trees, Con Đường Việt Nam, No-U...) có các bài viết và bản tin truyền hình phản ánh hai vấn đề sau:

1. Tình cảnh thực tế của ngư dân miền Trung như là hậu quả của thảm họa biển do Formosa gây ra; VÀ ĐẶC BIỆT NGHIÊM TRỌNG LÀ

2. Chính sách chia rẽ giáo dân và lương dân, chia rẽ nhân dân, phá hoại xã hội dân sự và khối đại đoàn kết dân tộc, của đảng Cộng sản và an ninh Việt Nam.

Nhớ lại, đầu năm 2015, trước khi trở về nước, tôi từng ngầm có lời thề với chính mình: Thách công an Việt Nam làm cho tôi sợ được.

Sau hai năm nhìn lại, tôi thấy cần phải bổ sung: Thách công an Việt Nam làm cho tôi hết khinh các vị được, với lối hành xử bất lương của các vị.

Wednesday, 29 March 2017

"Người giàu cũng khóc"

Bản tin của Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) trong chương trình thời sự “giờ vàng” tối thứ sáu, 24/3/2017, cũng như nhiều phóng sự khác của truyền hình quốc doanh đều có nhắc tới việc biển đã sạch, ngư dân miền Trung đã hồ hởi, phấn khởi ra biển đánh bắt hải sản.

Khi chúng tôi gặp gỡ người dân ở các huyện chịu ảnh hưởng nặng của thảm họa, như Kỳ Anh, Lộc Hà, họ đều thể hiện sự phẫn nộ với những gì VTV làm. Một ngư dân thuộc dạng “sói biển” với hàng chục năm hành nghề – ông Hoàng Trinh Danh, 64 tuổi – thậm chí còn tuyên bố sẵn sàng tiếp chuyện phóng viên VTV và trả lời phỏng vấn họ nếu họ về Kỳ Anh tác nghiệp.

Nhân một năm xảy ra thảm họa môi trường biển miền Trung (tháng 4/2016), trong những ngày tới, chúng tôi (Green Trees, Con Đường Việt Nam, No-U...) sẽ có các bài viết và bản tin truyền hình phản ánh hai vấn đề sau:

1. Tình cảnh thực tế của ngư dân miền Trung như là hậu quả của thảm họa biển do Formosa gây ra; VÀ ĐẶC BIỆT NGHIÊM TRỌNG LÀ

2. Chính sách chia rẽ giáo dân và lương dân, chia rẽ nhân dân, phá hoại xã hội dân sự và khối đại đoàn kết dân tộc, của đảng Cộng sản và an ninh Việt Nam.

Clip dưới đây là một đoạn trả lời phỏng vấn – trong nước mắt – của chị Trần Thị Hồng, chủ cơ sở kinh doanh hải sản Hà Hồng, xã Thạch Bằng, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh:

“… Cuộc sống gia đình, con cái ăn học nhờ vào cái nghề này. Cha mẹ cho con cái tiền của không bằng cho cái nghề làm ăn. Hiện giờ là con cái chúng tôi ăn học trông vào cái nghề này. Hiện giờ cơ sở của chúng tôi bị phá sản, giờ không biết… Tiền lãi ngân hàng thì hàng tháng… thì họ cầm tài sản của chúng tôi rồi. Vấn đề ở đây là nợ của dân. Tiền lãi mẹ đẻ lãi con giờ không làm gì ra để trả lại. Chúng tôi trước đây là cơ sở biết làm ăn, biết kinh doanh, giỏi giang… không phải đến nỗi như thế này…”.


* * *

Một lời nhắn đến Bộ Công an Việt Nam, an ninh tỉnh Hà Tĩnh và công an các huyện Lộc Hà, Kỳ Anh: Chúng tôi biết là sau khi các clip như thế này được phát trên mạng, các ông sẽ tìm đến đe dọa, quấy nhiễu, hoặc chuyển sang mua chuộc, dụ dỗ những người dân đã xuất hiện trong clip.

Chúng tôi muốn các ông hiểu rằng: Không một chính thể đàng hoàng nào lại làm cái việc hạch sách, hành hạ những người dân đã "trót" trả lời phỏng vấn báo chí hay chỉ đơn giản là đã nói lên tâm sự của họ, suy nghĩ của họ. Càng làm như thế, càng chỉ chứng tỏ các ông là TÀ QUYỀN, không hơn.

Chúng tôi sẽ có những biện pháp của mình để bảo vệ những người dân đã, đang và sẽ là nạn nhân của tà quyền các ông.

Monday, 27 March 2017

"Khánh ơi, mày lừa dân! Trả lại tiền cho dân!"

Đó là tiếng la hét phẫn nộ của hơn 20 chủ cơ sở đông lạnh ở Lộc Hà (Hà Tĩnh), mỗi lần họ kéo đến Ủy ban Nhân dân tỉnh hay nhà riêng của Chủ tịch tỉnh Đặng Quốc Khánh để đòi tiền bồi thường liên quan đến thảm họa môi trường do Formosa gây ra.

Ít ai biết chuyện những cơ sở đông lạnh hải sản đang khẳng định mình là nạn nhân không chỉ của Formosa mà còn của những lừa mị từ phía nhà nước.

Động viên doanh nghiệp mua hải sản giúp dân

Hai xã Thạch Kim và Thạch Bằng, huyện Lộc Hà, có khoảng 50 doanh nghiệp và hộ gia đình kinh doanh kho đông, kho lạnh. Hàng năm, những cơ sở này thu mua một lượng hải sản rất lớn từ các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế. Chính vì thế, khi thảm họa môi trường bắt đầu ở miền Trung vào đầu tháng 4 năm ngoái, ít nhất bốn tỉnh đã chịu thiệt hại nặng nề, và các cơ sở đông lạnh cũng bị ảnh hưởng nặng nề theo.

Điều đáng nói là chuyện xảy ra khi chỉ còn hai tháng nữa là đến kỳ bầu cử Quốc hội khóa 14 và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021.

Trước tình hình đó, lãnh đạo UBND tỉnh Hà Tĩnh (gồm Chủ tịch Đặng Quốc Khánh, Phó Chủ tịch Đặng Ngọc Sơn) và UBND huyện Lộc Hà đã trực tiếp đến hiện trường – cảng cá Thạch Kim – để vận động doanh nghiệp trên địa bàn thu mua hải sản giúp dân nhằm đảm bảo an ninh trật tự trước cuộc bầu cử.

Theo phản ánh, lãnh đạo đã kêu gọi, kèm với lời hứa hẹn hỗ trợ cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, kể từ khi các cơ sở đông lạnh bỏ tiền tỷ để mua hải sản cho đến nay, họ không nhận được một đồng nào từ các cấp chính quyền.

Trước thời điểm xảy ra thảm họa, các kho đông lạnh đang còn tồn đọng hơn 1.131 tấn cá, mực với tổng giá trị gần 70 tỷ đồng. Số hải sản này còn chưa tiêu thụ, họ đã mua thêm hàng trăm tấn nữa, theo lời kêu gọi của lãnh đạo tỉnh và huyện.

… rồi lờ chuyện hỗ trợ

Ông Lê Viết Huy bên những thùng sứa
đang phân hủy, gây ô nhiễm.
Lá đơn kiến nghị đầu tiên của 21 cơ sở đông lạnh, đề ngày 23/8/2016, nêu rõ:

“Chúng tôi đã tin tưởng vào chủ trương của Đảng và Nhà nước, cũng như tin tưởng vào con người và lời nói của các lãnh đạo tỉnh và huyện (bồi thường 100% giá trị hàng hóa thu mua được nếu bị tiêu hủy, bồi thường 30% giá trị hàng hóa mua được do chênh lệch giá), chúng tôi đã chấp hành, chung tay thu mua hầu hết các sản phẩm của các tàu thuyền đánh bắt được nên đã góp phần rất lớn làm ổn định tình hình an ninh chính trị trên địa bàn cũng như tạo điều kiện cho bà con ngư dân yên tâm tiếp tục ra khơi bám biển…”.

“Các sản phẩm thủy sản được thu mua trước và sau khi xảy ra sự cố môi trường biển ở 20 kho đông lạnh đến nay không tiêu thụ được, gây thiệt hại nặng nề cho các cơ sở đông lạnh như: kinh phí chi trả tiền điện, lãi suất vay vốn lưu động quay vòng, lãi suất hàng tháng ngân hàng, các khoản vay vốn ngân hàng đến hạn không thể trả được…”.

Ông Nguyễn Viết Long, chủ cơ sở đông lạnh Long Huệ (xã Thạch Bằng), là một trong những hộ bị thiệt hại nặng nề nhất. Ông kể lể: “Riêng cái kho này tôi đầu tư 9 tỷ 700 triệu, còn tiền hàng là 11 tỷ 600 triệu. Mỗi tháng tôi trả cho công nhân trung bình 5 triệu đồng/người – bây giờ thì chẳng còn tiền mà trả họ nữa nên vợ chồng phải tự thay nhau làm. Ngoài ra, còn tiền điện, tiền nước, máy móc thiết bị… cũng phải trên 150 triệu đồng một tháng. Mà doanh nghiệp thì đang tê liệt. Hiện tôi vẫn còn nợ ngân hàng. Trong khi tiền Formosa bồi thường thông qua nhà nước thì chúng tôi không nhận được một xu. Thế thì lấy đâu ra mà trả ngân hàng được, phá sản là chắc rồi”.

Hộ ông Long chỉ là một trong gần 50 cơ sở đông lạnh ở huyện Lộc Hà đang phá sản. 21 cơ sở trong số này đã gửi đơn kiến nghị đến các cấp, gồm Thủ tướng Chính phủ, Thanh tra Chính phủ, Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, Bộ Kế hoạch & Đầu tư, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Thủy sản. Bốn đơn kiến nghị tập thể đã được gửi trong tháng 8, tháng 9, tháng 10/2016 và tháng 1/2017 (về sau, số cơ sở tham gia khiếu nại có lúc tăng lên tới 36).

Ngoài ra, họ còn hàng chục lần đến UBND huyện, UBND tỉnh, nhà riêng lãnh đạo tỉnh, rồi “lên Trung ương”, nhưng không có kết quả. Cán bộ các nơi đều chỉ hứa hẹn “sẽ xem xét giải quyết cho bà con” nhưng là hứa miệng, không thể hiện bằng văn bản, cũng không nói là bao giờ sẽ làm.

Ông Nguyễn Viết Long ôm đầu: “Thật sự là chúng tôi không biết phải làm thế nào. Nói về hướng xử lý thì cơ quan chức năng chưa cho hướng nào cả. Từ sau Quyết định 1880 của Thủ tướng, hết Bộ Công Thương rồi lại Bộ Nông nghiệp hẹn tháng 11, rồi tháng 12 sẽ đền bù, nhưng bây giờ tháng 3 rồi mà trong tay dân vẫn không có đồng nào. Chúng tôi đã kiến nghị rất nhiều lần, nhiều nơi. Thanh tra Chính phủ gọi về yêu cầu UBND tỉnh giải quyết, tỉnh lại bảo ‘sẽ xem xét’. Cứ đá qua đá lại như vậy, chúng tôi biết trông cậy vào đâu?”.

Doanh nghiệp thiệt đơn thiệt kép

Khi được hỏi, lãnh đạo tỉnh có cam kết bằng văn bản khi kêu gọi doanh nghiệp thu mua hải sản giúp dân không, ông Nguyễn Hồng Phượng, chủ cơ sở đông lạnh Hải Phượng, bực bội: “Đó, bây giờ hắn cũng hỏi y hệt vậy. Hồi đó chính quyền kêu gọi bằng miệng chứ đâu có văn bản, mà là Chủ tịch tỉnh với Phó chủ tịch tỉnh đứng ra vận động, dân chẳng lẽ không tin? Họ nói bà con cố gắng mua hải sản cho ngư dân để giúp đảm bảo an ninh, hứa là sẽ bù lại, dân chẳng nhẽ không tin? Họ cứ nói thế, không văn bản, không giấy tờ gì. Bà con ở đây thì tin tưởng lắm, cứ ngỡ chủ tịch tỉnh nói thì chắc chắn đúng. Cuối cùng, không hỗ trợ gì mà trái lại, còn làm chúng tôi phá sản”.

Hiện tại, các cơ sở đông lạnh vẫn đang ăn vào vốn, và vẫn phải tiếp tục duy trì hệ thống kho đông kho lạnh. Một phần lý do, như ông Nguyễn Viết Long nói, là “phải bảo quản để giữ hiện trạng, chứ không thì cơ quan chức năng lại hỏi ‘cá đâu rồi’, ‘có đúng mua rồi không’, thế này thế khác”.

Sứa đang phân hủy.
Lý do thứ hai, đáng lo ngại hơn, là thực ra cũng không có phương án tiêu hủy. Một số loài cá như cá nục gai, nục sô, bạc má, chỉ cần tiếp xúc với không khí bên ngoài 1-2 tiếng là phân hủy, bốc mùi hôi thối, cho nên phải duy trì bảo quản đông lạnh liên tục. Nhà ông Lê Viết Huy, chủ cơ sở Huy Lộc, còn giữ tới hàng chục thùng gỗ, chứa hơn 42 tấn sứa từ đầu hè năm ngoái đến nay, không vứt đi đâu được. Sứa đã phân hủy, bốc mùi rất nặng sang cả nhà hàng xóm.

Phẫn uất và tuyệt vọng, các chủ cơ sở đông lạnh đã vài lần chít khăn tang, kéo đến nhà riêng Chủ tịch tỉnh đòi chất vấn, nhưng không được tiếp. Thậm chí, họ tố cáo công an mặc thường phục xua đuổi họ và khiêng một số người, kể cả phụ nữ, lên ô-tô chở đi nơi khác.

Có thể nói toàn bộ câu chuyện này xuất phát từ việc thiếu một sự tham vấn đầy đủ, ngay từ đầu, của chính quyền đối với người dân. Không lắng nghe, không tham vấn thì chẳng nhà nước nào có thể tính toán được hết những thiệt thòi mà người dân phải gánh chịu.

Cũng chưa có dấu hiệu gì cho thấy chính quyền có giải pháp nào cho vấn đề hiện nay của các chủ cơ sở đông lạnh – một trong những đối tượng bị thiệt hại trực tiếp trong thảm họa môi trường biển.

Cá đã ngả vàng, bốc mùi.

Thursday, 16 March 2017

Chị Nguyệt

Chị hơn tôi 7 tuổi, nhưng hồi mới gặp chị (tháng 5/2015), tôi cứ quen gọi chị là cô. Những vất vả, lam lũ của một phụ nữ nông thôn, cộng với những cay đắng của một cuộc hôn nhân không hạnh phúc đã khiến chị già hơn nhiều so với cái tuổi ngoài 40. Nhìn “bà Nguyệt” to lừng lững, đen sạm bây giờ, không ai hình dung được là chị đã từng rất xinh xắn, trắng trẻo…

Và chắc những người quen biết chị thời đó, cũng chẳng ai nghĩ là cô gái tóc dài chấm lưng ấy sẽ trở thành “bà Nguyệt” bây giờ – người luôn có mặt trong mọi sự kiện máu lửa của phong trào dân chủ, hay là của “anh em tranh đấu” như cách chị vẫn gọi.

Chị Nguyệt chưa bao giờ là người có thể che giấu cảm xúc hay nói một đằng, nghĩ một nẻo. Ai tiếp xúc với chị đều thấy cái chất miệt vườn ở chị: nồng nhiệt, hết mình với anh em, thờ ơ với người chị không ưa, và quyết liệt đối đầu, không thỏa hiệp với những kẻ thù của phong trào dân chủ – tức là an ninh và tay sai. Chị cũng thật thà lắm, bộc tuệch bộc toạc, nghĩ sao nói vậy, mà diễn đạt lại... không hay, cứ lủng củng sao đó, nên đúng mấy cũng dễ bị chọc. Nhưng ai biết cảm nhận thì đều phải thấy ngay rằng chị Nguyệt luôn nói thật, nói đúng những điều chị nghĩ, và không bao giờ xuất phát từ ác ý.

“Hành trình lịch sử”

Tháng 5/2016, cùng với anh Vũ Huy Hoàng, chị Nguyệt đưa tôi từ Sài Gòn ra Hà Nội để gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama. “Hành trình lịch sử” bắt đầu từ ngày 19/5, sau khi tôi chỉ vừa mổ hai chân được đúng 10 ngày. Chị đi mà lòng vẫn bề bộn chuyện “bọn trẻ ở nhà” – thời gian đó biểu tình bảo vệ môi trường và đòi minh bạch vụ cá chết vẫn đang diễn ra ở Sài Gòn và bị đàn áp dữ dội. Chị lo bọn trẻ bị đánh, bị thẩm vấn, bị bắt nhốt trong trại bảo trợ, bị đuổi khỏi nhà trọ… mà không có ai chăm sóc, bảo vệ, hay chỉ đơn giản là động viên chúng, để chúng không cảm thấy bị bỏ rơi.

Chị cứ lo lắng, bồn chồn như thế, suốt cả chặng dài gần hai nghìn cây số. Mới vào đầu hè, cây cối xanh rờn, hoa phượng nở đỏ rực hai bên đường đi. Cảnh đẹp cũng chẳng làm cho chị vui vẻ, bình yên hơn. Chị và anh Hoàng cùng chăm sóc tôi như chăm cô em gái bé nhỏ. Đôi khi tôi nhận thấy, nhiều người chỉ nhìn thấy ở tôi một “nhà báo”, “nhà đấu tranh”, “nhà hoạt động”, “nhà dân chủ” gì đó, rất ít ai nghĩ tôi cũng chỉ như một đứa trẻ, hiền và nhát, thích được chiều chuộng, và chẳng hề thích xung đột, đánh nhau với ai, huống chi là đối đầu với công an và chính quyền. Ở bên chị Nguyệt, anh Hoàng, vợ chồng anh Huỳnh Anh Tú-Phạm Thanh Nghiên, vợ chồng nhà thơ Bùi Chát-Tiểu Anh..., tôi luôn có cảm giác ấy, rằng mình là một đứa trẻ.

Thật không may, ba anh chị em bị công an bắt tại Ninh Bình vào ngày hôm trước khi gặp Obama. Đó cũng là do đứa trẻ trong tôi đã quá ngây thơ, không chịu lớn: Nó cứ nghĩ là chuyện đi gặp một ông tổng thống Mỹ xa lắc xa lơ nào đó là chuyện bình thường, công an chặn làm gì. Chẳng ai kỳ vọng những cuộc gặp kiểu như vậy có thể mang lại bất kỳ điều gì cho Việt Nam nói chung và phong trào dân chủ nói riêng, tôi thì càng không. Bởi vì tôi hiểu lắm, rằng ngoại giao là ngoại giao, và dân chủ, tự do cho một đất nước chỉ có thể là do người dân nước đó tự đấu tranh mà có được.

Bị bắt

Buổi sáng sớm ngày 23/5, khi chống nạng xuống tầng 1 nhà nghỉ và thấy một đám thanh niên đứng ở đó, gườm gườm nhìn tôi với cái ánh mắt không thể lẫn vào đâu được – vừa gian vừa ác – tôi hiểu ngay điều gì đang xảy ra. Hóa ra chúng vẫn chặn bắt tôi bằng được, và không chỉ thế, cái cách chúng săn đuổi người ta thật chẳng khác gì săn thú.

Chúng không biết chị Nguyệt và anh Hoàng, nên để hai người (đi trước tôi) thoải mái ra khỏi nhà nghỉ. Lẽ ra hai anh chị đã có thể lẳng lặng lên xe và rút, nhưng cả hai không làm thế mà lại quay lại chỗ tôi. Đám an ninh ập vào và kéo tôi đi ngay lập tức – mục đích là tách riêng ba người, không để ở gần nhau. Chỉ đến khi tôi buộc phải kêu lên: “Bỏ ra. Trời ơi. Đau quá!”, an ninh mới buông tay.

Tôi la lên: “Chị Nguyệt ơi! Chị đang ở đâu thế?”. Có tiếng chị Nguyệt hét to đáp lại: “Chị ở đây. Đừng lo”. Chị cố lao về phía tôi nhưng những Giave cộng sản kia đã kịp vây giữ chị.

Giằng co mãi rồi chúng cũng đẩy được tôi vào trong phòng và đóng cửa lại.

Chị Nguyệt ôm chặt ba-lô (trong có điện thoại của tôi và iPad mượn của một người khác), đứng bên ngoài. Một lát sau, tôi nghe có tiếng huỳnh huỵch, huỳnh huỵch, và tiếng chị Nguyệt hét: “Này, làm cái trò gì thế? Cướp! Cướp!”.

Tôi hiểu, chúng định giật ba-lô và chị đã cố giữ chặt.

“Nữ đồng chí” Nguyễn Thị Yến, nhân viên Tổng cục An ninh (A67), vểnh tai nghe ngóng rồi lắc đầu: “Dân chuyên nghiệp có khác. Chậc chậc”.

Ý của nữ đồng chí là chị Nguyệt hẳn là dân oan, biết cách “ăn vạ”. Nói chung, cái đầu của Yến và các đồng chí của Yến không có chỗ cho những suy nghĩ lành mạnh, tốt đẹp. Tư duy của cả đám là chính quyền luôn đúng, công an luôn tốt, bọn dân chủ luôn hạ tiện. Yến và đồng bọn cũng tin tưởng chắc chắn rằng cơ quan an ninh có thể làm gì tùy thích, kể cả việc cướp giật tài sản của công dân. Tất nhiên Yến chẳng bao giờ hiểu đó là hành động cướp, cũng như chẳng bao giờ nghĩ công dân có quyền tự vệ khi bị cướp.

Tôi thì chỉ nghĩ, nếu chị Nguyệt rút ngay từ đầu, chị đã có thể đàng hoàng ra khỏi nhà nghỉ, đi đến một nơi khác an toàn. Và nếu chị không quyết liệt bảo vệ cái ba-lô đó, thì điện thoại, iPad của chúng tôi đều đã rơi cả vào tay đám chó săn. Chẳng phải ngẫu nhiên mà việc đầu tiên chúng làm với bất kỳ ai khi bắt họ, cũng là khống chế, cướp điện thoại. Được cái lực lượng an ninh anh dũng và mưu trí của Việt Nam chỉ ra tay với những người mà chúng biết chắc là không thể tự vệ, không thể hoặc không dám chống lại chúng. Khi đụng chị Nguyệt, chúng gặp phải thứ dữ. Chúng sợ mất “tính chính danh” – đang là nhân viên an ninh, bỗng bị gọi đích danh là cướp – nên cũng có phần chùn tay, không đổ quân ra khống chế, giằng giật điện thoại cho bằng được như mọi lần nữa.

Cuối cùng, chúng tôi cũng ra được khỏi nơi đó, sau hai mươi sáu tiếng đồng hồ.

Yến hể hả lắm. Ngày hôm đó quả là một trận đánh đẹp của Yến và các đồng chí, bắt được con Trang què khi nó đang hai tay hai nạng lê lết ở nhà nghỉ. Sau này, mỗi lần tóm được tôi, Yến vẫn thường cố gắng tìm hiểu thái độ của tôi xem tôi nghĩ gì, có uất ức, phẫn nộ vì bị bắt ngày hôm đó không.

Dĩ nhiên là cái đầu của Yến lấy đâu ra không gian cho những ý nghĩ tốt đẹp hay cho sự cảm thông của con người với con người, nên Yến làm sao mà hiểu được tôi.

Nói về chuyến đi ấy, tôi không nhớ nhiều, chỉ nhớ màu hoa phượng đỏ và tiếng ve dọc đường, nhớ anh Hoàng, chị Nguyệt, nhớ những câu chuyện buồn vui mà chúng tôi đã nói với nhau suốt cả nghìn kilomet, nhớ những người bạn tranh đấu mà chúng tôi gặp trên đường – Bạch Hồng Quyền, vợ chồng Peter Lâm Bùi, chị Huỳnh Diệu Liên, anh Hoàng Công Cường… và rất nhiều người khác nữa. Những người đã khiến tôi hiểu và yêu cuộc sống và cuộc chiến đấu này hơn biết bao nhiêu.

* * *

Gần một năm qua. Tôi được biết chị Nguyệt đã từ chối làm thủ tục đi định cư ở nước ngoài, để ở lại với anh em đấu tranh và với “bọn trẻ”. Tôi mừng rỡ như trẻ con khi nghe chuyện đó, dù tôi cũng hiểu rằng, ở Việt Nam những năm tháng này là vất vả, gian khổ, nguy hiểm, và chị Nguyệt đã phải chịu đựng quá nhiều. Có lẽ tôi ác, nhưng tôi không muốn chị đi. Tôi cứ muốn “chị ở đây với em, với mọi người, chị nhé”.

Thiên hạ có thể nói rất nhiều điều tệ hại về mỗi cá nhân trong phong trào dân chủ, về những người như chị Nguyệt (Trần Thu Nguyệt), chị Hằng (Bùi Thị Minh Hằng)… Thiên hạ có thể phán xét là các chị ít học, xuất thân từ tầng lớp thấp, “chỉ là dân oan”, không có lý luận, không có tri thức, không thể là lãnh đạo hay người dẫn đường v.v.

Nhưng tôi thì thấy: Họ có thể có những nhược điểm ấy, nhưng họ – chị Nguyệt, chị Hằng – là những người đã luôn ở bên anh em đấu tranh và bọn trẻ trong những cuộc thử lửa dữ dội nhất, trong những lần biểu tình bị đàn áp, những vụ đòi người kéo dài mà sự nguy hiểm và căng thẳng cũng chẳng kém gì lúc đi biểu tình.

Cho dù có ai đứng từ xa mà nói gì, thì sự thật vẫn là chị Nguyệt chưa bao giờ bỏ rơi chúng tôi. Chị Nguyệt luôn luôn có mặt và đi đầu trong những trận đánh ấy và trong cả cuộc chiến đấu này.

Chị Nguyệt (người phụ nữ kính trắng, áo đen) 
trong buổi tưởng niệm tử sĩ Hoàng Sa, 19/1/2017 tại Sài Gòn.

Friday, 24 February 2017

Tuyên bố chung của XHDS độc lập gửi EU

Ngày 23/2/2017, đại diện của 11 tổ chức xã hội dân sự độc lập đã gặp gỡ phái đoàn dân biểu của Nghị viện châu Âu trong chuyến làm việc của Nghị viện để tìm hiểu về tình hình nhân quyền Việt Nam, trước khi có thể phê chuẩn Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam.

11 tổ chức, trong đó có Con Đường Việt Nam, Green Trees, Nhật Ký Yêu Nước, Hội Nhà báo Độc lập, NXB Trẻ Hà Nội, đã cùng ra một tuyên bố chung đánh giá về nhân quyền ở Việt Nam trong 5 năm qua. Tuyên bố gồm có 30 điều khoản đánh giá và 4 kiến nghị.

Theo đó, mặc dù có đạt một số thành tích về xóa đói giảm nghèo, nhưng Việt Nam vẫn là một chính thể độc đảng, quyền con người bị vi phạm trầm trọng và trên diện rộng, đặc biệt là các quyền tự do ngôn luận, hiệp hội, tụ tập ôn hòa, và tự do tôn giáo, tín ngưỡng.

Bản tuyên bố nêu rõ những biện pháp mà chính quyền dùng để trấn áp tự do ngôn luận và báo chí ở Việt Nam: 1. Duy trì hệ thống thẻ nhà báo do nhà nước cấp phát, để không công nhận nhà báo độc lập, từ đây mở đường cho việc hạn chế quyền tiếp cận thông tin, thậm chí đánh đập, hành hung người làm báo; 2. Duy trì hệ thống cơ quan tuyên giáo các cấp từ trung ương tới địa phương để kiểm soát chặt chẽ nội dung của báo chí; 3. Phát triển đội ngũ dư luận viên để công khai tấn công vào tự do ngôn luận, mạ lị, bôi nhọ các tiếng nói phản biện, song song với ca ngợi chính sách của nhà nước…

Điều 18 của Tuyên bố chung xác định lực lượng an ninh đã và đang rất tích cực gây chia rẽ giữa các tổ chức xã hội dân sự có giấy phép và khối xã hội dân sự độc lập.

Điều 19 nêu rõ việc hàng chục năm qua, công dân Việt Nam vẫn phải khai báo thông tin về “dân tộc” và “tôn giáo” trong giấy tờ tùy thân, và điều này cấu thành một sự vi phạm nhân quyền với tính chất kỳ thị.

Trong phần kiến nghị, những tổ chức ra tuyên bố chung yêu cầu:

- Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam phải có những điều khoản về nhân quyền, được xác định rõ ràng và có tính ràng buộc;

- Ủy ban châu Âu phải tiến hành báo cáo đánh giá tác động nhân quyền, song song với Hiệp định;

- Sau khi Hiệp định được phê chuẩn, Ủy ban châu Âu phải xem xét các biện pháp thích hợp để đảm bảo rằng Chính phủ Việt Nam tuân thủ các cam kết và nghĩa vụ nhân quyền của mình;

- Phải có cơ chế kiểm định, đánh giá về nhân quyền; cơ chế này phải khuyến khích và tạo điều kiện cho khối xã hội dân sự độc lập tham gia.

“Quyền con người căn bản vẫn tiếp tục bị vi phạm tràn lan ở Việt Nam, đi kèm với bạo lực được bảo kê và trấn áp chính trị. Tất yếu điều này làm suy giảm sự thịnh vượng của người dân Việt Nam và về dài hạn, ngăn cản sự phát triển bền vững của đất nước” – Tuyên bố chung khẳng định.


Tuesday, 21 February 2017

Không đau đâu, đừng sợ!

Từng làm phóng viên truyền hình, tôi nhận thấy nhiều người dân Việt Nam chia sẻ một đặc điểm không được thú vị lắm, đó là: Cứ thấy ống kính máy quay và nhà báo xin phỏng vấn, là từ chối, trốn, né, thậm chí đuổi quầy quầy. Thế nhưng cũng chính những người đó, nếu thấy phóng viên quay sang phỏng vấn người khác, thì lại đứng phía sau, tìm cách thò mặt vào khuôn hình cười cười hoặc lè lưỡi, giơ tay vẫy vẫy… để được lên tivi.

Ban đầu, tôi không thích cách ứng xử ấy lắm vì nó hơi trẻ con. Về sau, tôi nghĩ có thể nó còn xuất phát từ một nỗi sợ nào đó. Người ta sợ lên hình để trả lời phỏng vấn một cách nghiêm túc, vì nhiều lý do: sợ mình xấu, sợ mình không biết ăn nói, và nhất là sợ phiền. Về điểm này nhà văn Nam Cao đã viết từ năm 1941 trong tác phẩm Chí Phèo: “Không ai nói gì, nguời ta lảng dần đi vì nể cụ bá, lại để khỏi lôi thôi, nhỡ có chuyện gì người ta lại triệu mình đi làm chứng”. Còn chuyện vẫn thích thò mặt vào khuôn hình để lên tivi thì đó lại là biểu hiện của tính trẻ con – ta không bàn kỹ về việc ấy ở đây.

Nhưng mà, các bạn biết không, một trong các lý do thúc đẩy một số blogger, trong đó có tôi, viết nhiều điều chỉ trích đảng và nhà nước cộng sản ở Việt Nam, là bởi vì chúng tôi mong muốn thấy độc giả bước ra khỏi nỗi sợ hãi.

Chắc chắn là rất, rất nhiều, đại đa số dân Việt Nam, hiện vẫn nghĩ rằng “viết lách trên mạng, còm men, like, share linh tinh trên mạng rồi có ngày đi tù”.

Lối suy nghĩ ấy là kết quả của chính sách “nắm tư tưởng” của đảng và nhà nước ta suốt từ thời đầu thành lập đến nay. Chính quyền công an trị quả thật đã thành công trong việc khiến người dân không bao giờ có thể sống trong tư thế “đầu đội trời chân đạp đất”, “nhất sinh đê thủ bái mai hoa”. Chưa nói chuyện viết, mà thậm chí đến like, bày tỏ sự đồng tình với một status “phản động” nào đó thôi, nhiều người đã ớn rồi.

Nhưng các bạn thấy đấy, đã có nhiều blogger lên tiếng phản biện, chỉ trích nhà nước về các chính sách công, thậm chí chửi thẳng vào chế độ, mà có… đi tù đâu?

Nói một cách ngắn gọn là: Cái thời chỉ viết không thôi cũng đủ đi tù đã qua rồi.

Khi không bị nỗi sợ hãi ám ảnh, chúng ta rất hạnh phúc.
Trong hình là nhóm Green Trees tại một buổi hòa nhạc cuối năm
(Hà Nội, 14/1/2016).

Đi tù không dễ đâu!

Nhà nước Việt Nam hiện nay vẫn là nhà nước công an trị, và vẫn kiên quyết chống lại tự do báo chí, tự do biểu đạt, tự do học thuật, tự do tư tưởng. Nhưng vì nhiều lý do, nó cũng không thể dễ dàng bắt một người nào đó chỉ vì họ có hành động viết bài trên mạng. Like và share và comment càng không đủ để bạn đi tù.

Các lý do đó là gì? Có thể là sự hiện diện của Internet và mạng xã hội, là cái nhìn của cộng đồng quốc tế, hoặc có thể đơn giản là sự hạn chế về nguồn lực: Trong thời đại Internet, không chế độ nào đủ nhân lực, tài lực để kiểm soát hoàn toàn không gian mạng. Đảng Cộng sản Việt Nam và bộ máy công an của nó không đủ người, không đủ tiền, không đủ lực để thực hiện việc đó một cách triệt để.

Cho nên, bạn hãy cứ yên tâm là bạn có thể phát biểu chính kiến, ít nhất là trên mạng. Nói như ý của blogger Gió Lang Thang (Trịnh Anh Tuấn) là: Anh em trong Nam ngoài Bắc xếp hàng đi tù còn dài lắm, chưa đến lượt mấy facebooker chỉ vừa viết vài bài “bút chiến” trên bàn phím đâu.

Các bạn hãy lên tiếng đi, hãy thể hiện chính kiến đi, đừng sợ.

Đám phóng viên truyền hình, khi muốn “dụ dỗ” một người dân nào đó trả lời phỏng vấn, thường đùa: “Lên hình đi bác, không đau đâu. Thích lắm!”.

Tôi cũng nghĩ vậy. Can đảm thể hiện quan điểm đi các bạn, không đau đâu, thích lắm!

Tuy nhiên, cũng xin nói thêm: Việc tự do thể hiện quan điểm không đồng nghĩa với bịa đặt, tung tin đồn nhảm, lừa dối dư luận. Nhất là nếu bạn xác định làm truyền thông là công việc của bạn, thì bạn phải có trách nhiệm với công việc ấy và với người đọc, với khán giả của bạn.

Tuesday, 14 February 2017

Viết cho những người không có đạo – như tôi

Tôi không phải người Công giáo. Tôi cũng không phải Phật tử. Tóm lại, tôi không có đức tin tôn giáo nào, và tôi biết điều đó chẳng hay ho gì – con người luôn cần có một cõi nào đó trong tinh thần để hướng họ về cái thiện và ngăn họ làm điều xấu. Không có đức tin thật ra cũng là một sự bất hạnh, nhất là ở hoàn cảnh Việt Nam thời loạn như bây giờ.

Nhưng cũng là vì hoàn cảnh Việt Nam, mà việc thực hành một tôn giáo nào đó trở thành… phức tạp. Chùa nào lớn cũng có chi bộ, có an ninh “hướng dẫn” sinh hoạt. Nhà thờ nào lớn cũng vậy thôi: An ninh chìm nổi lảng vảng tối ngày, camera, thiết bị nghe trộm giăng khắp nơi.

Bên cạnh đó, không thể không kể đến sự hoạt động tích cực của tuyên giáo. Cho đến năm 2003, chính quyền vẫn nhất quán xem tôn giáo như kẻ thù; các sách giáo khoa dạy trong nhà trường đều gọi “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”. Từ năm 2003, với Nghị quyết 25-NQ/TW ngày 12/3, đảng Cộng sản mới dịu giọng hơn một chút, bớt hằn thù một chút, chỉ nói “tôn giáo là vấn đề còn tồn tại lâu dài”. Ngay cả câu ấy vẫn hàm ý “tôn giáo là vấn đề đấy nhé, mà đã là vấn đề thì trước sau cũng phải xử lý. Chẳng qua là bọn tao buộc phải chấp nhận chúng mày thôi”.

Chế độ cai trị của cộng sản luôn có đóng góp to lớn của đội ngũ tuyên truyền viên, dư luận viên. Trong hàng chục năm qua, đội ngũ này đã lập thành tích đáng kể trong việc phá hoại về căn bản uy tín của tôn giáo và cách ly, cô lập các cộng đồng tôn giáo với xã hội, nhất là các “đạo của Tây”. Bộ máy tuyên truyền luôn tác động, nhào nặn để dân thường nghĩ về Công giáo, Tin Lành như những tôn giáo vọng ngoại, mất gốc, thời xưa là theo chân thực dân đế quốc bán nước, thời nay là cực đoan, ôm chân Vatican, gây rối…

Cho đến bây giờ, bên lương vẫn nhìn vào bên đạo với ánh mắt e dè, kỳ thị, cảnh giác, hoặc đầy ác cảm.

Cuối năm vừa qua, khi chúng tôi vào Kỳ Anh (Hà Tĩnh) để ghi hình một phóng sự về thảm họa Formosa, phỏng vấn bà con xóm đạo thì không sao nhưng hễ hỏi “nhầm” một người dân ở xóm lương thì ngay lập tức sẽ nhận lại những câu hỏi đầy cảnh giác: “Làm gì đấy?”, “Phóng viên báo nào đấy?”, “Thẻ nhà báo đâu?”.

Chúng tôi hiểu ngay là họ đã được chính quyền địa phương ở đây “giáo dục”, “nắm tư tưởng”, “quán triệt” kỹ lưỡng từ trước rồi. Hẳn là vẫn luận điệu: Hiện nay thế lực thù địch đang lợi dụng sự cố môi trường ở miền Trung để kích động gây rối, lật đổ chế độ, yêu cầu bà con nâng cao cảnh giác, thấy người lạ phải chủ động điều tra và/hoặc báo cáo ngay…

Đảng Cộng sản vẫn luôn như thế. Cho dù họ cũng phải ăn cá như ai, họ cũng phải hít thở không khí và du lịch biển như ai, chưa nói là ngân sách nhà nước (của họ) còn trông chờ vào kinh tế biển, nhưng họ vẫn không tiếc tiền cho công tác chống phá tôn giáo và tuyên truyền, định hướng dư luận, để dư luận phải nghĩ rằng thảm họa biển miền Trung chỉ là một “sự cố môi trường” mà thôi, và những người đi đấu tranh đuổi Formosa thì chỉ là một bộ phận “dân Công giáo” bất mãn, gây rối.

Bôi nhọ tôn giáo, chia rẽ lòng người, phá hoại xã hội dân sự là nghề của đảng rồi.

Tôi cũng đã từng giữ một cái nhìn không mấy thiện cảm với Công giáo và Tin Lành, như hàng triệu người dân khác bị tuyên truyền. Bên cạnh đó, tôi cũng gặp phải một vài người có đạo mà khá bất dung, khiến tôi đã e ngại càng e ngại hơn.

Nhưng muốn bớt sợ ai đó, ta chỉ có một cách là phải hiểu họ hơn. Sự thấu hiểu sẽ mở đường cho cảm thông.

Sau vài năm, tôi cũng không còn cảm giác e dè, sợ sệt khi tiếp xúc với bà con Công giáo, Tin Lành nói riêng và những người có đức tin nói chung nữa.

Và tôi cũng đã được gặp những người mà sau đó, tôi rất yêu mến họ.

Như linh mục Nguyễn Đình Thục.


* * *

Cha Thục

Mùa đông năm 2016, khi truyền thông vẫn dồn dập như bão táp với từng sự kiện trôi qua mỗi ngày, và vụ Formosa tưởng như đã chìm xuồng, cha Thục lại một mình lặn lội bên Đài Loan, tìm hiểu về Formosa và vận động giới chức Đài lưu tâm đến thảm họa biển Việt Nam, trong đó Formosa là thủ phạm chính.

Có lần cha gửi cho tôi hình cha chụp một tấm danh thiếp của một quan chức Đài Loan nào đó; cha hỏi tôi chức vụ của ông này là gì, để cha tìm gặp ông ta.

Đó là một nhân vật ở Bộ Ngoại giao Đài Loan. Và cha lúc đó chỉ có một mình ở Đài Bắc, không ai giúp đỡ phiên dịch, mà lại đang cần gấp, nên mới gọi về hỏi tôi.

Tôi thấy muốn khóc: “Trời ơi, xã hội gì mà loạn lạc đến một ông cha xứ cũng phải đi tìm đường cứu dân thế này?”.

Lúc ấy, tự nhiên tôi nhớ đến bác Trần Văn Huỳnh, cha của anh Trần Huỳnh Duy Thức, đi vận động quốc tế cho con trai. Bác mặc áo khoác đen, đi lù rù trong trời tuyết. Tôi không bao giờ quên hình ảnh ông già 77 tuổi loay hoay với chiếc valy, đứng lọt thỏm giữa sân bay rộng mênh mông, sau khi chia tay mọi người ở Mỹ để một mình qua Úc. Trên phi trường nườm nượp người qua lại, trông bác đã nhỏ bé lại càng nhỏ bé thêm, và cô đơn.

Tôi cũng nhớ đến một nhà sư vừa chạy thoát khỏi vụ Bát Nhã. Tôi nhớ cảnh ông ngồi đệm đàn guitar bài "Đưa em tìm động hoa vàng" cho một nhóm thanh niên hát, trong đó có tôi. Một vị hòa thượng đệm đàn cho thanh niên hát tình ca gần suốt đêm, hết sức giản dị và đời thường, dù chính ông chỉ vừa thoát khỏi bàn tay đàn áp của chính quyền cách đó chưa lâu. Với tôi, hình ảnh ấy quá đẹp và thánh thiện, đủ xóa sạch mọi nghi kỵ của tôi về Phật giáo "Làng Mai", "Bát Nhã"...

Tôi cũng không bao giờ quên hình ảnh cha Thục, cha Lai, cha Nam, cha Thanh, và nhiều linh mục khác, trong những cuộc trò chuyện, luôn bồn chồn lo nghĩ về thảm họa môi trường, về cuộc sống, sinh kế và cả tinh thần của hàng trăm nghìn người dân “hậu Formosa”.

Tôi như hình dung ra và sẽ không thể quên hình ảnh cha Thục, cha Hùng lặn lội trên xứ người giữa mùa đông giá rét, tìm đủ mọi cách để cảnh báo giới chức Đài Loan về thảm họa mà Formosa đang gây ra ở Việt Nam.

Ảnh: Bạch Hồng Quyền
Cũng như hôm nay, 14/2/2017, là hình ảnh cha Thục mặc áo chức màu đen, dẫn đầu đoàn người tuần hành từ Nghệ An ra Hà Tĩnh. Vẫn là gương mặt hiền khô ấy, cái nhìn đầy ưu tư ấy. Nếu ở một thể chế khác, một xã hội khác, cha đã có thể chỉ lo việc đạo, chăm lo tinh thần cho con dân xứ mình, chứ đâu phải nặng lòng với những vấn đề môi trường, thực phẩm, sinh kế của dân… như thế này.

Đừng nghĩ rằng các linh mục thích “đội lốt tôn giáo để làm chính trị”, hay là “ăn tiền hải ngoại” để kích động dân làm loạn. Đẻ ra các luận điệu ấy là những kẻ đê tiện, còn nếu tin vào các luận điệu ấy, thì bạn không chỉ đê tiện mà còn ngu xuẩn; bạn không hiểu gì về tôn giáo và rõ ràng là cũng không có ý định tìm hiểu.

Chỉ xin bạn nhớ điều này: Sức mạnh bạo lực của một chính quyền không thể ngăn chặn cái ác, nhưng tôn giáo thì có thể. Chính vì thế, một chính quyền khôn ngoan phải biết khuyến khích tôn giáo hoặc đơn giản là để yên cho tôn giáo chăm sóc đời sống tâm linh và đạo đức của dân chúng.

Ngược lại, một nhà nước đàn áp tôn giáo, chia rẽ nhân dân, thì chắc chắn nó sẽ sụp đổ và đội ngũ lãnh đạo của nó phải trả nghiệp rất thảm khốc.

----------

Bài liên quan: