Wednesday, 25 July 2012

Chết vì tay Trung Quốc: “Sát thủ” hacker đỏ

Trung Quốc đã xây dựng được một đội “hacker đỏ” chuyên nghiệp, mối đe dọa có sức phá hoại tương đương một mạng lưới điệp viên dày đặc, mà xét cho cùng có khi lại hiệu quả hơn sử dụng điệp viên. Bởi lẽ thay vì phải chi hàng tỉ đô la cho việc đào tạo gián điệp, mua sắm trang thiết bị kỹ thuật cao thì hoàn toàn có thể làm mọi thứ chỉ qua mạng.

Hai tác giả Peter Navarro và Greg Autry của Death by China đưa ra một loạt lời buộc tội: “Những “tin tặc đỏ” đã xâm nhập vào mạng của NASA, Lầu Năm Góc, Ngân hàng Thế giới; tấn công Phòng Công nghiệp và An ninh trực thuộc Bộ Thương mại Mỹ dữ dội đến mức cơ quan này phải phá bỏ hàng trăm máy tính; xóa sạch mọi ổ cứng của dự án Máy bay chiến đấu Lockheed Martin F-35; và gần như ném bom rải thảm hệ thống kiểm soát không lưu của Không lực Hoa Kỳ”.

Trong chiến dịch tranh cử tổng thống Mỹ năm 2008, hacker đỏ của Bắc Kinh còn đột nhập vào máy chủ email của cả phe Obama lẫn phe McCain và Nhà Trắng. “Tại một trong những sự vụ trơ trẽn nhất trong lễ tân ngoại giao, máy tính của bộ trưởng Thương mại Mỹ và một số nhân viên đã bị đánh cắp, bị cài đầy phần mềm gián điệp, nhân một chuyến công du của bộ trưởng tới Bắc Kinh”.

Cuốn sách đưa ra những lời buộc tội có thể khiến người đọc… ù tai. Chẳng hạn, nói về một chiêu thức hành nghề của tin tặc thời hiện đại: Thời xưa, ngành tình báo phải sử dụng tới mỹ nhân kế như Mata Hari để moi thông tin từ “đối tác”. Thời nay, “ngoài những gái điếm và các phòng khách sạn đầy “bọ” (thiết bị nghe trộm - PV) ở Thượng Hải, các điệp viên Trung Quốc còn tặng cho con mồi của họ thẻ nhớ đầy virus, thậm chí cả camera kỹ thuật số. Theo Cục Tình báo MI5 của Anh, một khi được gắn vào máy tính của nạn nhân, những thiết bị này sẽ cài đặt ngay phần mềm cho phép hacker giành quyền kiểm soát”.

Làm hacker cũng giống một ngôi sao nhạc rock

Death by China đưa ra một số lý giải, có lẽ khá đơn giản, về mục tiêu hành động của tin tặc Trung Quốc. Cuốn sách cho rằng hacker đỏ muốn làm gián đoạn hoạt động của các trang web ở phương Tây, bằng cách đánh sập hoặc tấn công từ chối dịch vụ. Ngoài ý muốn phá hoại, hacker đỏ cũng nhắm đến việc ăn cắp những thông tin có giá trị như số thẻ tín dụng, thông tin cá nhân hoặc hơn thế: Bí quyết công nghệ, bí mật thương mại, hồ sơ mời thầu và dự thầu, tình hình tài chính của một công ty nào đó, rồi thông tin về vũ khí, quân sự.

Nhưng đó mới là bề nổi, tức là mục tiêu mà các hacker hướng đến. Còn bản chất của việc họ hành động như thế lại là chuyện khác. Navarro và Autry trích dẫn một trao đổi trên diễn đàn hội thảo về an ninh thông tin của hacker Trung Quốc. Hỏi: “Khi nào chúng ta tiến hành hack?”. Đáp: “Nếu đó là vấn đề có ảnh hưởng tới chúng ta trên bình diện quốc tế, thì khi ấy chúng ta sẽ huy động các thành viên tổ chức tấn công”.

Câu trả lời hé lộ một phần nguyên nhân của hiện tượng tin tặc: Đó là tinh thần dân tộc bị đẩy tới mức cực đoan ở một bộ phận người dân Trung Hoa. Death by China trích lời một chuyên gia về tin tặc Trung Quốc, ông Scott Henderson, nói rằng ở nước này, làm hacker “cũng giống như làm ngôi sao nhạc rock”, đó là “một sự nghiệp mà có đến một phần ba trẻ em tuổi đi học ở Trung Quốc mơ ước”.

Có bàn tay chính quyền phía sau?

Phần gây tranh cãi nhất của chương này có lẽ nằm ở những khẳng định rằng chính quyền Trung Quốc đứng sau các chiến dịch tấn công trên mạng. Lập luận của hai tác giả cuốn sách là: Không thể có chuyện hacker hoạt động mà không có bàn tay dẫn dắt của Bắc Kinh, nhất là khi chính quyền Trung Quốc vốn có chế độ kiểm soát Internet ngặt nghèo nhất thế giới. Không hacker nào có thể thoát khỏi tay chính quyền một khi cơ quan an ninh và cảnh sát đã muốn bắt và xử lý. Ví dụ một hacker ở tỉnh Hồ Bắc can tội đột nhập vào website của cơ quan nhà nước và thay ảnh chân dung một quan chức bằng ảnh cô gái mặc bikini. Người này nhanh chóng bị bắt và kết án 1,5 năm tù. Vụ việc đã được đăng tải trên tờ Nhân Dân Nhật Báo.

Trong khi đó thì rất nhiều vụ tin tặc nghiêm trọng khác lại không được điều tra. Navarro và Autry dẫn ra một loạt trường hợp hacker Trung Quốc tấn công mạng nước ngoài và hành động của họ hoàn toàn có thể làm phương hại quan hệ ngoại giao giữa Trung Quốc và nước nạn nhân, vậy mà họ vẫn không bị trừng trị. Ví dụ như khi Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi đi thăm ngôi đền chiến tranh Yasukuni, hacker Trung Quốc đã xóa website của ngôi đền này, ghi đè lên đó hàng chữ: “Gái đái lên toilet Yasukuni”. Còn khi Liên hoan Phim Melbourne ở Úc chiếu phim tài liệu về một nhà lãnh đạo người Duy Ngô Nhĩ, hacker Trung Quốc đánh phá website của liên hoan phim dữ dội đến mức ban tổ chức không bán được vé qua mạng. Một số nhóm tin tặc như Liên đoàn Hắc khách Trung Quốc (China Hacker Union) được cho tồn tại và hoạt động công khai, thậm chí mở cả văn phòng.

Bạn đọc có thể thấy lập luận buộc tội của Death by China chưa đủ thuyết phục, vì dù sao đi nữa, “án tại hồ sơ” song cuốn sách lại không chỉ ra được một bằng chứng mạnh mẽ nào cho thấy mối liên hệ giữa chính quyền và hacker Trung Quốc, chẳng hạn một chủ trương bằng văn bản chính sách…

Tuy vậy, việc cảnh giác với những tin tặc bị kích động bởi chủ nghĩa dân tộc cực đoan vẫn luôn là điều cần thiết, nhất là khi Việt Nam có nguy cơ là đích ngắm của tội phạm mạng: Năm 2010, một báo cáo của Công ty An ninh mạng McAfee cho thấy 58% tên miền cấp 1 .vn đã trở thành mục tiêu của hacker. Trong khoảng hai ngày 8 và 9-6-2011, hàng loạt website ở Việt Nam đã bị hacker Trung Quốc đánh phá, trong đó có các trang web của Trung tâm Dữ liệu Hoàng Sa (HSO), Anh Ba Sàm, và Trung tâm biên phiên dịch quốc gia trực thuộc Bộ Ngoại giao Việt Nam. Tháng 8-2011, McAfee xác định “cơ quan chính phủ Việt Nam nằm trong số 72 tổ chức chính phủ trên thế giới là mục tiêu của đợt tấn công lớn nhất mà tin tặc tiến hành để lấy dữ liệu mạng, được McAfee phát hiện”.

Người phát ngôn của Bộ Ngoại giao khi đó, bà Nguyễn Phương Nga, cho biết: “Chúng tôi rất quan tâm đến những thông tin mà McAfee đưa ra. (…) Việt Nam đã, đang và sẽ nỗ lực hợp tác cùng cộng đồng quốc tế phòng, chống các hành vi phá hoại an ninh mạng”.

* * *

Tháng 5-1999, trong chiến dịch NATO tấn công Nam Tư, máy bay Mỹ ném bom trúng Đại sứ quán Trung Quốc tại Belgrade, làm chết ba công dân Trung Hoa. Hàng ngàn email từ Trung Quốc đã “dội bom” làm sập website của Nhà Trắng. Tin tặc cũng chiếm website của Đại sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh, chèn lên trang chủ dòng chữ “đả đảo bọn man rợ”. Tháng 3-2008, hãng tin CNN (Mỹ) đưa tin về bạo loạn ở Tây Tạng. Ngay sau đó website của CNN bị phá và ghi đè dòng chữ “Tây Tạng đã, đang và sẽ luôn luôn là một phần của Trung Quốc”. (Wikipedia)


Wednesday, 18 July 2012

Chết vì tay Trung Quốc: Chủ nghĩa thực dân Đại Hán

Cuốn sách Death by China (Chết vì tay Trung Quốc) dành riêng một chương để nói về một đại chiến lược của Trung Quốc nhằm khai thác tài nguyên của các nước nhỏ, xuất khẩu nhân công ồ ạt sang các nước này và tiến tới biến họ thành “thuộc địa kiểu mới”.

Các tác giả cho rằng đây là một thứ chủ nghĩa thực dân mới, mạnh mẽ và quyết liệt hơn chủ nghĩa thực dân cũ của phương Tây nhiều.Chiến lược đó được gọi (không rõ khởi nguồn từ ai và vào lúc nào) bằng cái tên “Thả mồi và lật lọng” (bait and switch).

Thả mồi và lật lọng

Peter Navarro và Greg Autry viết: Chiến lược thả mồi và lật lọng của Trung Quốc luôn bắt đầu theo cùng một cách: Chủ tịch, hoặc thủ tướng, hoặc bộ trưởng thương mại nước này đến thăm thủ đô của một nước nào đó rất xa, như Djibouti, Niger hay Somalia chẳng hạn. Ông ta đến đó và vẫy vẫy một cuốn sổ séc lớn, chào mời hứa hẹn những khoản vay hào phóng, lãi suất thấp, để xây dựng cơ sở hạ tầng dân sự hoặc quân sự của nước sở tại - bất kể đó là đường sá, cảng biển, hay quốc lộ, có ích lợi, hay một cung điện xa hoa lãng phí cho nhà độc tài đang cầm quyền, hay là súng AK-47s để kìm giữ những người dân cứng đầu cứng cổ dưới gót giày đàn áp.

Và để đổi lấy sự hào phóng của Trung Quốc, tất cả những gì đất nước chớm thuộc địa kia phải làm gồm hai việc. Thứ nhất, họ phải trao quyền kiểm soát tài nguyên thiên nhiên cho Trung Quốc để đổi lấy khoản vay. Từ đó, Trung Quốc phong tỏa luôn nguồn tài nguyên của đất nước, phục vụ mục đích sử dụng riêng. Thứ hai, họ phải mở cửa thị trường cho tất cả những thành phẩm mà các nhà máy, công xưởng ở Trung Quốc sẽ sản xuất bằng nguyên vật liệu thô mà xứ thuộc địa kia cung cấp. Từ đó Trung Quốc phong tỏa luôn một thị trường mới nổi.

Theo hai tác giả, chiến lược “Thả mồi và lật lọng” này đang được Trung Quốc tiến hành trên toàn thế giới. Ví dụ, CHDC Congo đã “tặng” cho Trung Quốc kho tài nguyên đồng đỏ trị giá hàng tỉ đô la để nhận về dự án xây dựng cơ sở hạ tầng. Ghana đổi ca cao lấy cơ sở hạ tầng. Nigeria đổi khí đốt lấy nhà máy điện, v.v. Song đáng tiếc là chẳng nước nào trong số này đạt được mục đích thịnh vượng.

Khát tài nguyên

Như nhiều tài liệu khác bàn về chiến lược của Trung Quốc “thu mua” tài nguyên trên toàn cầu, Death by China cũng cho rằng một trong các nguyên nhân dẫn đến việc Trung Quốc kiếm tìm tài nguyên khắp nơi là do nhu cầu tiêu thụ khổng lồ của họ. Cuốn sách cho biết Trung Quốc là nơi tiêu thụ: một nửa lượng xi măng của thế giới, gần nửa lượng thép, một phần ba lượng đồng đỏ, một phần tư lượng nhôm, khối lượng cực lớn crôm, côban, liti, kẽm, gỗ v.v.

Tuy nhiên, vấn đề là không phải nước nào khát tài nguyên cũng đều hành xử như vậy. Hai tác giả nhận xét rằng, trong khi phần lớn các quốc gia trên thế giới đều xuất nhập khẩu tài nguyên thông qua hệ thống giá cả trên thị trường quốc tế, tức là đều dựa vào thị trường tự do để phân phối (hai ông gọi đây là “chủ nghĩa tư bản hợp tác”), thì Bắc Kinh thực thi “chủ nghĩa tư bản thực dân” trên khắp châu Phi, châu Mỹ Latin và nhiều nước châu Á. Death by China đưa ra một định nghĩa về chủ nghĩa thực dân Đại Hán này: “Nắm quyền kiểm soát tài nguyên thiên nhiên - tài sản thật sự của quốc gia thuộc địa. Xuất khẩu tài nguyên đó về Trung Quốc, thay vì để cho nước sở tại sử dụng tài nguyên ấy để phát triển kinh tế. Sau đó tái xuất nguyên vật liệu thô ấy trở lại nước sở tại nhưng lần này dưới hình thức thành phẩm, hàng hóa. Toàn bộ quá trình tạo ra công ăn việc làm ở Trung Hoa lục địa, gia tăng lợi nhuận cho các công ty của Trung Hoa lục địa và kéo dài thêm dòng người thất nghiệp ở nước thuộc địa. Ở các nước thuộc địa kiểu mới đó, chỉ còn lại những công việc nguy hiểm nhất, độc hại nhất, nghèo nhất, trong những ngành công nghiệp bóc lột, còn những việc làm có giá trị cao thì đã chuyển hết sang Quảng Châu, Thành Đô hay Thượng Hải”.

“Biển người” phủ khắp lục địa Đen

Một khía cạnh khác của “chủ nghĩa thực dân Đại Hán” là xuất khẩu nhân công. Một dân biểu Ai Cập, ông Mustafa al-Gindi, từng nói: “Sự thực là đến châu Phi, Trung Quốc không chỉ đem theo kỹ sư và nhà khoa học. Họ đến đây mang theo rất nhiều nông dân. Đó là chủ nghĩa thực dân kiểu mới. Không còn đạo đức, luân lý, giá trị gì nữa cả”.

Theo Death by China, sau khi đã “thả mồi”, tức là cho nước thuộc địa vay tiền để xây dựng cơ sở hạ tầng, Trung Quốc sẽ “lật lọng” bằng nhiều hình thức, trong đó có việc xuất khẩu nhân công sang nước sở tại để tiến hành công trình xây dựng đó. Các tác giả trích dẫn một cuốn sách có tựa đề China Safari (Cuộc đi săn của người Trung Quốc), nói rằng: “Người Trung Quốc sẽ hút dầu và bơm dầu ấy vào những đường ống do Trung Quốc sản xuất và canh gác, đến một cảng biển do Trung Quốc xây. Tại đây, dầu được đưa vào các bồn của người Trung Quốc và chở về Trung Quốc. Nhân công Trung Quốc sẽ xây cầu đường, đê đập, buộc hàng chục ngàn dân sở tại phải di dời. Người Trung Quốc sẽ trồng trọt, chăn nuôi, để những người dân sở tại sẽ chỉ ăn đồ ăn Trung Quốc, rau cỏ Trung Quốc, với các nguyên vật liệu nhập khẩu từ Trung Quốc...”.

Thực ra, những “giai thoại”, “huyền thoại” về chủ nghĩa thực dân kiểu Trung Hoa đã được nhắc đến từ lâu. Tháng 6-2011, trong một cuộc trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên tùy viên quân sự Việt Nam tại Trung Quốc nửa đầu thập niên 1980, cũng nhận định: “Họ tiến hành một thứ chủ nghĩa bành trướng hiện đại, chủ nghĩa thực dân mới. Cả thế giới hiện nay không nước nào đi xâm lược, lấy đất của nước khác. Nói đúng hơn, họ có thể xâm chiếm nước khác bằng kinh tế, văn hóa, như Mỹ chẳng hạn nhưng không có nhu cầu lấy đất. Còn Trung Quốc thì vừa lấy đất vừa di dân để chiếm và giữ”, “Cứ nơi nào họ sang làm giúp ta thì họ rào lại, coi như lãnh địa của họ, không ai được vào nữa. Họ nhập hàng hóa, từ đồ ăn thức uống, bát đĩa tới cái... hố xí bệt đều là từ Trung Quốc, không dùng hàng Việt Nam”.

Nguyên do của tình trạng này được hai tác giả của Death by China lý giải: Bắc Kinh cần phải xuất khẩu một cách có hệ thống hàng triệu nhân công lao động sang “các nhà nước vệ tinh” ở châu Phi, châu Mỹ Latin, châu Á, để giảm áp lực của nạn “nhân mãn”.

Một cách thẳng thừng, Peter Navarro và Greg Autry so sánh việc Trung Quốc sử dụng chiến lược thực dân “Thả mồi và lật lọng” trên khắp thế giới cũng giống như việc thắt một thòng lọng quanh cổ tất cả các nền kinh tế, kể cả Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc. Hai ông cho rằng chiếc thòng lọng này sẽ siết lại nếu Mỹ (và các đồng minh, đối tác) không sớm hành động quyết liệt để ngăn chặn. Có lẽ vì tinh thần ấy mà cuốn Death by China mang cái tên “dữ dằn” là Chết vì tay Trung Quốc - Đối đầu với con rồng - Lời kêu gọi hành động toàn cầu.

* * *

Hiện nay, Trung Quốc là đối tác thương mại lớn thứ hai của châu Phi, sau Mỹ. Tính đến tháng 8-2007, có khoảng 750.000 công dân Trung Quốc ở lại sau khi đã hết thời gian làm việc tại châu Phi, hơn 700 công ty Trung Quốc làm ăn ở 49 nước châu Phi.

Trung Quốc gom nhặt tài nguyên thiên nhiên của châu Phi - dầu hỏa, khoáng sản quý - để nuôi nền kinh tế đang mở rộng, cũng như tìm kiếm thị trường mới cho các doanh nghiệp đang lớn của họ. Năm 2006, thương mại hai chiều tăng tới 50 tỉ USD. Không phải mọi giao dịch đều liên quan đến trao đổi tiền tệ trực tiếp: Năm 2007, chính phủ Trung Quốc và Congo đã đạt thỏa thuận, theo đó những công ty quốc doanh Trung Hoa sẽ tham gia những dự án xây dựng cơ sở hạ tầng cho Congo, đổi lấy một lượng lớn nguyên vật liệu khai thác từ các mỏ đồng của Congo. (Wikipedia)



Thursday, 5 July 2012

Ngụy biện chồng lên ngụy biện

Trong vài ngày qua, trên cộng đồng Facebook có lan truyền một bài viết với nội dung chỉ trích việc phát động biểu tình là “lợi dụng lòng yêu nước”. Xét thấy bài viết phạm quá nhiều lỗi lập luận, tôi xin được dành entry sau đây để phân tích về sự ngụy biện, phi logic của nó.

Điều đầu tiên và thông điệp cuối cùng tôi muốn nói trong khuôn khổ entry này, là sự cần thiết phải tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do biểu đạt của công dân. Do vậy, mặc dù entry nhằm chỉ ra các lỗi ngụy biện của tác giả, nhưng tôi hết sức tôn trọng quyền của tác giả được bày tỏ ý kiến về các cuộc biểu tình ở Việt Nam. Cũng cần nói thêm, không phải không có những điều tôi đồng ý và chia sẻ quan điểm với tác giả, nhưng đó là chuyện nằm ngoài bài viết dưới đây.


* * *

“Thứ nhất, động thái khiêu khích vừa rồi của Trung Quốc nằm trong chuỗi các động thái với mưu đồ độc chiếm biển Đông và “nắn gân” các nước có tranh chấp rất tinh vi. Tuy nhiên, cách thể hiện sự khiêu khích của Trung Quốc chỉ là những lời tuyên bố. Theo thông lệ Quốc tế, hành xử của Việt Nam trước sự khiêu khích này không thể nào khác hơn ngoài những tuyên bố phản đối của các Tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và Nhà nước ta đã thực hiện đúng với những gì cần làm”.

Tất nhiên là trong những sự biến vừa qua, (thật may mắn mà) sự khiêu khích của Trung Quốc (mới) chỉ là những lời tuyên bố. Và chúng ta cũng cần hiểu là, từ trước đến nay, ngay cả khi Trung Quốc có những hành động khác xâm hại đến lợi ích Việt Nam, mà vì một lý do nào đó mà truyền thông Việt Nam không đưa tin, thì chúng ta cũng đâu có biết. Sự thực rất có thể là nghiêm trọng hơn dư luận tưởng nhiều, và ngược lại, cũng có thể là nhẹ nhàng hơn nhiều – đến nỗi chúng ta rất khó có thể khẳng định “sự khiêu khích của Trung Quốc chỉ là những lời tuyên bố”. Khi không được cung cấp thông tin đầy đủ, minh bạch, mọi khẳng định về động thái của Nhà nước (dù là Việt Nam hay Trung Quốc) đều có thể là võ đoán.

Trên thực tế, Trung Quốc đã từng có những hành động thật sự xâm hại đến lợi ích của Việt Nam trên Biển Đông, chứ không dừng lại chỉ ở tuyên bố. Cắt cáp tàu Bình Minh 2, gây rối cáp tàu Viking 2, bắt giữ ngư dân Việt Nam… là các ví dụ rõ ràng.

Biểu tình là do người dân muốn thể hiện ý nguyện yêu nước của mình trước hiểm họa lãnh thổ bị xâm phạm. Ở đây chưa cần bàn là Nhà nước đã làm kịp thời tất cả những gì cần thiết về phía Nhà nước hay chưa, mà đơn thuần là một số người dân muốn thể hiện quan điểm phía mình. Hai chuyện này độc lập với nhau, và có thể thực hiện song song, không ai ngáng chân ai cả.


“Trung Quốc tuyên bố lập "thành phố Tam Sa" ở cấp vùng (Trung Quốc từng có ý định lập thành phố Tam Sa ở cấp huyện, nhưng sau đó hủy bỏ quyết định trắn trợn này) nhằm quản lý các quần đảo trên Biển Đông, ngay lập tức, lãnh đạo Khánh Hòa và Đà Nẵng lên tiếng phản đối Trung Quốc, khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là bộ phận không tách rời của Việt Nam. Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng kịch liệt lên án việc Trung Quốc thành lập cái gọi là "thành phố Tam Sa"”.

Xin tác giả lưu ý: Trung Quốc là một quốc gia, tuyên bố thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” là tuyên bố của một chính quyền trung ương. Còn Khánh Hòa và Đà Nẵng là hai tỉnh của Việt Nam. Tuyên bố của hai địa phương này, xét về mặt quốc tế, là không đủ sức đại diện, không “ngang tầm” chính quyền Trung Quốc. Chỉ có Bộ Ngoại giao (trở lên) mới có tiếng nói tương đương đối phương, ở trường hợp này. Ngoài ra, còn một cách khác là nhân dân Việt Nam cùng thể hiện ý chí phản đối, chẳng hạn thông qua việc biểu tình.


“Như vậy là đã rõ, hành động của Trung Quốc cũng chỉ là hành động khiêu khích bằng tuyên bố của 1 đơn vị kinh tế của Trung Quốc”.

Nhưng đơn vị kinh tế đó là một doanh nghiệp nhà nước, chứ không phải là một công ty tư nhân. Trong mô hình kinh tế của Trung Quốc và Việt Nam thì doanh nghiệp nhà nước bao giờ cũng gánh vác nhiệm vụ chính trị và chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước. Tuyên bố của “một đơn vị kinh tế” trong trường hợp này không đơn giản chỉ là của một công ty. Bản thân ông Đỗ Văn Hậu, Tổng Giám đốc của PetroVietnam, cũng đã khẳng định: “Việc làm này chắc chắn là có sự tham gia, đồng ý của Chính phủ Trung Quốc”.


“Phản ứng của Chính phủ Việt Nam là hoàn toàn kịp thời, đúng quy định và hiện nay cũng chẳng có và sẽ chẳng có bất cứ công ty nước ngoài nào nhận lời mời thầu phi pháp trên của Trung Quốc”.

Có thể tác giả đúng mà cũng có thể sai hoàn toàn – lập luận như thế này đơn giản là không đủ thuyết phục. Nếu trình bày như tác giả, rằng “sẽ chẳng có bất cứ công ty nước ngoài nào nhận lời mời thầu phi pháp trên của Trung Quốc”, thì chỉ là một khẳng định chủ quan. Thêm nữa, cứ giả sử là sẽ không có công ty nào nhận lời mời thầu của Trung Quốc, thì cũng lấy đâu ra căn cứ để nhận định họ không nhận lời vì họ cho như thế là phi pháp hoặc vì họ thấy “Chính phủ Việt Nam phản ứng hoàn toàn kịp thời, đúng quy định”?

Nếu muốn chứng minh, có lẽ tác giả nên sử dụng những lập luận vững chắc hơn, ví dụ chỉ ra rằng trong lịch sử dầu khí quốc tế, các công ty không có tiền lệ khai thác ở những vùng còn trong trạng thái tranh chấp. Và cũng cần phải xác định rõ rằng, ngay cả việc Trung Quốc biến một địa điểm hoàn toàn nằm trong thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam thành “vùng tranh chấp”, nếu chuyện này xảy ra, cũng là một thành công của Trung Quốc, và rất nguy hiểm cho Việt Nam. Giả sử hậu quả xảy ra sau hành động mời thầu 9 lô dầu của Trung Quốc, là nhiều công ty dầu khí quốc tế tưởng rằng khu vực này là vùng biển tranh chấp giữa Việt Nam với Trung Quốc, thì lúc đó, ta có thể nói rằng tác giả đã “mất cảnh giác” không?

Không có gì đảm bảo rằng “sẽ chẳng có bất cứ công ty nước ngoài nào nhận lời mời thầu phi pháp trên của Trung Quốc”. Đó là chuyện của tương lai, không thể khẳng định vô căn cứ như vậy. Muốn đảm bảo được điều đó, ít nhất cũng cần phản ứng đồng bộ của Nhà nước và nhân dân, mà biểu tình như một hình thức “ngoại giao nhân dân” là rất quan trọng (đánh động dư luận trong nước, quốc tế - xem thêm những phản ứng của Trung Quốc về vụ này).

Mặt khác, như đã nhiều lần được chứng tỏ, phản ứng của Nhà nước tỏ ra chậm hơn nhiều so với phản ứng của công luận (nhân dân), và phản ứng của nhân dân khiến Nhà nước có tư thế hơn trên bàn đàm phán. Đó là sự cần thiết của “ngoại giao nhân dân”.


“Hành động xuống đường phản đối có cần thiết hay không? Những người yêu nước xuống đường chung với những gương mặt “thích biểu tình”, thích quấy rối và nhiều gương mặt “có vấn đề” với Chính quyền có đạt được đúng mục đích ban đầu của lời kêu gọi hay là mục đích khác? Đó chính là sự lợi dụng lòng yêu nước”.

Đây không gọi là một lập luận, vì nó chủ quan, chụp mũ, và tất nhiên, hoàn toàn vô căn cứ. Tác giả sử dụng bằng chứng nào để cho rằng tồn tại những gương mặt thích biểu tình, thích quấy rối? Cứ giả sử rằng có những nhân vật như thế, thì tác giả cũng phải làm một nhiệm vụ rất nặng nề: Chứng minh. Bằng chứng, bằng chứng và bằng chứng.

Gương mặt nào “có vấn đề” hay quấy rối, vi phạm pháp luật thì chính quyền cứ việc xử lý họ (nếu họ có hành vi như vậy). Không thể đưa ra một tình huống giả định để đánh giá xấu một hành động được tiến hành với mục đích tốt.

Ở đây tác giả cũng cần thận trọng để tránh lỗi ngụy biện “Spot Light” (Ánh đèn sân khấu) khi mặc định rằng tất cả các thành viên của một nhóm nào đó đều giống như những thành viên thu hút sự chú ý của truyền thông nhất. Tránh lỗi “Slippery Slope” (Cái dốc trơn) khi suy bừa từ một hiện tượng này sang một hiện tượng khác, không kèm theo căn cứ nào.

Cũng cần phải thừa nhận rằng, mọi cuộc biểu tình đều khó mà có cái gọi là “mục đích thuần nhất, trăm người như một”. Bản chất của xã hội loài người là đa nguyên, hay diễn đạt một cách nhẹ nhàng hơn, đa dạng về tinh thần. Không ai giống ai cả, và trong 100 người cùng tham gia một cuộc biểu tình với mục đích xác định trước là A, vẫn có thể có 10-20 người ngoài A còn có thêm mục đích B, hoặc chỉ có mục đích B. Phần đông đi biểu tình vì tinh thần dân tộc, vì yêu nước, vì ghét bá quyền Trung Quốc. Nhưng vẫn có thiểu số đi vì những lý do khác: đi để chụp ảnh, đi để quan sát, trải nghiệm, thậm chí không loại trừ việc đi… cho vui, mấy khi ở Việt Nam có dịp tụ tập đông người.

Và chúng ta đừng quên rằng cũng có những người muốn thu hút sự chú ý của dư luận đến vấn đề riêng của mình hoặc của tầng lớp nào đó trong xã hội, mà họ không có điều kiện lên tiếng ở những nơi khác. Do đó, họ buộc lòng phải tìm đến một sự kiện gây chú ý, để làm cho tiếng nói của mình được lắng nghe. Chúng ta có thể không thích cách họ “tận dụng”, “lợi dụng” biểu tình cho mục đích riêng, lợi ích riêng. Nhưng không thể chỉ trích, lên án họ, nhất là không thể coi họ như một loại người đáng ghét, phải cách ly khỏi các hoạt động xã hội, nơi tụ tập đông người. Có chăng, phải nhận thấy xã hội Việt Nam rất cần một cơ chế để mọi thành phần trong xã hội đều được cất lên tiếng nói. Đó là: tự do báo chí, tự do lập hội, tự do biểu tình, tự do tổ chức họp báo/ hội thảo/ sự kiện/ viết blog (có thể gọi chung là quyền tự do biểu đạt/thể hiện chính kiến).


“Thứ hai, kết thúc cái gọi là biểu tình, tuần hành ôn hòa, tôi lướt qua hàng chục trang web: nổi bật lên không phải là sự thỏa mãn của lòng yêu nước chính đáng mà là sự hả hê của những tổ chức, cá nhân khi đã tập hợp được một lượng người cần thiết xuống đường để cho thấy “Chính quyền, công an phải vất vả”, để cho thấy những tổ chức, cá nhân đó có thể hiệu triệu được mọi người, để có thể “tập dần thói quen phản kháng của người dân với chính quyền”.

Ở đây có một thực tế, là có những người biểu tình (không biết thuộc “phái” nào, nếu như có tồn tại cái gọi là “phái”) có lồng ghép nội dung bày tỏ sự bất mãn, hay nói cách khác, sự không đồng tình với chính sách ngoại giao của Nhà nước. Họ có thể cho rằng Nhà nước cư xử hèn nhát/ kém cỏi trước bá quyền Trung Quốc. Họ có thể đúng, hoặc sai, nhưng việc làm của họ - nếu diễn ra ôn hòa như cách họ đã làm - là không có gì sai cả, và không đáng bị đem ra bêu riếu. Họ có “hả hê”, khoái trá, thì cũng vẫn… chỉ là trên mạng, chứ họ chưa để xảy ra một vụ bạo loạn, xô xát, hay gây ra thiệt hại vật chất và tinh thần cho ai (chỉ trừ cho cơ quan công quyền, nếu có).

Cơ quan công quyền – cụ thể là công an – có thể ức chế, tức giận, điên tiết đấy, nhưng… vẫn phải chấp nhận. Nghe ra thì có vẻ như cơ quan công quyền phải chịu cái nhìn đầy khắt khe và định kiến từ dư luận xã hội, nhưng biết làm sao được, bởi vì đó là nguyên tắc; nguyên tắc ấy nói rằng công an - cảnh sát - an ninh điều tra bao giờ cũng phải là lực lượng gương mẫu, lực lượng đi đầu tuân thủ luật pháp trong xã hội, và luôn phải nhận phần khó, phần thiệt về mình trong quan hệ với nhân dân. Vì lẽ họ là lực lượng có đầy đủ sức mạnh và công cụ để trấn áp, vốn dĩ họ mạnh hơn hẳn nhân dân – nên họ… phải nhường dân. Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chủ tịch từng dạy công an: “Đối với nhân dân, phải kính trọng, lễ phép”.

Một ví dụ để so sánh: Có một tầng lớp trong xã hội hiện nay cũng bị cộng đồng mạng chỉ trích, lên án gay gắt, là giới báo chí, nhất là “đám phóng viên lá cải”. Các bạn nghĩ sao nếu các nhà báo cũng phản ứng  với dân mạng tương tự như công an, tức là đánh, đạp mặt, bẻ tay, bắt bớ, gây khó dễ, gây sức ép buộc thôi việc, mất nhà trọ v.v.? (Hoạt động báo chí hiện nay ở Việt Nam cũng được xem như hoạt động công vụ, bằng chứng là có những nhà báo đã bị bắt vì tội “lạm dụng quyền hạn, chức vụ trong khi thi hành công vụ”). Nói rộng ra, các bạn nghĩ sao nếu trong xã hội, tồn tại những nhóm công dân được cho, và/hoặc tự cho mình quyền xâm phạm thân thể người khác, nhân danh “công vụ”?


“Những bài viết ở các trang web, blog, facebook miêu tả việc bắt bớ, đánh đập, đàn áp, tôn vinh những “ngọn cờ” với những thông tin “thêm mắm, dặm muối”, mô tả những chi tiết (qua lời kể, thậm chí là trí tưởng tượng phong phú của một ai đó) đầy rẫy trên mạng, từ đó những dòng phản hồi (conments) của một số phần tử mang tính bắc cầu (lấy chuyện biểu tình chống Trung Quốc nói sang chuyện chế độ hiện nay, lấy chuyện yêu nước để đả kích Chính quyền, Công an…) tiếp tục xuất hiện, càng nhiều, và cuối cùng kết luận chung của những bài viết này cho buổi sáng hôm nay là “…một chiến thắng của những công dân Việt Nam trên đường phố Sài Gòn, Hà Nội ngày hôm nay”. Bây giờ các bạn đã nhận thấy mục đích chính của những kẻ phát động biểu tình lúc này chưa? Đó chính là sự lợi dụng lòng yêu nước”.

Nếu chính quyền có cách ứng xử thỏa đáng với biểu tình (không đàn áp, không gây khó dễ trong và sau biểu tình, không có những biểu hiện phản cảm như khênh người, xô đẩy, đạp mặt, thóa mạ…) thì không ai có thể xuyên tạc, vẽ rắn thêm chân được. Ở một đất nước bình thường, biểu tình là chuyện hết sức bình thường. Không ai bảo đi biểu tình là “chiến thắng” cả - điều đó chỉ có thể xảy ra ở một quốc gia mà quyền thể hiện ý nguyện công dân đã bị vi phạm tới mức trầm trọng.

Trong lần biểu tình này, những người biểu tình cũng không đề cập đến việc Trung Quốc tuyên bố mời thầu dầu khí như là nguyên nhân chính yếu để họ xuống đường phản đối. Với những người yêu nước, có tinh thần dân tộc chủ nghĩa, thì mục đích của họ là bảo vệ lợi ích quốc gia và phản đối việc một bá quyền láng giềng đe dọa làm thiệt hại lợi ích đó. Họ có thể bị lợi dụng (cứ giả sử như vậy), thì nhiệm vụ của chính quyền (nếu có) là ngăn chặn những hành vi lợi dụng (nếu các hành vi đó có màu sắc bạo lực, đe dọa sức khỏe, tính mạng công dân), chứ không phải… gộp tất cả vào một rọ, ngăn chặn tuốt, theo cái tư duy “cùng một công chặn”.


“Thứ ba, những “ngọn cờ” như Bùi Thị Minh Hằng, Kim Tiến, Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Trọng Hiếu, Huỳnh Công Thuận, Juse Lê Duy… nếu đủ tỉnh táo các bạn có thể nhận ra họ là ai và vì sao họ lại luôn hăng hái xuống đường biểu tình bất cứ lúc nào miễn có lý do nào đó. Những “ngọn cờ” ấy, nếu chịu khó tìm đọc trên các trang web (thậm chí là những trang web của các tổ chức phản động khác nhau ở hải ngoại) cũng có thể vạch trần bộ mặt thật của họ”.

Những người trên có thể đã nhiều lần xuống đường vì những lý do riêng (và rất có thể những lý do riêng ấy là đúng đắn), nhưng họ cũng có quyền xuống đường với mọi người vì những mối lo chung của đất nước, dân tộc. Hai việc này không mâu thuẫn, không loại trừ lẫn nhau. Nếu trong biểu tình, họ làm gì trái luật (kích động hằn thù dân tộc, kêu gọi bạo loạn…) thì chính quyền có thể đơn giản là cứ đối chiếu đúng theo luật pháp mà xử lý họ, như đã nói ở trên.


“Những khẩu hiệu, phát ngôn của họ sặc mùi đả kích chính quyền, đả kích chế độ nhưng lại mặc màu áo “bảo vệ biển đảo quê hương”. Chính vì thế, tôi không ngạc nhiên khi thấy những băng rôn kiểu “Hãy hành động xứng đáng tiền thuế của nhân dân”, “đoàn kết dân tộc, tôn giáo…” xuất hiện, thậm chí, tôi còn kinh bỉ kẻ đã viết băng rôn “với hình ảnh Ngọc Trinh mang dòng chữ “đầu hàng Trung Quốc thì cạp đất mà ăn à?”. Đó chính là sự lợi dụng lòng yêu nước”.

Các khẩu hiệu trên cũng không có gì sai trái. Tùy quan niệm, mỗi người có thể thích hay không, nhưng ở đây không có sự vi phạm thuần phong mỹ tục hay là đi ngược lại bất cứ luật định nào.

Biểu ngữ “Hãy hành động xứng đáng với tiền thuế của dân” không hề sai, nó nêu lên một đòi hỏi hoàn toàn đúng và luôn luôn đúng: Chính quyền nào mà chẳng phải hành động xứng đáng với tiền thuế của dân? Riêng biểu ngữ có hình ảnh Ngọc Trinh, người duy nhất có quyền và có đủ tư cách lên tiếng phản đối là Ngọc Trinh, vì cô ấy không phát ngôn như thế. Mặc dù vậy, biểu tình – với mục đích cao nhất là đánh động dư luận, gây sự chú ý của Nhà nước và công luận tới một vấn đề cụ thể nào đó – là lúc để những người biểu tình có thể sử dụng mọi “chiêu trò” giống như marketing để thông điệp của họ được nổi bật. Nghĩa là:

  • Họ có thể đi biểu tình nhiều lần, lặp đi lặp lại.
  • Họ có thể giơ cao những biểu ngữ kỳ cục nhất mà họ nghĩ ra được, thậm chí kể cả biểu ngữ nêu những điều có tính chất chân lý, luôn luôn đúng, như: “Mặt trời mọc đằng đông, lặn đằng tây”, “Chính quyền phải hành động xứng đáng với lá phiếu của người dân/ với tiền thuế của nhân dân”, v.v.
  • Họ có thể đến những địa điểm đông người chứng kiến nhất, vào những thời điểm có đông người tham dự/ quan sát nhất.
  • v.v.

Cũng cần hiểu thêm rằng, trong một xã hội, kể cả khi tất cả mọi người đều thấy hạnh phúc, yêu đời, hài lòng với cuộc sống, mà lại có một hoặc một số cá nhân cứ biểu tình hoặc viết báo, viết blog bày tỏ sự bất mãn, cứ chỉ trích chính quyền hèn kém khốn nạn nọ kia… thì những người xung quanh cũng cứ phải tôn trọng, không được phép khinh bỉ, bôi nhọ họ. Đó chính là biểu hiện của sự tôn trọng quyền tự do ngôn luận, vốn dĩ bao gồm cả quyền đồng ý lẫn quyền bất đồng, của đa số cũng như của thiểu số


“Thứ tư, tôi từ Trường Sa về. Suốt 16 ngày ở nơi đầu sóng, ngọn gió của Tổ quốc, tôi đủ kiến thức và sự tự tin để khẳng định với các bạn rằng: Việt Nam chúng ta đang làm rất tốt việc giữ gìn biển đảo quê hương. Chúng ta vẫn tiếp tục khai thác tài nguyên, khoáng sản, vẫn tiếp tục phát triển kinh tế biển để làm giàu cho Tổ quốc mà không có bất cứ kẻ ngang ngược nào có thể cản trở”.

Đây là lỗi ngụy biện “lạm dụng quyền lực” (Appeal to Authority). Nó là kết quả của tư duy sai lầm: Tôi (được) đi Trường Sa, vì vậy tôi có quyền phát ngôn về mọi chuyện liên quan tới Trường Sa, còn các vị không (được) đi Trường Sa thì… trật tự!

Câu nói ấy có thể đúng hoặc sai, vì tác giả không đưa ra bằng chứng nào ngoài tuyên bố chủ quan “tôi đủ kiến thức và sự tự tin để khẳng định”. Nhưng cứ giả sử câu ấy là đúng với thực tế khách quan (factually correct), thì nó lại chẳng ăn nhập gì với câu sau, hay nói đúng hơn, câu tiếp theo đây chẳng ăn nhập gì với nó:


“Vậy thì, thay vì xuống đường, đứng chung hàng ngũ với nhiều thành phần cơ hội, cải lương, phản động… các bạn trẻ nên dành sức lực ấy làm việc có ích cho tổ quốc”.

Việc Việt Nam làm rất tốt nhiệm vụ giữ gìn biển đảo quê hương thì liên quan gì đến việc một bộ phận người dân vẫn cứ xuống đường để biểu tình, nói lên tiếng nói của họ, phản đối Trung Quốc?

“Xét về mặt logic, chuyện Nhà nước lo về chủ quyền quốc gia và chuyện công dân đi biểu tình là hai chuyện khác nhau, không mâu thuẫn với nhau và không triệt tiêu lẫn nhau. Vì vậy chuyện Nhà nước lo không có nghĩa là công dân không được lo, càng không có nghĩa là công dân không được biểu tình. Và chuyện công dân đi biểu tình không có nghĩa là họ không tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước như nhiều người ngụy biện” (trích bài “Về chuyện đã có Đảng và Nhà nước lo” của luật gia - nhà báo Trịnh Hữu Long).

Vấn đề xuyên suốt bài viết của tác giả này, cũng như rất nhiều bài khác phản đối các cuộc biểu tình, là đặt Nhà nước và người biểu tình trong thế đối lập nhau và thực hiện mọi suy luận trên tiền giả định đó. Đây là một tiền giả định sai lầm. Nếu đã sai ngay từ đầu như thế, các kết luận thực sự không còn ý nghĩa.


“Hãy học thật giỏi, hãy làm việc thật hăng say nhằm có nhiều điều kiện đóng góp công sức phát triển biển, đảo Việt Nam, hãy suy nghĩ cách nào đó để lính đảo bớt cực nhọc giúp họ vững tay súng, cách nào đó để ngư dân bớt khổ giúp họ yên tâm bám biển, hãy đóng góp những gì có thể khi Tổ quốc cần, như vậy chính là yêu nước”.

Đây là ngụy biện lớn nhất trong bài viết, và cũng rất đặc thù ở các bài viết khác cùng loại. “Dành sức lực ấy làm việc có ích cho Tổ quốc”, “học thật giỏi, hãy làm việc thật hăng say nhằm có nhiều điều kiện đóng góp công sức phát triển biển, đảo Việt Nam”, v.v… không hề mâu thuẫn hay có gì trái ngược với việc thể hiện lòng yêu nước thông qua biểu tình, vì không thiếu người biểu tình trong đời thường và công việc vẫn cống hiến hàng ngày cho đất nước, và bản thân hành động biểu tình của họ cũng đã là một sự cống hiến, thông qua việc ý thức được trách nhiệm công dân.

Lỗi lập luận này có tên gọi là Red Herring (Cá Trích Đỏ), là ngụy biện trong đó một chủ đề không liên quan được đưa ra để đánh lạc hướng chú ý khỏi vấn đề ban đầu. Chủ ý căn bản là để “chiến thắng” trong cuộc tranh luận bằng cách kéo sự chú ý của mọi người khỏi luận điểm đang bàn luận để chuyển sang một chủ đề khác.


“Xuống đường chung “chiến tuyến” với những kẻ cơ hội, góp phần giúp chúng đạt được mục đích hay là suy nghĩ chín chắn để có hành động phù hợp, các bạn hãy tự quyết định”.

Tác giả phạm lỗi ngụy biện “Khái quát hóa vội vã” (Hasty generalization). Không phải tất cả những người xuống đường đều là kẻ cơ hội. Không thể vì vài phần tử xấu (không rõ là ai, và tác giả cũng không có bằng chứng để buộc tội một cá nhân nào đó cụ thể là phần tử xấu) mà khái quát rằng cả một tập thể đều xấu, nhất là khi cái gọi là “tập thể” này hình thành mang tính tự phát, không có tổ chức, không có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Ngoài ra, người yêu nước xuống đường không phải là để cùng chiến tuyến với những kẻ cơ hội (nếu có), mà chính đó là một suy nghĩ chín chắn để thể hiện chính kiến yêu nước của mình và thông qua đó, vạch trần bộ mặt những kẻ cơ hội (bất kể có đi biểu tình hay không).


***


Cái đáng lo ngại là một bài viết phạm nhiều ngụy biện (lỗi lập luận) như vậy mà lại có vẻ được nhiều cư dân mạng hưởng ứng, căn cứ số lần chia sẻ nó. Điều đó chứng tỏ rằng, một bộ phận – có lẽ khá đông đảo – cư dân mạng Việt Nam, nhất là các bạn trẻ, không có khái niệm về ngụy biện và không hiểu biết về kỹ năng tranh luận, văn hóa tranh luận tối thiểu.

Vượt ra ngoài bài viết này, nếu các bạn ủng hộ những nhận định mang tính thóa mạ, mạt sát người khác, thì còn đáng lo ngại hơn nữa: Bằng sự ủng hộ đó, các bạn đã thể hiện thái độ tấn công vào quyền tự do ngôn luận, nói rộng hơn là không tôn trọng con người – đồng bào của bạn, đồng loại của bạn.


Friday, 29 June 2012

Ý đồ biến biển của Việt Nam thành “vùng tranh chấp”

Khu vực 9 lô dầu khí mà PetroVietnam đang thăm dò khai thác và Trung Quốc đang mời thầu không phải là khu vực tranh chấp. Nó nằm hoàn toàn trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa 200 hải lý của Việt Nam. Câu hỏi có thể đặt ra là, vậy Trung Quốc căn cứ vào đâu để công khai mời thầu quốc tế ở địa điểm này? 

Câu trả lời là: Trung Quốc căn cứ vào đường lưỡi bò mà họ đơn phương đưa ra và muốn cả thế giới phải công nhận.

Bản đồ những lô dầu khí mà Trung Quốc đang mời chào, công bố trên website của Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC), cho thấy, cả 9 lô đều nằm trong vùng biển thuộc đường lưỡi bò, và dọc theo đường 9 đoạn “tai tiếng” này.

Trong thông báo của mình, đăng trên mạng ngày 23-6, CNOOC tuyên bố: “Hiện nay, 9 lô dầu khí trải dài trên diện tích 160.124,38 km2 đang được mở ngỏ cho các hoạt động hợp tác thăm dò và khai thác giữa CNOOC và các công ty nước ngoài. Xin mời tham khảo vị trí của các lô trong bản đồ đính kèm: Bản đồ Vị trí các lô mở trong vùng biển thuộc quyền tài phán của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, dành cho hoạt động hợp tác với nước ngoài trong năm 2012”. Tiếp sau đó là phần mô tả địa điểm và diện tích của từng lô, thủ tục để bắt đầu tiến hành hợp tác, và thông tin về địa chỉ liên hệ.

Trái với UNCLOS

Trước hành động đó của CNOOC, ông Đỗ Văn Hậu, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), đã tuyên bố ngày 27-6: “Đây là việc làm sai trái, không có giá trị, trái với Công ước LHQ về Luật Biển (UNCLOS) 1982 và không phù hợp với thông lệ dầu khí quốc tế”. PVN “cực lực phản đối và yêu cầu CNOOC hủy bỏ ngay hoạt động mời thầu, nghiêm túc tuân thủ thỏa thuận về những nguyên tắc giải quyết vấn đề tranh chấp trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc, cũng như tôn trọng luật pháp quốc tế, nhất là UNCLOS 1982”.

Văn bản quan trọng mà Trung Quốc vi phạm là UNCLOS 1982, ra đời ngày 10-12-1982, mà Trung Quốc ký phê chuẩn và tham gia vào ngày 7-6-1996. Với việc đưa ra đường lưỡi bò để đòi chủ quyền đối với 75% diện tích biển Đông, Trung Quốc đã hành xử một cách “phi UNCLOS”. Chẳng hạn, kèm với tấm bản đồ đường lưỡi bò được công bố chính thức lần đầu tiên ra thế giới ngày 7-5-2009, Bắc Kinh chỉ nói chung chung rằng họ “có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo trong biển Đông và các vùng biển lân cận; có quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển liên quan cũng như đáy biển và lòng đất của những vùng biển này”. Nhưng họ không hề xác định tọa độ, phạm vi cho “vùng biển lân cận”, “vùng biển liên quan”, và cũng không dùng tới các thuật ngữ của UCNLOS, như nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa… để định nghĩa “biển” của họ.

Đã ký phê chuẩn UNCLOS, nhưng lại đưa ra yêu sách hoàn toàn phi UNCLOS, và rồi công khai mời thầu những lô dầu khí trong một vùng biển nghiễm nhiên cho là của mình – những hành động đó cho thấy sự mâu thuẫn, lật lọng trong chính sách của Trung Quốc trên biển Đông.

Điều nguy hiểm cho Việt Nam

Việc dựng ra một đường lưỡi bò không tọa độ, rồi mời thầu trong vùng biển nằm trong ranh giới lưỡi bò là hành động vi phạm UNCLOS 1982 thấy rõ. Nhưng bên cạnh đó, rất có thể Trung Quốc còn có những ý đồ kín đáo hơn.

Ngày 27-6, học giả Mỹ Matt Taylor Fravel, Giáo sư khoa học chính trị, Viện Công nghệ Massachusetts (MIT), đã có bài viết trên tờ The Diplomat, trong đó, ông nhận định: “Không như các lô mà CNOOC mời thầu trong năm 2010 và 2011, các lô mới này (9 lô dầu khí đang được Trung Quốc chào mời) nằm hoàn toàn trong vùng tranh chấp trên biển Đông. Như bản đồ (đăng tải trên website của CNOOC) cho thấy, các lô này nằm ngoài khơi bờ biển miền Trung của Việt Nam, trải rộng hơn 160.000 km2. Rìa phía tây của một số lô có vẻ như nằm cách bờ biển Việt Nam không đầy 80 hải lý, nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế của nước này. Tất cả các lô đều chồng lấn ít nhất là một phần với (các lô) của PetroVietnam, kể cả những điểm có tiềm năng dầu khí, mà các công ty nước ngoài đang tiến hành hoạt động thăm dò”.

GS. Matt Taylor Fravel cũng viết: “Có lẽ các công ty nước ngoài ít có khả năng hợp tác với CNOOC để đầu tư ở các lô đang tranh chấp. Tuy nhiên, hành động của CNOOC rất có ý nghĩa, vì một số lý do. Việc tuyên bố mời thầu cho thấy một bước đi mới trong nỗ lực của Trung Quốc nhằm củng cố quyền chủ quyền tại vùng biển này. Chẳng hạn, mới tuần trước thôi, Trung Quốc đã nâng địa vị hành chính của quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ cấp huyện lên cấp vùng, thuộc tỉnh Hải Nam”.

“Việc một công ty nhà nước của Trung Quốc chào mời các lô dầu khí không chỉ củng cố quyền tài phán mà Trung Quốc đòi hỏi, mà còn tăng cường cơ sở pháp lý cho các lập luận của Trung Quốc phản bác mọi hoạt động của Việt Nam tại vùng biển này. Trong quá khứ, Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã phản đối các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của Việt Nam, với lưu ý rằng rằng chúng diễn ra trong vùng biển của Trung Quốc. Giờ đây thì Trung Quốc có thể khẳng định là những hành động đó vi phạm luật pháp của Trung Quốc trong lĩnh vực khai thác tài nguyên”.

Nghĩa là, mặc dù thừa nhận rằng “một số lô… nằm sâu trong vùng đặc quyền kinh tế” của Việt Nam, nhưng GS. Fravel cũng đã mặc nhiên coi đây là khu vực chồng lấn, tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nói cách khác, Bắc Kinh đã phần nào thành công trong việc biến vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam thành vùng tranh chấp. Từ đây, đi đến quan điểm “gác tranh chấp, cùng khai thác”… biển của Việt Nam chỉ là một bước ngắn.


* * *


The nine offshore blocks where PetroVietnam have been taking exploration and development activities and China has recently offered for joint cooperation with foreign companies, in fact, are not located in disputed areas. Rather they lie entirely within Vietnam’s exclusive economic zone and 200-mile continental shelf. A potential question to raise is: On what basis does China openly offer for bidding in the area?

The answer is: China relies upon the infamous “ox-tongue” line that they unilateral delineate and claim for recognition from the international community.

The attached map of the locations of the nine blocks being offered, published on CNOOC’s website on June 23th, 2012, shows the whole nine blocks located in the seas bounded by the "ox tongue" line, or the nine-dotted line.     

In response to CNOOC’s action, Mr. Đỗ Văn Hậu, CEO of PetroVietnam, on Thursday declared, “This undertaking is wrongful, invalid, and runs counter to UNCLOS 1982 as well as international oil and gas practices. This constitutes a grave violation of Vietnamese sovereignty, sovereign rights and national interests of Vietnam, further complicates the situation and causes tension on the East Sea.

Anti-UNCLOS

One of the important treaties that China keeps violating is the United Nations Convention on the Law of the Sea of December 10th, 1982, which China ratified on June 7th, 1996.

By using their nine-dotted line to claim territory over 75% of the Southeast Asian Sea, China proves to be anti-UCNLOS. Along with the nine-dotted line map submitted to the international community for the first time on May 7th, 2009, Beijing gave a vague statement that they have “indisputable sovereignty over the islands of the South China Sea and the adjacent seas; and enjoy sovereign rights and jurisdiction over the relevant waters as well as the seabed and the subsoil thereof (see attached map).” But they failed to address the exact the meaning of “adjacent seas”, “relevant waters”, and avoided using UNCLOS’s technical terms such as “internal waters”, “territorial seas”, “exclusive economic zone”, “continental shelf”, etc. to define their territorial claim.

What lies behind China's move

On Thursday Matt Taylor Fravel, an Associate Professor of Political Science and member of the Security Studies Program at the Massachusetts Institute of Technology, wrote on The Diplomat:

“Unlike the blocks that CNOOC offered in 2010 and 2011, the new ones are located entirely within disputed waters in the South China Sea.  As this map shows, the new blocks lie off Vietnam’s central coast and comprise of more than 160,000 square kilometers. The western edge of some blocks appear to be less than 80 nautical miles from Vietnam’s coast, well within that country’s Exclusive Economic Zone. All the blocks overlap at least partially with PetroVietnam’s, including potentially ones where foreign oil companies have ongoing exploration activities. 

Foreign companies may be unlikely to cooperate with CNOOC to pursue investments in disputed blocks. Nevertheless, CNOOC’s action is significant for several reasons.  To start, the announcement of these blocks reflects another step in China’s effort to strengthen its jurisdiction over these waters. Just last week, for example, China raised the administrative status of the Paracel and Spratly Islands from county- to prefectural-level within Hainan Province.

The delineation of exploration blocks by a Chinese state-owned oil company not only enhances China’s claimed jurisdiction but also strengthens the legal basis of China’s ongoing opposition to Vietnam’s activities in these waters. In the past, China’s Foreign Affairs Ministry challenged the legality of Vietnam’s exploration and development activities by noting that they were in Chinese waters. Now, China can assert that such actions violate domestic laws related to resource development.”

Despite the fact that these blocks are located “well within the country’s Exclusive Economic Zone”, Professor Fravel apparently takes it for granted that this is part of the overlapping, disputed areas between Vietnam and China.

In other words, it seems Beijing has somewhat succeeded in transforming Vietnam’s Exclusive Economic Zone into disputed ones, thereby they move closer to the actualization of “Setting aside dispute, pursuing joint development” policy in other nation’s seas.


Saturday, 23 June 2012

Lược sử blog Việt - A Brief History of Blogs in Vietnam


24-6-2012 là tròn 7 năm Yahoo! 360° khai trương ở Việt Nam. Là một blogger, tôi nghĩ rằng nếu các cuộc biểu tình chống Trung Quốc năm 2011 gắn với Facebook, thì ở thời kỳ 2007-2008, Yahoo! 360° là một công cụ tập hợp không thể thiếu. Do đó, giới blogger chính trị ở Việt Nam rất nên nhớ đến mạng xã hội (đã đóng cửa) này.  

Cũng trong những ngày kỷ niệm một năm “mùa hè không đỏ lửa” 2011, tôi nảy ra ý định lập một “biên niên sử” ngắn về phong trào viết blog ở Việt Nam, kể từ khi blog xuất hiện ở đây. Kính mong các bạn blogger, Facebooker cùng đọc kỹ và góp ý sửa chữa, bổ sung nếu thấy thiếu sót. Ngoài ra, đã là “lịch sử” thì chỉ liệt kê sự kiện, hạn chế bình luận chủ quan – nhưng nếu có phần nào tôi thể hiện đánh giá cá nhân sai lệch, rất mong được lượng thứ. Bản tiếng Anh ở phía dưới.

June 24th 2012 marks the seventh anniversary of Yahoo! 360°'s appearance in Vietnam. As a blogger, I believe that while anti-China protests in 2011 were mostly attached to Facebook, Yahoo! 360° was an integral part of the protests in 2007. Political bloggers in Vietnam, therefore, should never forget this departed blog.

These days, one year after the summer of protests in Hanoi and Saigon, I’ve come up with the idea of writing a short chronology of blogging in Vietnam since the advent of blogs here. I would be very grateful if readers would make corrections to anything you find to be wrong or misleading information. The English version is below the Vietnamese one.


* * *


LƯỢC SỬ BLOG VIỆT NAM


2005: Yahoo! 360° xuất hiện ở Việt Nam (chính thức khai trương ngày 24-6-2005).

2006-2008: Giai đoạn bùng nổ của Yahoo! 360°, mở ra cả một thế giới mới trong lĩnh vực truyền thông Internet. Các blogger viết, chụp ảnh, chia sẻ file dữ liệu, và kết nối với nhau. Xuất hiện khái niệm “văn học mạng”. Một thế hệ nhà văn hình thành trên mạng khi họ viết truyện ngắn, tiểu thuyết, đăng dài kỳ trên blog. Một số gương mặt nổi tiếng gồm Trần Thu Trang, Trang Hạ, Hà Kin, Nick D… Hầu hết là phụ nữ, tuổi từ 20-30, và nói chung hạn chế viết về chính trị, tập trung vào thơ văn.

Một số blogger tăng view bằng cách đăng tải những bài viết và ảnh liên quan tới các chủ đề tình dục và người nổi tiếng: Cô Gái Đồ Long, Only You, Tắc Kè, Vàng Anh (với triết lý “tình dục, chính trị, kinh dị”, nick Vàng Anh được đặt theo tên một nữ diễn viên tuổi teen nổi tiếng từng dính vào bê bối tình dục).

Có một số ít blogger chính trị và chưa ai nổi tiếng: Vàng Anh (nổi tiếng chủ yếu ở phần nội dung liên quan đến sex và kinh dị), Người Buôn Gió, Anh Ba Sàm.

Chủ nhật, 9-12-2007: Những cuộc biểu tình đầu tiên của blogger ở Hà Nội và TP.HCM chống việc Trung Quốc phê chuẩn quyết định thành lập khu hành chính mang tên Thành phố Tam Sa để quản lý quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa.

20-4-2008: Blogger Điếu Cày bị bắt, sau đó bị kết án 2 năm 6 tháng tù vì tội “trốn thuế”. 

29-4-2008: Thanh niên biểu tình ở Hà Nội và TP.HCM, phản đối nghi lễ rước đuốc Olympic Bắc Kinh. Quy mô biểu tình khá nhỏ. 

Đầu tháng 11-2008: Tin tức về “đại dự án” khai thác bô-xít ở Tây Nguyên bắt đầu lan truyền cả trên báo chí chính thống và cộng đồng blog. Bắt đầu nổi lên một trang Yahoo! 360° nổi tiếng dưới tên gọi “Change We Need”, công kích trực tiếp dự án này.

Blog “Change We Need” cung cấp cho độc giả những thông tin không thể kiểm chứng về chính quyền và mối quan hệ với phía Trung Quốc, chẳng hạn viết rằng “Bauxite Tây Nguyên – huyệt mộ triều đại cộng sản tự đào chôn mình”.

24-5-2009: Ông Trần Huỳnh Duy Thức, Giám đốc Công ty Một Kết Nối, bị bắt.

Giữa năm 2009: Giáo sư Nguyễn Huệ Chi, nhà giáo Phạm Toàn và TS. Nguyễn Thế Hùng lập một website phản biện dự án bauxite Tây Nguyên.

13-6-2009: Luật sư Lê Công Định bị bắt. Theo cơ quan an ninh, ông Thức và ông Định là tác giả của blog “Change We Need”.

13-7-2009: Yahoo! 360° đóng vĩnh viễn. Cộng đồng blogger Việt Nam bị xé nhỏ. Một số tự động chuyển sang dùng Yahoo! 360° Plus. Số khác dùng Wordpress, Blogger, Multiply, Weblog, v.v.

Sau vụ Yahoo! 360° đóng cửa, Facebook nhanh chóng nổi lên như là mạng xã hội được ưa chuộng nhất. Blog Anh Ba Sàm trở thành điểm “tụ họp” của những người quan tâm đến chính trị. Chủ nhân gọi blog này là “Thông Tấn Xã Vỉa Hè”, một cách gọi có hàm ý giễu nhại Thông Tấn Xã Việt Nam (“Tin vỉa hè” là từ người Việt Nam dùng để chỉ chuyện ngồi lê ngôi mách, tin vịt, tin không được kiểm chứng mà mọi người kháo nhau khi đang ngồi café vỉa hè).

Nhiều blog mới về chính trị ra đời trong giai đoạn 2009-2010 như là kết quả của vụ đóng cửa Yahoo! 360°: Quê Choa (http://quechoa.info), Trương Duy Nhất (http://truongduynhat.vn), Nguyễn Xuân Diện, v.v. Quê Choa là của nhà văn, nhà biên kịch Nguyễn Quang Lập. Phong cách hài hước, thậm chí đôi khi tục, của ông được rất nhiều người đọc ưa thích. Trương Duy Nhất là nhà báo, đã tuyên bố nghỉ viết báo chuyên nghiệp để viết blog cho tự do. Tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện là một người nghiên cứu về ca trù.

27-8-2009: Người Buôn Gió bị bắt. Phạm Đoan Trang bị bắt ngày hôm sau, rồi đến Mẹ Nấm vài ngày sau đó. Ba người lần lượt được thả sau 9 ngày đêm.

Khoảng tháng 12-2009: Facebook bắt đầu bị chặn.

26-10-2010: Cô Gái Đồ Long bị bắt vì đã viết một entry “bôi nhọ” một tướng công an.

5-11-2010: Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ bị bắt trong một khách sạn ở TP.HCM sau một vụ “đột kích” của công an.

4-4-2011: Phiên xử sơ thẩm ông Cù Huy Hà Vũ. Phiên phúc thẩm tổ chức sau đó bốn tháng, vào ngày 2-8, y án 7 năm tù đối với ông Vũ.

26-5-2011: Tàu hải giám Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh 2 của PetroVietnam trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Làn sóng phẫn nộ lan khắp Internet, cả blog lẫn mạng xã hội Facebook. Nhật Ký Yêu Nước (một trang Facebook, thành lập ngày 30-4-2010) kêu gọi biểu tình phản đối Trung Quốc. 

5-6-2011: Những cuộc biểu tình đầu tiên nổ ra cả ở Hà Nội và TP.HCM. Trang blog của Nguyễn Xuân Diện và Anh Ba Sàm (nay gọi là Ba Sàm) nổi lên như là hai “điểm hẹn” trên mạng của người biểu tình. Cả hai blog thường xuyên bị hack và tấn công đánh phá, có thể do cả an ninh mạng Việt Nam lẫn lực lượng hacker đỏ của Trung Quốc.

Về những blogger một thời nổi tiếng như Hà Kin, Trang Hạ, Trần Thu Trang, Nick D… họ vẫn viết, nhưng cũng đã có thêm nhiều gương mặt mới, cho nên dường như giờ đây chinh phục, thu hút độc giả có phần khó khăn hơn ngày xưa. Hơn nữa, khi mà Việt Nam đang trải qua suy thoái kinh tế thì có lẽ các chủ đề như chuyện tình cảm lãng mạn sẽ bớt được ưa thích. (Không có nghĩa là độc giả sẽ đổ xô sang đọc tin tức về chính trị).

9-6-2011: Tàu cá Trung Quốc phá hoại cáp thăm dò của tàu Viking II (cũng của PetroVietnam).

12-6-2011: Biểu tình lần thứ hai ở Hà Nội và TP.HCM. Biểu tình ở TP.HCM bị đàn áp. Có những bức ảnh chụp cảnh công an mặc thường phục đánh người biểu tình trẻ trên đường phố Sài Gòn.

19-6-2011: Biểu tình lần thứ ba ở Hà Nội và TP.HCM. Đây là cuộc biểu tình lần cuối của blogger TP.HCM trong mùa hè 2011. Với Hà Nội, phong trào xuống đường còn kéo dài cho tới ngày 21-8-2011, khi 47 người bị bắt và một số người bị kết tội “gây rối trật tự công cộng” (cũng tương tự tội “kích động bất ổn xã hội” ở Trung Quốc). 


* * * * * * *


English version:

A BRIEF HISTORY OF THE BLOGGING MOVEMENT IN VIETNAM


2005: Yahoo! 360° came to Vietnam after officially launched on June 24th.

2006-2008: Yahoo! 360°'s boom years, the dawn of a whole new world of Internet media. We Vietnamese wrote, photographed, shared files, and got connected with each other. A generation of “net-writers” forms as fiction authors write chick-lit (chicken literature) including novel, short stories, feulleton, and post their works to blogs everyday. Prominent figures included  Trần Thu Trang, Trang Hạ, Hà Kin, Nick D… Most of them are women in their 20s, and most of them stayed away from politics, only focusing on their chick-lit works.

Some bloggers try to increase page views by publishing titillation entries and photos, as well as contents related to celebrities: Cô Gái Đồ Long (The Dragon-killing Lady), Only You, Vàng Anh (whose “philosophy” of blogging was “sex, politics and thrillers”, named after a teen star who was involved in a sex scandal).

There are also a few political bloggers, but none of them are famous yet: Vàng Anh (mainly known for sex-related entries and thrillers), Người Buôn Gió (Wind Trader), Anh Ba Sàm (a former public security officer).

Sunday, December 9th, 2007: First protests by bloggers in Hanoi and HCMC opposing China’s ratification of a plan to set up “Sansha City” to administer the Spratly and Paracel islands.

April 20th, 2008: Blogger Điếu Cày arrested. He would later be sentenced to 2 years and 6 months in prison for “tax evasion”.

April 29th, 2008: Youths protested at the Olympic Torch Relay in Hanoi and HCMC. The scope of the protests was rather small.

Early November 2008: News about the “great project” of bauxite mining in Tây Nguyên (Central Highland of Vietnam) begins to spread on both mainstream media and in the blogosphere. A new political Yahoo! 360° blog, “Change We Need”, becomes famous by directly attacking the project.

This blog provided readers with unverifiable information about the government and its relations with Chinese counterparts. “The Tay Nguyen bauxite mining project: a grave the Vietnamese communist regime digs for itself,” it said.

May 24th, 2009: Trần Huỳnh Duy Thức, CEO of the One-Connection IT company, is arrested.

Mid-2009: Professor Nguyễn Huệ Chi, elementary school teacher Phạm Toàn, and Dr. Nguyễn Thế Hùng set up a website critical of the bauxite mining project (http://bauxitevn.info). It was hacked and subjected to denial of service attacks hundreds of times. The current address is http://boxitvn.blogspot.com; http://boxitvn.wordpress.com  

June 13th, 2009: Lawyer Lê Công Định is arrested. It turned out that Thức and Định were behind “Change We Need.”

July 13, 2009: Yahoo! 360° is closed down permanently. The community of bloggers in Vietnam splits up. Some automatically moved to Yahoo! 360° Plus. Others choose Wordpress, Blogger, Multiply, Weblog, etc.

Following the closedown of Yahoo! 360°, Facebook soon emerges as the most popular social network. Anh Ba Sàm’s blog becomes a hot “meeting point” for those who pay attention to politics. He calls his blog “Thông Tấn Xã Vỉa Hè” or “The Sidewalk News Agency”, mocking Vietnam News Agency. (Sidewalk news is Vietnamese slang for “gossip”, “canards” or “unverifiable information” that people tell each other when they are fooling away their time at sidewalk cafes).

Many new blogs on politics were created in 2009-2010 as a result of the closing of Yahoo! 360°: Quê Choa (http://quechoa.info), Trương Duy Nhất (http://truongduynhat.vn), Nguyễn Xuân Diện, etc. Quê Choa is the blog of Nguyễn Quang Lập, a fiction writer and scriptwriter, whose humourous, even vulgar style was very popular with audience. Trương Duy Nhất is a mainstream reporter, who declared that he quit professional journalism to focus only on blogging as a free man. Nguyễn Xuân Diện, Ph.D., is a researcher on Vietnam’s ca trù (a Vietnamese folk song genre).

August 27th, 2009: Người Buôn Gió is detained. Phạm Đoan Trang is detained on the following day, and then Mẹ Nấm a few days later. The three were released respectively after a nine-day detention.

Around December 2009: Facebook is blocked for the first time.

October 26th, 2010: “Social blogger” Cô Gái Đồ Long is arrested for having posted an entry “defaming” a public security officer, General Nguyễn Khánh Toàn, and accused of committing libel.

November 5th, 2010: Lawyer/Activist Cù Huy Hà Vũ is arrested in a hotel in HCMC in an apparent “ambush” by policemen.

April 4th, 2011: First trial of Cù Huy Hà Vũ. Four months later, on August 2nd, an appeal court would confirm Vũ's sentence of 7 years imprisonment for “disseminating anti-state propaganda”.

May 26th, 2011: Chinese maritime surveillance vessels cut seismic exploration cables of PetroVietnam’s Bình Minh 2 (Dawn 2) vessel in Vietnam’s exclusive economic zone. A burst of anger spreads on the Internet, including the blogosphere and Facebook. The Nhật Ký Yêu Nước (Dairy of Patriotism, a Facebook page created on April 30th, 2010) called for protests against China.

Sunday, June 5th, 2011: Protests broke out in both Hanoi and HCMC. Nguyễn Xuân Diện and Anh Ba Sàm (now known as Ba Sàm) emerge as prominent rallying points for protestors. Both blogs are regularly hacked and attacked, arguably by both Vietnamese internet police (red guards) as well as Chinese hackers. Whereas Ba Sàm just quoted sources from both mainstream and unmainstream media, adding some satiric comments, Nguyễn Xuân Diện seemed to have “overstepped” by posting even the calls for protests, advertising the place and time to rally. It is said this may be part of the reason why Diện has always been in trouble with policemen and in danger of arreste anytime, while Ba Sàm was apparently safe.

Once-famous bloggers Hà Kin, Trang Hạ, Trần Thu Trang, Nick D… are not much heard of now. They keep writing, but there have also been many new faces in chick-lit; thus it looks more difficult now for them to win the hearts of readers. Moreover, when Vietnam is undergoing economic recession, books on such subjects as imaginary romance, home and family, etc. would possibly become less attractive. (This does not necessarily mean that audience will rush to political news and stories instead). 

June 9th, 2011: Chinese fishing boats damaged seismic exploration cables of Viking II, another PetroVietnam vessel.

June 12th, 2011: Protests in HCMC are suppressed brutally. Photos circulate on Internet showing plainclothes policemen knocking down young protestors on the streets of Saigon.

June 19th, 2011: Third Sunday of protests in Hanoi and HCMC. This was the last “bloggers' protest” in HCMC. In Hanoi, protests continued each Sunday until August 21st, when 47 people were arrested, some of them accused of “disrupting public order” (similar to “inciting social disorder” in China).

© Đoan Trang, 2012



Tuesday, 19 June 2012

Làm báo thời thổ tả

- Liệu bài có được đăng không? 

- Không biết… nhưng hy vọng là ổn. Anh TBT đã bảo là "có gì sẽ trao đổi với phóng viên trực tiếp trong ngày hôm nay”. Tinh thần chỉ là sửa bớt những chỗ quá cụ thể, còn thì sẽ đăng và phải đăng. 

- Ái chà chà. Thế cơ à? 

- Vì ảnh bảo, có những lúc, nếu chúng ta không nói, sẽ là có tội. Sau này về già, còn mặt mũi nào nhìn con cháu mà chém gió: “Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”. 

- Quá chuẩn! Thế mới là TBT chứ! Sao anh tổng nhà tôi không được như thế? 

- Há há, lêu lêu… 

- Sướng nhỉ? Đang nghĩ là nếu bài được đăng, bà con bên Văn Giang sẽ mừng lắm đây. Nhớ mua lấy mấy chục tờ mang về biếu bà con. 

- Ấy, đừng vội mừng sớm... Nói thế chứ vẫn lo lắm. Đã đăng đâu, mới là “sẽ đăng” thôi. Mà đưa một bài lên, bị thổi còi ngay chẳng hạn, là xong… 

* 

Ngày xưa ông làm báo thế đấy!”. 

Mô típ “chúng ta nói gì với con cháu chúng ta” hẳn là đã được sử dụng nhiều trong văn học, sách báo, phim ảnh. Như nhà văn Phan Tứ (1930-1995) viết trong tiểu thuyết nổi tiếng “Mẫn và tôi” về tình yêu thời chiến tranh: “Bầy cháu nội ngoại sẽ nghe tôi kể: “Ông gặp bà giữa hồi núi sụp rầm rầm, nước dâng như chưa hề ghi trong sử sách…”. Chúng cười khì, tưởng tôi mượn chuyện thời vua Hùng. (…) Đành vậy, lớn lên chúng sẽ biết, sẽ nhớ. Tôi phải giúp chúng nhớ. Đừng để những bông hoa mai sau tự rứt mình ra khỏi cây vì không muốn dính dáng với bầy rễ cắm vào bùn”. 

Đánh Chu Lai, chắc Mẫn lại kẹp cácbin đưa các anh đặc công lội trắng đêm trên cát và đời nào em tôi chịu vắng bóng trong đợt pháo hoa cuối cùng. Tôi chia lửa cho Mẫn là phải, riêng tây gì đâu. Phải không em, Mẫn, dù anh đi khắp chân trời góc biển, mỗi lần ra trận chúng mình lại gặp nhau; có phải lúc này em đang quấn quít bên anh, em gần đến nỗi anh chỉ đẩy ngón tay đặt nên tim là nghe ngay tiếng người thương rủ rỉ trong tai, kể rằng quê ta thắng Mỹ rất ngon, và hai đứa mình là bông bạc vẫy hai ngón giữa dòng?”. 

Nghe nhà văn viết những dòng thủ thỉ, thấy tình yêu của hai nhân vật chính – Mẫn và Thiêm – sao mà đẹp đến lý tưởng. Đúng là cuốn tiểu thuyết “một thời khuấy động hàng triệu con tim”, cũng chẳng khác gì “những nhạc phẩm lừng danh của Trịnh Công Sơn”, “đầy phẫn nộ, khát khao cho một niềm hy vọng chung của cả dân tộc”… (*) 

Lũ nhà báo bây giờ sau này kể lại cho con cháu nghe chuyện làm báo của mình thời nay, sợ rằng không được đẹp như thế. Nó thảm hại hơn nhiều, lố bịch hơn nhiều, hèn nhát hơn nhiều… 

* 

Nó là câu chuyện của những nhà báo hễ xuất hiện ở điểm nóng nào là chỉ đi cùng “lực lượng chức năng”, áo nhiều túi, máy ảnh trước ngực, vẻ mặt nghiêm trọng. Cũng là câu chuyện của những phóng viên về Văn Giang lúc xế chiều để chứng kiến một cánh đồng tung tóe, cây cối đổ nát nghiêng ngửa. Dân quê thấy người lạ vào, chẳng ai buồn ngẩng lên, vẫn cắm cúi đào bới, nhặt nhạnh, xúc, đổ đất… Nhưng đến khi thấy “người lạ” lúi húi lấy máy ghi âm, sổ và bút ra, thì họ vây lấy, thẫn thờ: “Sao đến giờ nhà báo mới về? Mất rồi. Mất hết rồi!”. 

Rồi họ nhất định kéo nhà báo vào nhà, để họ pha trà, mời nước, và nghe họ kể lể chuyện “mất hết rồi”. Hàng xóm lục tục kéo đến, người nào cũng phải xán lại, nhìn, chạm tay vào áo khách một cái, khẩn khoản: “Nếu nhà báo giúp được chúng tôi đòi lại được đất, thì chúng tôi mang ơn nhà báo suốt đời”. Màn đêm buông xuống, trai tráng trong làng rầm rập đưa xe máy hộ tống nhà báo về. Người dân nông thôn bao giờ cũng là vậy, họ có thể khôn ngoan hay thực dụng, nhưng vẫn có cái hồn hậu chất phác – nên không để ý thấy nhà báo đang cúi gằm mặt, lủi thủi rời khỏi hiện trường. 

Và từ ấy, ngày nào họ cũng ngong ngóng ra bưu điện huyện, chờ xem có báo nào đưa tin, viết bài “về xã mình” không. Những mảnh báo hiếm hoi nhắc đến vụ việc của làng họ được photocopy ra hàng chục bản, và truyền tay nhau nhiều quá, đã nát ra rồi… 

 * 

Họ không nhìn thấy cảnh nhà báo phóng xe máy rời làng, đầu cúi gằm. Họ cũng không biết đến chuyện, có những lần, nhà báo về làng khi trời vẫn còn chưa tối. Trên đường đi, dưới ánh hoàng hôn, cây lá trong vùng vẫn xanh biếc như thế, triền đê vẫn mườn mượt cỏ, gió vẫn lồng lộng, và nhà báo dở hơi bỗng nghĩ tới lời thề của danh tướng Trần Quốc Tuấn thời xưa: “Trận này không phá xong giặc Nguyên, quyết không về bến sông này nữa”. Thì chúng cháu cũng vậy, Hưng Đạo Đại Vương ơi! Chúng cháu cũng muốn đứng trên đê, nhìn xuống cánh đồng xanh mượt mà thề: “Chuyến này không đăng được bài, quyết không về chốn này nữa”. Nhưng nói vậy thôi, chúng cháu sao dám gở miệng như thế - vì chúng cháu hiểu, sẽ còn nhiều, rất nhiều những vụ cưỡng chế đất đai, những bạo lực, đổ máu, hận thù, bất mãn… mà nếu còn nghĩ tới chuyện làm báo thì còn phải chứng kiến, và viết. Không ở đây thì cũng ở nơi khác mà thôi. 

Những người dân quê chất phác. Họ chẳng biết gì tới sự căng thẳng của ban biên tập, nỗi dằn vặt của phóng viên. Họ cũng chẳng biết đến Internet, cùng những cuộc cãi vã xô xát trên đó, bảo rằng họ tham lam, đã nhận tiền rồi nay thấy ít nên lại đòi tăng, rằng họ bất mãn nên bị bọn phản động lợi dụng, rằng cưỡng chế đất đai là việc không thể tránh khỏi trên con đường phát triển của Việt Nam (chuyển đổi cơ cấu sản xuất từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, tóm lại là “công nghiệp hóa, hiện đại hóa”). 

Họ càng không biết tới Hiến pháp, tới bài toán phát triển kinh tế của đất nước – toàn những thứ vĩ mô đến thế. Họ chỉ biết vào cái buổi sáng hôm ấy, hàng chục xe cam nhông, xe tải chở lính, đã “bò như cua” vào thôn làng họ, và họ bị xô đẩy, dồn ra ngoài cái mảnh đất cho đến rạng sáng vẫn còn là của họ trong tiếng loa oang oang nhắc nhở: “Không phận sự miễn vào”. Không chống lại được thì họ cự lại, phản ứng, họ chửi, khóc, ngồi bệt, rồi lăn cả ra đấy, uất ức như những đứa trẻ bị cướp đồ ăn. 

Lúc ấy, ai còn dám lý luận với họ về những vấn đề cao siêu, ví dụ, về sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất? 

Nhưng nếu đặt câu hỏi ngược lại, rằng giả sử cuộc cưỡng chế diễn ra căng thẳng và khốc liệt, rồi một nhân viên công vụ bị đánh trọng thương, máu me be bét, lực lượng cưỡng chế buộc phải rút lui trong thất bại, thì có ai vui mừng hả hê với chiến thắng của “phe nhân dân” không? Câu trả lời, với những người làm báo nghiêm túc, sẽ là không. Đơn giản bởi vì người ta ai cũng xương cũng thịt. Ai cũng là tinh cha huyết mẹ mà thành. 

Báo chí không thể ủng hộ, cổ vũ bạo lực dưới bất kỳ hình thức nào. Một điều mà các nhân viên an ninh “ít chữ” rất hay muốn làm rõ là “Anh/chị viết bài vì động cơ gì?”. Họ không hiểu rằng với nhà báo, sự thật là tối thượng, và nếu có thể gọi đấy là “động cơ”, thì nhà báo chỉ có động cơ duy nhất là phản ánh sự thật. Đôi khi, một nhà báo viết hết, phản ánh hết – đúng 100% - những gì một bên đưa ra (ý kiến, bằng chứng…), mà vẫn là không chấp nhận được. Bởi vì như vậy là không đủ khách quan, công bằng: Mọi bên đều phải có cơ hội thể hiện quan điểm như nhau. 

Nếu dân sai thì ngay cả có bị dí súng vào đầu bắt viết “vu vạ” cho công an, người làm báo cũng không viết. (Ở đây, phải giới hạn là không phải tất cả các nhà báo đều như nhau, ngoài ra, nhiều khi họ không viết xấu về chính quyền không phải vì tôn trọng sự thật khách quan, mà là vì không đủ bằng chứng, hoặc vì sợ bị trừng trị). Ngược lại, nếu chính quyền sai thì dù có cố đến đâu cũng khó lòng bênh nổi. 

Ai đó đã nói về “chiến dịch” đưa tin của báo chí trong và sau các vụ Tiên Lãng, Văn Giang như sau: “Một cuộc vật lộn để được nói sự thật”. Thực tế còn hơn thế nữa: Một cuộc vật lộn để được biết sự thật, để được viết sự thật, và để được khách quan (tất nhiên cũng chỉ dám mong ở mức độ tương đối). Thế mà, cho đến giờ, cái đích ấy vẫn chưa đạt được. 


37 năm sau ngày thống nhất đất nước. Hơn nửa thế kỷ sau cải cách ruộng đất. 67 năm sau ngày thành lập nước. Sáu thế kỷ sau thời kỳ tích lũy tư bản nguyên thủy ở phương Tây. Bước vào thời đại toàn cầu hóa, hội nhập, ở Việt Nam, vẫn còn diễn ra những cuộc cưỡng chế đất đai nhốn nháo, tiếng la hét chửi bới của dân lẫn trong khói hơi cay và tiếng oàng oàng chói tai của “quả nổ nghiệp vụ”. 

Tệ hơn nữa là chuyện ấy lại diễn ra cùng với đây đó những mệnh lệnh (miệng) yêu cầu báo chí “hạn chế đưa tin”, và những cuộc tranh cãi ầm ĩ, đầy ngụy biện, trên mạng, về quan tham, dân gian và bọn báo chí lề phải, blogger lề trái ngu dốt, phản động. 

“Ngày xưa ông làm báo thế đấy”. 

Ghi chú: 

(*) Lời giới thiệu album “Sơn Ca 7” của Khánh Ly. 

http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=3429