Bài này mình viết tháng 11/2008, bị ném đá tơi bời. Nay tranh thủ lúc nhà có điện (theo lịch cúp điện ở Hà Nội thì hôm nay quận bạn bị cúp chứ không phải quận ta, hehe), post lại bài để bà con đọc bớt nóng.
+++++++++++++
Ngành điện bị lên án dữ dội sau những nguyện vọng như đòi tăng giá điện, xin tiền thưởng, cùng cách hành xử đầy tính độc quyền. Một cái nhìn công bằng hơn từ các chuyên gia có thể "giải oan" phần nào cho ngành điện (tuy có những biểu hiện cho thấy họ chưa biết tận dụng cơ hội này để "phục thiện"). Trước hết, có lẽ công luận sẽ không bức xúc với đòi hỏi tăng giá điện đến thế nếu biết rằng giá điện tăng là xu hướng tất yếu.
Phương án tăng giá điện đã được trình Chính phủ xem xét. Tuần cuối tháng 10 năm 2008, một nhóm nghiên cứu ở Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (CEPR - nay là Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách Việt Nam, VEPR), Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, có công bố một bản đánh giá ảnh hưởng của việc tăng giá điện lên chi tiêu hộ gia đình và toàn bộ nền kinh tế. Bản đánh giá được báo chí đăng tải và lập tức gây sự chú ý từ phía dư luận: chống tăng giá điện để cắt thêm vào túi tiền của người tiêu dùng, chống cách hành xử quá quắt (cắt điện tùy tiện, không chịu đầu tư), nhất là chống nhà độc quyền - Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN).
Nhưng giữa làn sóng phản đối, vẫn có những lập luận ủng hộ việc tăng giá điện. Ngay cả bản đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc CEPR cũng chỉ dừng lại ở việc khảo sát và đưa ra những đánh giá, thay vì kết luận “tăng hay không tăng giá điện”. Nếu tinh ý sẽ nhận thấy bản thân Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành, người đứng đầu nhóm nghiên cứu, cũng tránh có những kết luận mang tính định hướng dư luận. Trong phần kết của bản đánh giá, ông Thành và đồng sự viết: "Rút kinh nghiệm từ những bài học như tăng giá xăng, các cơ quan chính sách có thể đẩy mạnh tuyên truyền trước khi tăng giá, để người dân ước tính được mức ảnh hưởng dây chuyền của việc tăng giá". Đây là một cách hàm ý rằng việc tăng giá điện là không tránh khỏi và có thể chấp nhận được.
Trong một lần trả lời chất vấn Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết, với lợi nhuận 5%, là mức thấp với EVN. Với giá thành và giá bán hiện nay trong khi ngân sách không bù lỗ mà bù chéo, bán cao bù cho bán thấp, ngành điện đang gặp nhiều khó khăn. Và khả năng tăng giá điện là khó tránh khỏi.
Rắc rối và tranh cãi chỉ có thể giải quyết nếu chúng ta trả lời được "7 câu hỏi căn bản" sau đây.
1. EVN có độc quyền không?
Thật ra, nếu so với một số ngành khác thì giá điện ở Việt Nam hiện giờ là khá rẻ và đa số người tiêu dùng cũng thừa nhận điều đó. Ngoài ra, điểm quan trọng là giá điện do Nhà nước điều tiết (trên cơ sở thỏa thuận với EVN), chứ EVN không tự đặt giá.
Một chuyên gia kinh tế năng lượng thuộc Bộ Tài chính khẳng định: EVN thực sự không độc quyền. Theo ông, báo chí cũng như công chúng lên án EVN độc quyền là sai về khái niệm. "Ngành điện ở Việt Nam hiện nay đang bị EVN độc quyền, nhưng bản thân EVN không có hành vi độc quyền vì họ đâu có tự động đẩy giá thị trường lên để hưởng lợi nhuận độc quyền" - chuyên gia này nhấn mạnh.
Hiện nay, giá điện ở Việt Nam đang thấp hơn khu vực, và điều này không kích thích các nhà đầu tư trong nước cũng như nước ngoài tham gia sản xuất điện. Khi trả lời chất vấn trước Quốc hội, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cho biết, có nhiều nhà đầu tư nước ngoài xin được đầu tư vào các dự án điện phải dừng lại vì họ đòi giá bán cao, Chính phủ không thể mua được.
Một mình EVN nắm cả sản xuất (74% thị trường) lẫn truyền tải (100%) và phân phối điện (95%) (nguồn: EVN, 2008). Họ không ngăn cản việc mở rộng thị trường cho các nhà sản xuất và cung cấp khác, nếu không họ đã chẳng lấy lý do “khuyến khích đầu tư” để tăng giá điện.
2. EVN có lãi nhiều không?
Câu trả lời chắc chắn là EVN luôn luôn có lãi.
Giá điện ở Việt Nam được tính dựa trên chi phí bình quân dài hạn (long-term average cost). Chi phí này hình thành không từ thị trường tự do cạnh tranh mà từ kế toán nội bộ ngành, có sự kiểm soát và điều tiết của Nhà nước. Nó bao gồm bốn yếu tố: chi phí vốn, chi phí nguyên nhiên vật liệu, chi phí thường xuyên (lương cán bộ công nhân viên ngành điện), và lợi nhuận dự kiến của nhà sản xuất - ở đây là EVN.
Trong giá đã có tính đến lợi nhuận dự kiến của EVN. "Vì vậy, kiểu gì EVN cũng có lãi" - cũng chuyên gia kinh tế năng lượng nói trên khẳng định. Tuy nhiên, EVN lãi nhiều không thì câu trả lời chỉ họ và cơ quan quản lý Nhà nước mới nắm được.
3. Lập luận nào ủng hộ tăng giá điện?
Các chuyên gia cho biết, phần lớn nhất trong cấu thành giá điện là chi phí vốn, tức chi phí đầu tư, khai thác các nguồn sản xuất: thủy điện, khí, than, dầu, sắp tới có thể là điện nguyên tử. Phần lớn thứ nhì là chi phí nguyên nhiên vật liệu: nước, khí đốt, than, dầu mỏ. Còn chi phí thường xuyên, ví dụ lương nhân công, chỉ chiếm một thành phần nhỏ.
Giá điện bán lẻ bình quân ở Việt Nam khoảng 3 cent/kWh, so với Trung Quốc 8-9 cent/kWh, Campuchia 13 cent/kWh. Giá điện của chúng ta ở mức thấp nhất khu vực, nhưng điều đó không phải chỉ do lương nhân công Việt Nam thấp hơn lương trong khu vực. Thay vì thế, giá thấp chủ yếu là do nguồn sản xuất điện (nước, khí đốt, than, dầu) của chúng ta ban đầu còn dồi dào. Theo thời gian, các nguồn dễ khai thác sẽ cạn kiệt dần, chi phí vốn và chi phí nguyên nhiên vật liệu sẽ phải tăng lên. Và như thế, giá điện tăng là xu hướng tất yếu (cũng như giá dầu mỏ). Điều đó đúng cho toàn thế giới. Chẳng hạn, tại Mỹ (quốc gia có thị trường điện tương đối tự do cạnh tranh), trong 10 năm từ 1996 đến 2006, mức giá điện bán lẻ trung bình đã tăng từ 6,8 cent/kWh lên 10 cent/kWh.
Theo Tiến sĩ kinh tế Nguyễn Đức Thành, "khuynh hướng chung về dài hạn là giá năng lượng sẽ tăng, nếu không có cải tiến đột xuất trong lĩnh vực công nghệ sản xuất năng lượng". Tuy nhiên, ông Thành cho biết: "Trong đề án tăng giá điện, vấn đề năng suất không hề được EVN đề cập đến. Họ không muốn thừa nhận, bởi năng suất phụ thuộc nhiều vào khả năng quản lý".
Cũng có chuyên gia cho rằng, trong ngành điện, tăng năng suất đến mấy cũng không bù đắp nổi sự khan hiếm về nguồn. Vì thế, trước sau, giá điện cũng sẽ phải lên để thu hút đầu tư khai thác. Nhưng dù sao thì trong một thị trường cạnh tranh, giá sẽ tăng chậm hơn và động lực cải thiện năng suất cũng như tìm ra các phương thức khai thác nguồn năng lượng mới sẽ nhiều hơn.
4. Tại sao EVN không đầu tư?
EVN kêu thiếu vốn, nhưng đó là vốn để đầu tư vào chính ngành điện. Còn trên thực tế, tập đoàn vẫn có lãi để đổ vào các lĩnh vực "phi điện" như ngân hàng, bất động sản, resort, viễn thông... Lý do đơn giản bởi EVN là một doanh nghiệp, và họ có quyền lựa chọn đầu tư vào những lĩnh vực ra lợi nhuận nhanh hơn, "ngon" hơn.
Trong bối cảnh lạm phát, lạm chi ngân sách, Nhà nước cũng không thể dồn vốn ngân sách hoặc tài trợ của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) hay Ngân hàng Thế giới (WB)… cho việc đầu tư vào ngành điện. Đã đến lúc cần có sự đầu tư từ các nhà sản xuất và cung cấp khác (cả trong và ngoài nước), như các công ty trong lĩnh vực than, dầu khí, thủy nông v.v. Nhưng các đơn vị khác cũng là doanh nghiệp nên họ cũng đòi hỏi thị trường phải hấp dẫn thì mới đầu tư.
5. Thiếu điện, ai chịu trách nhiệm?
Kẻ chịu trách nhiệm ở đây là là cơ chế và người tuân theo nó là EVN - nhà sản xuất, truyền tải và phân phối gần như duy nhất trên thị trường Việt Nam.
Bài toán đặt ra cho ngành điện giờ đây là phải làm sao để thu hút đầu tư khai thác nguồn (muốn vậy cần một mức giá hấp dẫn), khuyến khích tăng năng suất trong ngành.
Tiến sĩ Nguyễn Quang A gợi ý việc ưu tiên tự do hóa thị trường sản xuất điện. Bên cạnh đó, nhóm nghiên cứu của CEPR cho rằng "nên tạo một môi trường cạnh tranh trong lĩnh vực truyền tải và phân phối điện, trên cơ sở tách một số công ty từ EVN, để chúng trở nên độc lập với nhau".
Song song với đó là việc chuyển từ cơ chế tính giá dựa trên chi phí bình quân dài hạn - hoạch định nội bộ, do Nhà nước điều tiết - như hiện nay sang một hệ thống giá cả có yếu tố cạnh tranh giữa nhiều nhà sản xuất và cung cấp độc lập. Trước những năm 80 của thế kỷ trước, thị trường điện của tất cả các nước đều do Nhà nước điều tiết toàn bộ (như Việt Nam hiện tại). Quá trình giải điều tiết, tự do hóa đang diễn ra ở nhiều nơi.
6. Tăng giá điện có gây lạm phát không?
Nhóm nghiên cứu của Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành đưa ra ba kịch bản tăng giá điện:
1. Giá điện sinh hoạt tăng 20%, giá điện cho sản xuất không tăng: GDP giảm 0,04% và CPI tăng 0,13%;
2. Giá điện sinh hoạt tăng 20%, điện cho sản xuất tăng 10%: GDP giảm 0,15% và CPI tăng 0,73%;
3. Giá điện cả hai khu vực đều tăng 20%: GDP giảm 0,16% và CPI tăng 1,25%.
Như thế là trong cả ba trường hợp, tăng giá điện đều gây lạm phát và làm giảm GDP (trong ngắn hạn: 1 năm).
Dù vậy, trong dài hạn, việc tăng giá điện (đi đôi với tự do hóa thị trường trên cả ba khâu sản xuất, truyền tải, phân phối) sẽ kích thích đầu tư tăng năng suất, cạnh tranh, đi tới kìm lại tốc độ tăng giá. Thêm vào đó, việc tăng giá điện sẽ không gây sốc cho thị trường như đợt tăng giá xăng dầu hồi tháng 7 năm 2008, nếu có lộ trình rõ ràng để doanh nghiệp và người dân chuẩn bị tinh thần, cùng "thắt lưng buộc bụng", tự điều tiết.
Ở nhiều nước trên thế giới, dù thị trường do Nhà nước điều tiết hay là tự do hoàn toàn, thì giá năng lượng cũng không thể tăng giảm tùy tiện, mà luôn phải theo một lộ trình đã vạch rõ và được công bố từ trước. Ví dụ, nếu giá điện từ ngày 1/7 năm nay tăng 3%, thì người dân đã phải được thông báo từ tháng 11 - 12 năm ngoái. Không thể viện lý do "năm nay thiếu nước nên thiếu điện" để tăng giá, đồng thời hô hào, bắt ép người tiêu dùng... tiết kiệm!
7. EVN có thể làm gì?
Để không còn những tranh cãi và phản đối hiện nay, EVN hoàn toàn có thể công khai cơ chế tính giá, lợi nhuận của họ, cùng những lý do giải thích sự cần thiết phải tăng giá điện (khan hiếm nguồn nguyên nhiên vật liệu, thiếu vốn đầu tư v.v.). Bên cạnh đó, các chuyên gia cũng nhấn mạnh việc EVN phải đưa ra được một lộ trình vừa tăng giá vừa cải cách ngành điện hợp lý nhất.
Một chuyên gia trong ngành nhận xét: "EVN không minh bạch đã đành, hoạt động tuyên truyền của bản thân họ cũng kém. Người dân đến nay vẫn không hề biết là nguồn tài nguyên để sản xuất điện của chúng ta hiện giờ đang khan hiếm đến mức báo động, nhất là các nguồn giá rẻ như than, khí đốt".
Bản đánh giá của nhóm nghiên cứu thuộc CEPR cũng viết: "Nếu ngành điện có thể công bố được mức tăng năng suất của ngành, thì sức thuyết phục của việc tăng giá sẽ cao hơn rất nhiều. (Mức tăng giá = mức trượt giá - mức tăng năng suất)".
Trong tình hình hiện nay, sự lảng tránh báo chí và công chúng của EVN chỉ càng làm người ta thêm nghi ngờ và phẫn nộ. Trước đó, EVN còn xin tiền thưởng từ ngân sách, rồi không chịu đầu tư, rồi đổ trách nhiệm "tiết kiệm" lên đầu người tiêu dùng...
Có người nói vui rằng, thời bao cấp, điện là ngành được hoan hô nhiều nhất, vì cứ mỗi lần không gian bừng sáng lên sau lúc mất điện là cả làng cả tổng lại reo: "Có điện rồi!". Còn bây giờ, thời hội nhập, hình như điện đang trở thành (một trong những) ngành bị chê trách nhiều nhất. Trong khi trên thực tế, EVN cũng có "nỗi oan không chịu tỏ cùng ai".
I dare not describe myself as a patriot. I just believe I am psychologically attached to my country.
Wednesday, June 30, 2010
Friday, June 18, 2010
IMAGINE
Lại sắp tới ngày Báo chí (Cách mạng) Việt Nam 21/6 rồi. Năm nào vào ngày này, sao tôi cũng thấy mệt, chán, bực bội đến thế? À, vâng, có lẽ chỉ trừ mỗi lúc cầm phong bì tiền, gọi là “giỗ nghề”, là mặt hơi giãn ra một chút, còn lại thì lúc nào cũng hầm hầm.
Buồn bã mở lại những dòng mình đã viết, thấy “một trời luyến tiếc”.
Ngày 21/6/20yy..: Ở Sài Gòn mấy ngày này, thấy không khí làm báo nhộn nhịp ghê, bà con phóng viên náo nức chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm “ngày giỗ của chúng mình”. Tự nhiên ngồi thần mặt: Hình như chưa bao giờ có một ngày 21/6 nào làm tôi vui, chưa bao giờ.
Ngày 21/6/20zz: Anh biết không, bây giờ em không còn ríu rít nhảy chân sáo nữa. Có những lúc em muốn buông tất cả, kệ xác tất cả. Thế giới người ta đã nghĩ sang những vấn đề khác, như bảo vệ môi trường, truy tìm nguồn gốc con người, sự sống ngoài vũ trụ v.v. mà sao Việt Nam cứ loay hoay mãi với vấn đề ý thức hệ, mô hình phát triển vậy anh? Sao em lại phải viết về những chuyện rất hiển nhiên này?
* * *
Tôi không hiểu nổi cảm giác của chính mình khi viết hoặc đọc những bài được/bị đánh giá là “nhạy cảm”. Tôi chỉ luôn muốn tròn mắt: Thế mà là nhạy cảm ư?
Chưa bao giờ đặt chân tới một nước phương Tây nào, từ tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi nghĩ thế giới đã chuyển mối quan tâm sang những lĩnh vực, những vấn đề khác Việt Nam từ rất lâu, như xử lý mối quan hệ giữa con người và môi trường (chống ô nhiễm, sử dụng hiệu quả tài nguyên), giữa khoa học và thần học, giữa toàn cầu hóa và chủ nghĩa dân tộc... Hoặc đi xa hơn nữa, truy tìm nguồn gốc loài người, tìm hiểu tương lai nhân loại v.v. Báo chí của họ quan tâm đến những điều đã khác chúng ta quá rồi. Có lẽ các độc giả phương Tây sẽ ngạc nhiên lắm nếu biết một số nhà báo của chúng ta vẫn còn phải cố công đòi hỏi rằng cơ quan lập pháp phải độc lập với cơ quan hành pháp, xã hội dân sự phải phát triển để bớt gánh nặng cho khối Nhà nước; hay là hỉ hả khi tóm được một câu nói hớ hênh hoặc ngu si của một vị quan chức nào đó (vốn đầy rẫy).
Chắc độc giả phương Tây sẽ sửng sốt khi biết ở một đất nước nhỏ bé tại Đông Nam Á (đất nước này nhiều khi vẫn còn băn khoăn “mình nhỏ hay không nhỏ” đấy), có những cuộc “bút chiến” rất gay gắt để khẳng định sự nguy hại của diễn biến hòa bình (!).
Và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là những chủ đề ấy được/bị coi là nhạy cảm.
Chuyện gì xảy ra vậy? Tại sao cái cơ thể không biết mình nhỏ hay không nhỏ này lại có những bộ phận nhạy cảm kỳ lạ thế? Nếu tôi là một nhà báo nước ngoài đột nhiên bị “thuyên chuyển công tác” tới Việt Nam để viết bài cho báo Việt Nam, có lẽ sau một vài tháng – mà không, chỉ vài ngày thôi – tôi sẽ rít lên thế này: “Hey, you. What the hell is going on here? You make me confused”.
* * *
Ngày 21/6/20..: Cách đây hai tháng H. có gửi cho em một trang web trên mạng, treo giải thưởng cho nhà báo ở các nước đang phát triển viết về các đề tài dân chủ, nhân quyền, tự do. Em đọc và cười : Họ thật ngu ngơ, họ tưởng nhà báo ở các nước như Việt Nam có thể viết về các đề tài ấy hay sao mà trao giải? Và em lục lại thì thấy em không có một bài báo nào viết về những thứ đó cả. Không hiểu em đang viết cái gì nữa... Em thích gì việc “ném đá Quốc hội”. Em thích gì việc cổ vũ chủ nghĩa quốc gia, tinh thần dân tộc. Em muốn hướng tới những giá trị lớn hơn chứ, phổ quát hơn chứ... đâu phải chuyện hò hét đòi một việc đã quá hiển nhiên là phải “tam quyền phân lập”, đại biểu Quốc hội phải có năng lực, Nhà nước trong quan hệ quốc tế phải giữ vững độc lập và chủ quyền dân tộc (!!!). Em tự thấy em lố bịch vô cùng.
* * *
Mỗi lần đọc những cuốn sách khoa học của Simon Singh (nhà báo Anh gốc Ấn), hay sách kinh tế chính trị của Thomas Friedman (nhà báo Mỹ), tôi lại thấy trong lòng trào lên một cảm giác hết sức tiểu nhân: ghen ghét. Không phải những con người ấy viết cái gì cũng hay, không phải ở Việt Nam không có lấy một học giả, ký giả nào viết nổi như thế. Vậy mà sách của họ là best-seller, còn ở ta quả thực là không có lấy một tác phẩm nào bán quá 50.000 bản. À quên, trừ “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” – xin lỗi vong linh chị Trâm - và “Lê Vân yêu và sống” ra – chúc chị Vân hạnh phúc!
Không ai viết được như Simon Singh, vâng, nhưng kể cả viết được, sách có ra sạp được chăng, và kể cả ra được, sẽ có người mua chăng?
Đấy là nói chuyện “nhà báo viết sách”. Còn chuyện nhà báo viết báo thì… chuyện dài và buồn lắm, thôi không nói đến nữa.
* * *
Sếp: Dạo này cô lười đọc báo lắm đấy nhá. Phóng viên gì mà không chịu đọc báo gì cả.
PV: Vì em chán báo chí lắm. Trăm tờ như một, chán kinh anh ơi.
Sếp: Thôi… cố lên đi em. Cố chờ tới lúc trăm hoa đua nở…
Bao giờ mới tới lúc đó hả anh?
Mà lúc đó thì sẽ như thế nào nhỉ?
Tôi vẫn nhớ câu chuyện kể về những nhà báo ở Liên Xô và khối Đông Âu XHCN. Nhiều người trong số họ mang trái tim nồng nàn yêu nghề, yêu cuộc sống, yêu nước, dạt dào tinh thần đấu tranh cho dân chủ, “dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ”. Khi báo chí còn bị kiểm duyệt, họ là những vị “vua lách”. Những tưởng khi những tấm màn kiểm duyệt sụp đổ, được tự do ngôn luận, báo chí, họ sẽ thả sức viết, nhưng hóa ra không phải. Họ không viết được nữa. Dường như khả năng sáng tạo của họ chỉ phát huy mạnh trong hoàn cảnh bị kiềm chế, đè nén, còn khi được “cởi trói”, nó cạn kiệt.
Vậy thì, một ngày nào đó khi “trăm hoa đua nở” ở đây, chúng tôi có còn viết được nữa không? Chúng tôi có rơi vào tình trạng của những nhà báo đó không?
Trong thâm tâm, tôi không tin chúng tôi sẽ chịu tấn bi kịch ấy. Và thỉnh thoảng tôi vẫn tưởng tượng, rằng nếu ngày đó đến, nếu còn có ngày mai, chúng tôi sẽ viết về cái gì nhỉ?
Thì chúng tôi sẽ viết về các vấn đề môi trường. Làm thế nào để phát triển nguồn năng lượng mới, hạn chế việc sử dụng những nguồn năng lượng có thể gây ô nhiễm môi trường. Làm thế nào để phát triển kinh tế mà không phải trả cái giá quá đắt về môi trường.
Thì chúng tôi sẽ viết về giáo dục. Tôi vẫn tin rằng nền giáo dục căn bản của chúng ta đã hỏng rồi, và người Việt – ít nhất là thế hệ tôi – không có kiến thức căn bản về tất cả các lĩnh vực. Một ngày nào đó, báo chí sẽ phải đứng cùng với giáo dục trong việc trám lại những lỗ hổng vì “mất căn bản” này. Bạn đừng nghĩ chúng tôi “vơ vào”, “nhà báo thì biết cái gì mà đòi dạy thiên hạ”. Không, tôi nghĩ báo chí là lực lượng phù hợp hơn cả để đơn giản hóa những kiến thức khó hiểu từ các chuyên gia, giúp công chúng hấp thu một cách tốt nhất.
Thì chúng tôi sẽ viết về y tế, chăm sóc sức khỏe, di truyền học, công nghệ sinh học...
Thì tôi sẽ viết về nghệ thuật hoặc cái gì đó liên quan tới nghệ thuật. Tôi đã từng thích tuồng và mê chơi guitar lắm mà.
* * *
Ngày đó sẽ như thế nào nhỉ?
Tồi tệ nhất, thảm họa nhất thì ngày đó là khi những người từng viết bài “chống bá quyền” bị treo bút, tống giam, truy tố về việc “phá hoại tình hữu nghị quốc tế”, hay “chống chính quyền trung ương”. Nói cách khác đó là khi Việt Nam và anh bạn láng giềng mà ai cũng biết là ai đấy đã “hội nhập” tới mức tinh thần dân tộc, tinh thần quốc gia bị xem là chủ nghĩa địa phương cục bộ, còn đấu tranh bảo vệ chủ quyền thì là hành động phạm pháp. Tuy nhiên tôi không tin vào cái kịch bản này. Ai lại thế, hẹ hẹ. Càng toàn cầu hóa thì tinh thần dân tộc, chủ nghĩa quốc gia càng mạnh chứ.
Đẹp đẽ nhất thì đó là ngày mà độc giả Việt Nam có thể mừng vui vì tàu vũ trụ Thăng Long đã hoàn thành nhiệm vụ trên trạm không gian quốc tế, hay ngày mà tin “cứu sống con sao la ở rừng Cúc Phương” lên tin nổi bật của nhiều tờ báo.
Và nếu như đã toàn cầu hóa đến mức này rồi thì hay nhỉ? “Tối 21/6, tại Nhà hát Broadway có vở… Tại rạp Hồng Hà có tuồng Tam Nữ đồ vương, hiện giờ vé đã được bán hết”.
Nói chung, đúng là tưởng tượng không bị đánh thuế! Nhưng dù sao cũng chẳng nên mơ màng quá kẻo lại rơi cái bịch xuống đất.
À, mà tôi nhớ ra rồi. Khi ngày đó tới, có khi tôi sẽ trở thành một “phóng viên thần học”, “phóng viên tâm linh” gì đấy cũng nên. Vì câu hỏi mà tôi đã băn khoăn suốt từ những năm còn bé xíu đến nay là: Có ma hay không? (Nói một cách khoa học là: Có sự sống sau khi chết hay không?). Chắc là tôi sẽ viết bài về vấn đề này, cố công tìm hiểu xem chuyện ma quỷ, kiếp sau… là có thật hay không có thật. Bởi vì tôi ghét tất cả những gì làm con người sợ hãi; giá có thể góp một phần nhỏ như hạt cát vào việc giải đáp những câu hỏi không lời đáp ấy thì hay quá. Hơn nữa, viết về các vấn đề ấy chẳng hay hơn là ra sức chứng minh Quốc hội phải độc lập với Chính phủ sao?
Buồn bã mở lại những dòng mình đã viết, thấy “một trời luyến tiếc”.
Ngày 21/6/20yy..: Ở Sài Gòn mấy ngày này, thấy không khí làm báo nhộn nhịp ghê, bà con phóng viên náo nức chuẩn bị các hoạt động kỷ niệm “ngày giỗ của chúng mình”. Tự nhiên ngồi thần mặt: Hình như chưa bao giờ có một ngày 21/6 nào làm tôi vui, chưa bao giờ.
Ngày 21/6/20zz: Anh biết không, bây giờ em không còn ríu rít nhảy chân sáo nữa. Có những lúc em muốn buông tất cả, kệ xác tất cả. Thế giới người ta đã nghĩ sang những vấn đề khác, như bảo vệ môi trường, truy tìm nguồn gốc con người, sự sống ngoài vũ trụ v.v. mà sao Việt Nam cứ loay hoay mãi với vấn đề ý thức hệ, mô hình phát triển vậy anh? Sao em lại phải viết về những chuyện rất hiển nhiên này?
* * *
Tôi không hiểu nổi cảm giác của chính mình khi viết hoặc đọc những bài được/bị đánh giá là “nhạy cảm”. Tôi chỉ luôn muốn tròn mắt: Thế mà là nhạy cảm ư?
Chưa bao giờ đặt chân tới một nước phương Tây nào, từ tầm hiểu biết hạn hẹp của mình, tôi nghĩ thế giới đã chuyển mối quan tâm sang những lĩnh vực, những vấn đề khác Việt Nam từ rất lâu, như xử lý mối quan hệ giữa con người và môi trường (chống ô nhiễm, sử dụng hiệu quả tài nguyên), giữa khoa học và thần học, giữa toàn cầu hóa và chủ nghĩa dân tộc... Hoặc đi xa hơn nữa, truy tìm nguồn gốc loài người, tìm hiểu tương lai nhân loại v.v. Báo chí của họ quan tâm đến những điều đã khác chúng ta quá rồi. Có lẽ các độc giả phương Tây sẽ ngạc nhiên lắm nếu biết một số nhà báo của chúng ta vẫn còn phải cố công đòi hỏi rằng cơ quan lập pháp phải độc lập với cơ quan hành pháp, xã hội dân sự phải phát triển để bớt gánh nặng cho khối Nhà nước; hay là hỉ hả khi tóm được một câu nói hớ hênh hoặc ngu si của một vị quan chức nào đó (vốn đầy rẫy).
Chắc độc giả phương Tây sẽ sửng sốt khi biết ở một đất nước nhỏ bé tại Đông Nam Á (đất nước này nhiều khi vẫn còn băn khoăn “mình nhỏ hay không nhỏ” đấy), có những cuộc “bút chiến” rất gay gắt để khẳng định sự nguy hại của diễn biến hòa bình (!).
Và điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là những chủ đề ấy được/bị coi là nhạy cảm.
Chuyện gì xảy ra vậy? Tại sao cái cơ thể không biết mình nhỏ hay không nhỏ này lại có những bộ phận nhạy cảm kỳ lạ thế? Nếu tôi là một nhà báo nước ngoài đột nhiên bị “thuyên chuyển công tác” tới Việt Nam để viết bài cho báo Việt Nam, có lẽ sau một vài tháng – mà không, chỉ vài ngày thôi – tôi sẽ rít lên thế này: “Hey, you. What the hell is going on here? You make me confused”.
* * *
Ngày 21/6/20..: Cách đây hai tháng H. có gửi cho em một trang web trên mạng, treo giải thưởng cho nhà báo ở các nước đang phát triển viết về các đề tài dân chủ, nhân quyền, tự do. Em đọc và cười : Họ thật ngu ngơ, họ tưởng nhà báo ở các nước như Việt Nam có thể viết về các đề tài ấy hay sao mà trao giải? Và em lục lại thì thấy em không có một bài báo nào viết về những thứ đó cả. Không hiểu em đang viết cái gì nữa... Em thích gì việc “ném đá Quốc hội”. Em thích gì việc cổ vũ chủ nghĩa quốc gia, tinh thần dân tộc. Em muốn hướng tới những giá trị lớn hơn chứ, phổ quát hơn chứ... đâu phải chuyện hò hét đòi một việc đã quá hiển nhiên là phải “tam quyền phân lập”, đại biểu Quốc hội phải có năng lực, Nhà nước trong quan hệ quốc tế phải giữ vững độc lập và chủ quyền dân tộc (!!!). Em tự thấy em lố bịch vô cùng.
* * *
Mỗi lần đọc những cuốn sách khoa học của Simon Singh (nhà báo Anh gốc Ấn), hay sách kinh tế chính trị của Thomas Friedman (nhà báo Mỹ), tôi lại thấy trong lòng trào lên một cảm giác hết sức tiểu nhân: ghen ghét. Không phải những con người ấy viết cái gì cũng hay, không phải ở Việt Nam không có lấy một học giả, ký giả nào viết nổi như thế. Vậy mà sách của họ là best-seller, còn ở ta quả thực là không có lấy một tác phẩm nào bán quá 50.000 bản. À quên, trừ “Nhật ký Đặng Thùy Trâm” – xin lỗi vong linh chị Trâm - và “Lê Vân yêu và sống” ra – chúc chị Vân hạnh phúc!
Không ai viết được như Simon Singh, vâng, nhưng kể cả viết được, sách có ra sạp được chăng, và kể cả ra được, sẽ có người mua chăng?
Đấy là nói chuyện “nhà báo viết sách”. Còn chuyện nhà báo viết báo thì… chuyện dài và buồn lắm, thôi không nói đến nữa.
* * *
Sếp: Dạo này cô lười đọc báo lắm đấy nhá. Phóng viên gì mà không chịu đọc báo gì cả.
PV: Vì em chán báo chí lắm. Trăm tờ như một, chán kinh anh ơi.
Sếp: Thôi… cố lên đi em. Cố chờ tới lúc trăm hoa đua nở…
Bao giờ mới tới lúc đó hả anh?
Mà lúc đó thì sẽ như thế nào nhỉ?
Tôi vẫn nhớ câu chuyện kể về những nhà báo ở Liên Xô và khối Đông Âu XHCN. Nhiều người trong số họ mang trái tim nồng nàn yêu nghề, yêu cuộc sống, yêu nước, dạt dào tinh thần đấu tranh cho dân chủ, “dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ”. Khi báo chí còn bị kiểm duyệt, họ là những vị “vua lách”. Những tưởng khi những tấm màn kiểm duyệt sụp đổ, được tự do ngôn luận, báo chí, họ sẽ thả sức viết, nhưng hóa ra không phải. Họ không viết được nữa. Dường như khả năng sáng tạo của họ chỉ phát huy mạnh trong hoàn cảnh bị kiềm chế, đè nén, còn khi được “cởi trói”, nó cạn kiệt.
Vậy thì, một ngày nào đó khi “trăm hoa đua nở” ở đây, chúng tôi có còn viết được nữa không? Chúng tôi có rơi vào tình trạng của những nhà báo đó không?
Trong thâm tâm, tôi không tin chúng tôi sẽ chịu tấn bi kịch ấy. Và thỉnh thoảng tôi vẫn tưởng tượng, rằng nếu ngày đó đến, nếu còn có ngày mai, chúng tôi sẽ viết về cái gì nhỉ?
Thì chúng tôi sẽ viết về các vấn đề môi trường. Làm thế nào để phát triển nguồn năng lượng mới, hạn chế việc sử dụng những nguồn năng lượng có thể gây ô nhiễm môi trường. Làm thế nào để phát triển kinh tế mà không phải trả cái giá quá đắt về môi trường.
Thì chúng tôi sẽ viết về giáo dục. Tôi vẫn tin rằng nền giáo dục căn bản của chúng ta đã hỏng rồi, và người Việt – ít nhất là thế hệ tôi – không có kiến thức căn bản về tất cả các lĩnh vực. Một ngày nào đó, báo chí sẽ phải đứng cùng với giáo dục trong việc trám lại những lỗ hổng vì “mất căn bản” này. Bạn đừng nghĩ chúng tôi “vơ vào”, “nhà báo thì biết cái gì mà đòi dạy thiên hạ”. Không, tôi nghĩ báo chí là lực lượng phù hợp hơn cả để đơn giản hóa những kiến thức khó hiểu từ các chuyên gia, giúp công chúng hấp thu một cách tốt nhất.
Thì chúng tôi sẽ viết về y tế, chăm sóc sức khỏe, di truyền học, công nghệ sinh học...
Thì tôi sẽ viết về nghệ thuật hoặc cái gì đó liên quan tới nghệ thuật. Tôi đã từng thích tuồng và mê chơi guitar lắm mà.
* * *
Ngày đó sẽ như thế nào nhỉ?
Tồi tệ nhất, thảm họa nhất thì ngày đó là khi những người từng viết bài “chống bá quyền” bị treo bút, tống giam, truy tố về việc “phá hoại tình hữu nghị quốc tế”, hay “chống chính quyền trung ương”. Nói cách khác đó là khi Việt Nam và anh bạn láng giềng mà ai cũng biết là ai đấy đã “hội nhập” tới mức tinh thần dân tộc, tinh thần quốc gia bị xem là chủ nghĩa địa phương cục bộ, còn đấu tranh bảo vệ chủ quyền thì là hành động phạm pháp. Tuy nhiên tôi không tin vào cái kịch bản này. Ai lại thế, hẹ hẹ. Càng toàn cầu hóa thì tinh thần dân tộc, chủ nghĩa quốc gia càng mạnh chứ.
Đẹp đẽ nhất thì đó là ngày mà độc giả Việt Nam có thể mừng vui vì tàu vũ trụ Thăng Long đã hoàn thành nhiệm vụ trên trạm không gian quốc tế, hay ngày mà tin “cứu sống con sao la ở rừng Cúc Phương” lên tin nổi bật của nhiều tờ báo.
Và nếu như đã toàn cầu hóa đến mức này rồi thì hay nhỉ? “Tối 21/6, tại Nhà hát Broadway có vở… Tại rạp Hồng Hà có tuồng Tam Nữ đồ vương, hiện giờ vé đã được bán hết”.
Nói chung, đúng là tưởng tượng không bị đánh thuế! Nhưng dù sao cũng chẳng nên mơ màng quá kẻo lại rơi cái bịch xuống đất.
À, mà tôi nhớ ra rồi. Khi ngày đó tới, có khi tôi sẽ trở thành một “phóng viên thần học”, “phóng viên tâm linh” gì đấy cũng nên. Vì câu hỏi mà tôi đã băn khoăn suốt từ những năm còn bé xíu đến nay là: Có ma hay không? (Nói một cách khoa học là: Có sự sống sau khi chết hay không?). Chắc là tôi sẽ viết bài về vấn đề này, cố công tìm hiểu xem chuyện ma quỷ, kiếp sau… là có thật hay không có thật. Bởi vì tôi ghét tất cả những gì làm con người sợ hãi; giá có thể góp một phần nhỏ như hạt cát vào việc giải đáp những câu hỏi không lời đáp ấy thì hay quá. Hơn nữa, viết về các vấn đề ấy chẳng hay hơn là ra sức chứng minh Quốc hội phải độc lập với Chính phủ sao?
Sunday, June 13, 2010
Lại "ôn cố tri tân": Nhân chuyện Ba Vì, nhớ thủ đô hụt Xuân Hòa
Ngoài lề một tí, vui vui một tí: Khi tôi hỏi một nhân chứng (quan chức thời trước) rằng chủ trương mở rộng lên Xuân Hòa có đưa ra Quốc hội không (cũng biết câu trả lời rồi), ông nói như gắt lên: "Bù nhìn!".
Thế nghĩa là kiểu gì bây giờ cũng hơn, các bạn ạ. Vì bây giờ Quốc hội còn được hỏi ý kiến (có được lắng nghe hay không là chuyện khác, tính sau nhé).
http://phapluattp.vn/20100613113955584p0c1085/nhan-chuyen-ba-vi-nho-thu-do-hut-xuan-hoa.htm
+++++++
Gần đây, khi Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long tới gần và dự án chuyển thủ đô hành chính lên Ba Vì bắt đầu gây dư luận, những câu chuyện về các ngôi thành cổ và thủ đô cũ của Việt Nam, cũng như các mốc phát triển Hà Nội, được nhắc tới nhiều. Thảng hoặc cũng có người nói tới một dự án diễn ra cách đây đã hơn 40 năm ở mảnh đất phía tây bắc Hà Nội ngày nay – Xuân Hòa. Rất ít người biết, hoặc còn nhớ rằng đã có một thời kỳ Xuân Hòa “suýt” trở thành thủ đô hành chính của Việt Nam.
Nằm cách Hà Nội khoảng 30 km về phía tây bắc, thị trấn Xuân Hòa giờ đây đã có dáng dấp của một đô thị với đường trải nhựa thẳng tắp, bùng binh và nhà hàng, quán nhậu… Mọi thứ thay đổi quá nhiều. Ít người biết rằng tại đây, vẫn còn lại dấu vết của một số công trình ngày xưa: Nền móng cũ của một tòa nhà dự định làm khách sạn 11 tầng, nay đã thành quán bia. Nhiều căn nhà “lắp ghép” thời bao cấp đã bị đập bỏ hết. Nhà máy xe đạp Xuân Hòa, chuyên sản xuất xe đạp, giờ là công ty nội thất Xuân Hòa, sản xuất bàn ghế và trang thiết bị nội thất.
Ông Mạc Hồng Quỳnh, sinh năm 1923, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 247 – đơn vị tham gia việc xây dựng ở Xuân Hòa thời ấy. Ông nhớ lại, câu chuyện bắt đầu từ khoảng năm 1968-1969, khi Bộ Chính trị dự đoán máy bay Mỹ có thể đánh phá ác liệt vào Hà Nội. Nếu bị ném bom, đê vỡ, thì rất nguy hiểm vì Hà Nội đất thấp, sẽ thành vùng trũng. Do đó, ngày 2-8-1969, Bộ trưởng Bộ Kiến trúc lúc đó là ông Bùi Quang Tạo đã có báo cáo và trình bày quy hoạch mở rộng thủ đô. Bộ Chính trị quyết định: Xuân Hòa là địa điểm mở rộng Hà Nội. Tới ngày 22-11-1969, Phó Thủ tướng Đỗ Mười ký Quyết định 128/TTg về việc xây dựng lại thị xã Phúc Yên và xây dựng mới Xuân Hòa. (Trung đoàn 247 trực tiếp tham gia công việc này, và họ chính là tiền thân của công ty Cổ phần Xây dựng số 2 hiện nay, trực thuộc Vinaconex).
Như vậy, theo ông Mạc Hồng Quỳnh, đây đơn thuần là việc mở rộng Hà Nội, và xuất phát từ một lý do thuần túy “thời chiến”: tìm nơi đất cao để tránh nguy cơ ngập nước. Kiến trúc sư Phạm Sỹ Liêm - Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội từ năm 1973 tới năm 1982 – cũng cho hay: “Xuân Hòa gần núi, tiện cho việc phòng thủ, phòng không. Quan trọng nhất là đất ở đó cũng khá cao, an toàn hơn. Hà Nội chỉ cao 6 mét so với mực nước biển, trong khi nước sông Hồng tới mùa lũ có thể đến 13-14 mét, nguy cơ gây ngập lụt rất cao, lúc nào Hà Nội cũng có thể bị uy hiếp một khi Mỹ ném bom vỡ đê. Nếu sang phía Xuân Hòa thì mối nguy ấy đỡ đi. Thế là bắt đầu triển khai xây dựng ở khu vực Xuân Hòa”.
Tiến về Xuân Hòa
Nhưng mọi chuyện không chỉ dừng lại ở đó. Nói cách khác, việc xây mới Xuân Hòa đã vượt hơn mức “mở rộng thủ đô”. Bằng chứng là một loạt cơ quan hành chính, sự nghiệp bắt đầu lục tục chuyển lên Xuân Hòa. ĐH Kiến trúc (trực thuộc Bộ Kiến trúc, bây giờ là Bộ Xây dựng) là một trong những đơn vị tiên phong. Rồi Ban Cơ yếu Trung ương, trường Công nhân Kỹ thuật Việt – Xô, ĐH Tài chính, ĐH Sư phạm II… đều về cả Xuân Hòa. Một loạt cán bộ của Viện Quy hoạch thủ đô được giao nhiệm vụ tháp tùng Bộ trưởng Bùi Quang Tạo thực địa, khảo sát khu vực Đầm Vạc, được dự kiến là trung tâm thủ đô tương lai. Ngoài lý do rất “thời chiến” nêu trên, theo quan điểm thời ấy, Xuân Hòa có thêm một tiêu chuẩn để trở thành thủ đô mới, bởi lẽ nơi đây là vùng trung du, đất trung du, thích hợp với việc xây dựng mà không phù hợp cho trồng trọt, làm nông nghiệp. Do vậy, chuyển dời thủ đô về Xuân Hòa cũng có lợi về mặt sử dụng đất đai.
Một thành viên trong đoàn cán bộ của Viện Quy hoạch ngày ấy, kiến trúc sư Trần Thanh Vân, kể lại rằng những năm 1968-1969, bà thường xuyên phải đạp xe hoặc đi tàu đêm tới Vĩnh Yên, để chờ sáng hôm sau tháp tùng Bộ trưởng Kiến trúc Bùi Quang Tạo đi thực địa, chuẩn bị xây dựng khu trung tâm Đầm Vạc (ngày đó các công trình lớn đều do bộ trưởng của bộ có liên quan chỉ đạo trực tiếp). Trung tâm này dự kiến bao gồm cả khách sạn, công viên, hội trường, và một nơi gọi là “trung tâm hội nghị 81 đảng cộng sản” (?) theo sự nhớ của bà Trần Thanh Vân. Bà Vân cũng cho biết, mọi việc tiến hành rất khẩn trương, răm rắp. Đêm đêm, đèn huỳnh quang thắp sáng rực. Vài quả đồi ở Xuân Hòa bị san phẳng. Một đoạn đường bê tông dài mấy cây số cũng đã được thi công.
Theo quy hoạch dự kiến, Hà Nội 36 phố phường sẽ được bảo tồn nguyên trạng, dân số tối đa chỉ khoảng 1,2 triệu. Thành phố mới mở sẽ to rộng, hoành tráng, dân số từ 3 đến 5 triệu.
Chìm vào quên lãng
Nhưng việc thi công rầm rộ chỉ kéo dài vài năm, sau đó lắng dần. Cũng phải nói là, để đi tới việc ngừng “dự án” này, đã có sự tranh luận, nhiều người không tán thành, mà phản đối mạnh nhất là kỹ sư Trần Đại Nghĩa và kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh. Nhưng phải tới lúc “bên quân sự” có ý kiến thì việc xây dựng mới Xuân Hòa mới dừng, mặc dù theo ông Mạc Hồng Quỳnh thì nó còn “lai rai” cho mãi tới đầu những năm 80.
Ông Phạm Sỹ Liêm (sau này là Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội) giải thích: “Thật ra cũng đang trong thời kỳ chiến tranh, có rất nhiều việc khác, nên chuyện quy hoạch thủ đô ấy mới chỉ dừng ở đó thôi chứ chưa thành chủ trương hay quyết định gì thật rõ ràng lắm. Nhưng cái chính là xây một khu vực mới hoàn toàn thì tốn kém quá, phải nói thật là quá sức chúng ta. Thế cho nên tuy đã xây được mấy kilômét đường bê tông ở Xuân Hòa rồi, nhiều cơ quan hành chính và hình như có cả một số cơ sở quân sự đã lên đó rồi, mà cũng phải ngừng”. Còn nói như KTS Trần Thanh Vân là: “Một quyết định trọng đại đến cũng nhanh mà hủy đi cũng nhanh. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, không mấy ai muốn nhắc lại kỷ niệm thời đó làm gì”.
Bây giờ, câu chuyện “dời đô lên Xuân Hòa” chỉ còn lõm bõm trong trí nhớ những người từng trực tiếp tham gia công trình ở thời ấy. Phần đông cho rằng đó chưa phải là một chủ trương hoàn chỉnh, mới chỉ là ý định của một số ít người, chưa có sự nghiên cứu kỹ càng (tất nhiên không được đưa ra Quốc hội), nhưng cũng là do hoàn cảnh chiến tranh và chịu ảnh hưởng của tư duy thời chiến, tư duy nông nghiệp (chẳng hạn xây dựng ở Xuân Hòa để đỡ mất đất canh tác nông nghiệp).
Liên quan tới câu chuyện này, có một công trình lớn cũng được bắt đầu từ nửa đầu thập niên 70, kéo dài cho đến giữa thập niên 80, được mệnh danh là “công trình thế kỷ” vì tầm vóc và quy mô đồ sộ của nó vào thời gian ấy. Đó là cây cầu bắc qua sông Hồng, mang tên Thăng Long.
Kỳ sau: Cầu Thăng Long – “Hồng Hà đại kiều”
Thế nghĩa là kiểu gì bây giờ cũng hơn, các bạn ạ. Vì bây giờ Quốc hội còn được hỏi ý kiến (có được lắng nghe hay không là chuyện khác, tính sau nhé).
http://phapluattp.vn/20100613113955584p0c1085/nhan-chuyen-ba-vi-nho-thu-do-hut-xuan-hoa.htm
+++++++
Gần đây, khi Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long tới gần và dự án chuyển thủ đô hành chính lên Ba Vì bắt đầu gây dư luận, những câu chuyện về các ngôi thành cổ và thủ đô cũ của Việt Nam, cũng như các mốc phát triển Hà Nội, được nhắc tới nhiều. Thảng hoặc cũng có người nói tới một dự án diễn ra cách đây đã hơn 40 năm ở mảnh đất phía tây bắc Hà Nội ngày nay – Xuân Hòa. Rất ít người biết, hoặc còn nhớ rằng đã có một thời kỳ Xuân Hòa “suýt” trở thành thủ đô hành chính của Việt Nam.
Nằm cách Hà Nội khoảng 30 km về phía tây bắc, thị trấn Xuân Hòa giờ đây đã có dáng dấp của một đô thị với đường trải nhựa thẳng tắp, bùng binh và nhà hàng, quán nhậu… Mọi thứ thay đổi quá nhiều. Ít người biết rằng tại đây, vẫn còn lại dấu vết của một số công trình ngày xưa: Nền móng cũ của một tòa nhà dự định làm khách sạn 11 tầng, nay đã thành quán bia. Nhiều căn nhà “lắp ghép” thời bao cấp đã bị đập bỏ hết. Nhà máy xe đạp Xuân Hòa, chuyên sản xuất xe đạp, giờ là công ty nội thất Xuân Hòa, sản xuất bàn ghế và trang thiết bị nội thất.
Ông Mạc Hồng Quỳnh, sinh năm 1923, là Trung đoàn trưởng Trung đoàn 247 – đơn vị tham gia việc xây dựng ở Xuân Hòa thời ấy. Ông nhớ lại, câu chuyện bắt đầu từ khoảng năm 1968-1969, khi Bộ Chính trị dự đoán máy bay Mỹ có thể đánh phá ác liệt vào Hà Nội. Nếu bị ném bom, đê vỡ, thì rất nguy hiểm vì Hà Nội đất thấp, sẽ thành vùng trũng. Do đó, ngày 2-8-1969, Bộ trưởng Bộ Kiến trúc lúc đó là ông Bùi Quang Tạo đã có báo cáo và trình bày quy hoạch mở rộng thủ đô. Bộ Chính trị quyết định: Xuân Hòa là địa điểm mở rộng Hà Nội. Tới ngày 22-11-1969, Phó Thủ tướng Đỗ Mười ký Quyết định 128/TTg về việc xây dựng lại thị xã Phúc Yên và xây dựng mới Xuân Hòa. (Trung đoàn 247 trực tiếp tham gia công việc này, và họ chính là tiền thân của công ty Cổ phần Xây dựng số 2 hiện nay, trực thuộc Vinaconex).
Như vậy, theo ông Mạc Hồng Quỳnh, đây đơn thuần là việc mở rộng Hà Nội, và xuất phát từ một lý do thuần túy “thời chiến”: tìm nơi đất cao để tránh nguy cơ ngập nước. Kiến trúc sư Phạm Sỹ Liêm - Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội từ năm 1973 tới năm 1982 – cũng cho hay: “Xuân Hòa gần núi, tiện cho việc phòng thủ, phòng không. Quan trọng nhất là đất ở đó cũng khá cao, an toàn hơn. Hà Nội chỉ cao 6 mét so với mực nước biển, trong khi nước sông Hồng tới mùa lũ có thể đến 13-14 mét, nguy cơ gây ngập lụt rất cao, lúc nào Hà Nội cũng có thể bị uy hiếp một khi Mỹ ném bom vỡ đê. Nếu sang phía Xuân Hòa thì mối nguy ấy đỡ đi. Thế là bắt đầu triển khai xây dựng ở khu vực Xuân Hòa”.
Tiến về Xuân Hòa
Nhưng mọi chuyện không chỉ dừng lại ở đó. Nói cách khác, việc xây mới Xuân Hòa đã vượt hơn mức “mở rộng thủ đô”. Bằng chứng là một loạt cơ quan hành chính, sự nghiệp bắt đầu lục tục chuyển lên Xuân Hòa. ĐH Kiến trúc (trực thuộc Bộ Kiến trúc, bây giờ là Bộ Xây dựng) là một trong những đơn vị tiên phong. Rồi Ban Cơ yếu Trung ương, trường Công nhân Kỹ thuật Việt – Xô, ĐH Tài chính, ĐH Sư phạm II… đều về cả Xuân Hòa. Một loạt cán bộ của Viện Quy hoạch thủ đô được giao nhiệm vụ tháp tùng Bộ trưởng Bùi Quang Tạo thực địa, khảo sát khu vực Đầm Vạc, được dự kiến là trung tâm thủ đô tương lai. Ngoài lý do rất “thời chiến” nêu trên, theo quan điểm thời ấy, Xuân Hòa có thêm một tiêu chuẩn để trở thành thủ đô mới, bởi lẽ nơi đây là vùng trung du, đất trung du, thích hợp với việc xây dựng mà không phù hợp cho trồng trọt, làm nông nghiệp. Do vậy, chuyển dời thủ đô về Xuân Hòa cũng có lợi về mặt sử dụng đất đai.
Một thành viên trong đoàn cán bộ của Viện Quy hoạch ngày ấy, kiến trúc sư Trần Thanh Vân, kể lại rằng những năm 1968-1969, bà thường xuyên phải đạp xe hoặc đi tàu đêm tới Vĩnh Yên, để chờ sáng hôm sau tháp tùng Bộ trưởng Kiến trúc Bùi Quang Tạo đi thực địa, chuẩn bị xây dựng khu trung tâm Đầm Vạc (ngày đó các công trình lớn đều do bộ trưởng của bộ có liên quan chỉ đạo trực tiếp). Trung tâm này dự kiến bao gồm cả khách sạn, công viên, hội trường, và một nơi gọi là “trung tâm hội nghị 81 đảng cộng sản” (?) theo sự nhớ của bà Trần Thanh Vân. Bà Vân cũng cho biết, mọi việc tiến hành rất khẩn trương, răm rắp. Đêm đêm, đèn huỳnh quang thắp sáng rực. Vài quả đồi ở Xuân Hòa bị san phẳng. Một đoạn đường bê tông dài mấy cây số cũng đã được thi công.
Theo quy hoạch dự kiến, Hà Nội 36 phố phường sẽ được bảo tồn nguyên trạng, dân số tối đa chỉ khoảng 1,2 triệu. Thành phố mới mở sẽ to rộng, hoành tráng, dân số từ 3 đến 5 triệu.
Chìm vào quên lãng
Nhưng việc thi công rầm rộ chỉ kéo dài vài năm, sau đó lắng dần. Cũng phải nói là, để đi tới việc ngừng “dự án” này, đã có sự tranh luận, nhiều người không tán thành, mà phản đối mạnh nhất là kỹ sư Trần Đại Nghĩa và kiến trúc sư Ngô Huy Quỳnh. Nhưng phải tới lúc “bên quân sự” có ý kiến thì việc xây dựng mới Xuân Hòa mới dừng, mặc dù theo ông Mạc Hồng Quỳnh thì nó còn “lai rai” cho mãi tới đầu những năm 80.
Ông Phạm Sỹ Liêm (sau này là Thứ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội) giải thích: “Thật ra cũng đang trong thời kỳ chiến tranh, có rất nhiều việc khác, nên chuyện quy hoạch thủ đô ấy mới chỉ dừng ở đó thôi chứ chưa thành chủ trương hay quyết định gì thật rõ ràng lắm. Nhưng cái chính là xây một khu vực mới hoàn toàn thì tốn kém quá, phải nói thật là quá sức chúng ta. Thế cho nên tuy đã xây được mấy kilômét đường bê tông ở Xuân Hòa rồi, nhiều cơ quan hành chính và hình như có cả một số cơ sở quân sự đã lên đó rồi, mà cũng phải ngừng”. Còn nói như KTS Trần Thanh Vân là: “Một quyết định trọng đại đến cũng nhanh mà hủy đi cũng nhanh. Mọi người thở phào nhẹ nhõm, không mấy ai muốn nhắc lại kỷ niệm thời đó làm gì”.
Bây giờ, câu chuyện “dời đô lên Xuân Hòa” chỉ còn lõm bõm trong trí nhớ những người từng trực tiếp tham gia công trình ở thời ấy. Phần đông cho rằng đó chưa phải là một chủ trương hoàn chỉnh, mới chỉ là ý định của một số ít người, chưa có sự nghiên cứu kỹ càng (tất nhiên không được đưa ra Quốc hội), nhưng cũng là do hoàn cảnh chiến tranh và chịu ảnh hưởng của tư duy thời chiến, tư duy nông nghiệp (chẳng hạn xây dựng ở Xuân Hòa để đỡ mất đất canh tác nông nghiệp).
Liên quan tới câu chuyện này, có một công trình lớn cũng được bắt đầu từ nửa đầu thập niên 70, kéo dài cho đến giữa thập niên 80, được mệnh danh là “công trình thế kỷ” vì tầm vóc và quy mô đồ sộ của nó vào thời gian ấy. Đó là cây cầu bắc qua sông Hồng, mang tên Thăng Long.
Kỳ sau: Cầu Thăng Long – “Hồng Hà đại kiều”
Sunday, June 6, 2010
Phong thủy xây thành (bài 3): Giữ vượng khí muôn đời cho đất Thăng Long
Đây là bài thứ ba trong loạt bài về phong thủy xây thành. Xin trần tình trước với bạn đọc: Các bài viết của tôi về chủ đề này không nhằm khẳng định bất cứ điều gì về tính khoa học hay phi khoa học của phong thủy, không mang hàm ý hoan nghênh hay bài bác phong thủy, hoặc phân biệt địa phương này với địa phương khác ở Việt Nam. Nếu có câu từ nào khiến bạn đọc hiểu theo ý ngược lại điều này thì đó là lỗi diễn đạt của tôi.
* * *
Dạo bước dưới chân thành cổ nhà Hồ, tha thẩn trong thành nội Huế, hay thắp nén nhang trong thành Cổ Loa, người ta khó mà không bồi hồi khó tả, khi cảm thấy quá khứ xa xưa như đang vọng về trong từng ngọn cỏ, lớp đá, từng viên gạch cũ…; khi nhìn lại những nơi mà theo sử sách mô tả, từng là chốn lầu son gác tía nguy nga tráng lệ ngày xưa, nay chỉ còn là phế tích.
Việt Nam từ buổi lập nước tới nay, trải qua các thời đại, đã có nhiều kinh đô: thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), Hoa Lư (Ninh Bình), Thăng Long - Đông Đô (Hà Nội), kinh thành Huế. Nhà Hồ (1400-1407) và nhà Mạc (1527-1592) bị sử cũ coi là “ngụy triều”, cũng có lập thành Tây Đô ở Thanh Hóa và thành nhà Mạc ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang. Theo các chuyên gia sử học và khảo cổ học, về kiến trúc mà xét, cấu trúc điển hình của một tòa thành, với tư cách một kinh đô, bao giờ cũng gồm ba phần căn bản làm nên “tam trùng thành quách”: La Thành là vòng bảo vệ ngoài cùng, Hoàng Thành là lớp giữa, và Tử Cấm Thành là vòng trong cùng, nơi chỉ có vua và những người cực kỳ thân cận của vua được đi lại. Đến nay, ở nước ta, phần lớn các ngôi thành đều đã hoang phế, nhiều chỗ chỉ còn để lại dấu vết.
Còn về phương diện phong thủy, xây thành bao giờ cũng được coi là một câu chuyện đậm tính tâm linh, từ chọn hướng đất tới hoạch định kiến trúc, rồi trấn yểm, giữ thành. Những chuyện ấy luôn thần bí và chính vì thế, luôn thu hút sự tò mò của dân chúng. Người viết bài này đã tìm gặp một vài chuyên gia phong thủy địa lý chân truyền (ẩn danh) ở Hà Nội để tìm hiểu về thuật phong thủy của người xưa khi xây thành, và được nghe khẳng định rằng: “Trong tất cả các kinh thành trên toàn cõi nước Nam, chỉ Hà Nội là có vượng khí rực rỡ với thế phong thủy hoàn hảo và rộng lớn, sẽ là thủ đô muôn đời của Việt Nam, không thể nào di chuyển”.
Từ truyền thuyết “Cao Biền trấn yểm”…
Theo các nhà nghiên cứu về phong thủy này, tất cả thành quách dù lớn dù nhỏ đều là nơi phồn hoa đô hội, dân chúng tụ tập, “bé thì là thị trấn, thị tứ, lớn thì làm thành phố, cực thủ thì trở thành thủ đô”. Tất cả thành quách đều có sông núi bao quanh, như Tây Đô có sông Mã, sông Bưởi và núi Thổ Tượng, Đún Sơn; kinh đô Huế có sông Hương, núi Ngự… Hà Nội lấy núi Ba Vì làm tọa sơn, phía tả có tay long chạy từ Tam Đảo chạy ra tận Quảng Ninh, phía hữu có tay hổ là dãy núi chạy dài qua Ninh Bình, Tam Điệp, ra cửa biển Thần Phù. Tay long dài, tay hổ ngắn, tạo thành thế “Long bão Hổ” không gì quý bằng. Đằng trước là cả một vùng châu thổ sông Hồng làm “minh đường” (được hiểu như khoảng đất, khoảng sân trống trước cửa nhà), rộng mênh mông, xa hơn nữa là Biển Đông vỗ sóng. Đó là một thế đất cực vượng, đúng như Lý Thái Tổ đã tuyên trong chiếu dời đô năm Canh Tuất 1010: “Thành Đại La (…) ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” (Đại Việt Sử ký Toàn thư, bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).
Đi sâu hơn, các nhà nghiên cứu phong thủy trên cho rằng thành Hà Nội dồi dào vượng khí là nhờ có long mạch quá đẹp, long mạch đó chính là Hồ Tây và các con sông, hồ khác ở Hà thành chứ không nằm ở Ba Vì: “Hồ Tây lấy nước từ sông Hồng, rồi đổ vào các con sông chảy quanh Hà Nội, đó là mạch long cực đẹp. Về mặt địa lý mà nói thì Hà Nội có thế rồng hổ vững như thế, có sông hồ đẹp như thế, là nơi tụ khí rất tốt. Mà nguyên tắc của phong thủy là khí tụ thì vật tụ, vật tụ thì tài tụ, tài tụ thì người tụ lại. Hội được nhiều yếu tố tốt đẹp như thế nên Lý Thái Tổ mới lấy đất này làm nơi đóng đô nghìn năm, và nó sẽ còn thịnh vượng mãi mãi, nếu được tu bổ”.
Truyền thuyết kể rằng, viên Tiết độ sứ của nhà Đường là Cao Biền, ở Giao Châu từ năm 866 tới năm 875, đã cưỡi diều giấy nhìn về Hà Nội ngắm địa thế, thấy khí vàng tía bốc lên. Biền biết đây là đất của đế đô và xứ Giao Châu này có khí đế vương, tức là khí độc lập dân tộc rất mạnh, người tài đời nào cũng có, không khi nào chịu làm nô lệ, làm quận huyện cho ngoại bang. Y bèn tìm cách trấn yểm, cắt đứt các long mạch để dứt mầm “phản loạn” đi. Nhưng cao tay mấy cũng không thắng nổi mệnh trời vì vượng khí nước Nam quá mạnh: Cao Biền đang hành sự thì bị đá trên núi lăn xuống làm gãy chân, không bắt quyết niệm chú được... Câu chuyện đầy màu sắc hoang đường này có lẽ nhằm nói rằng khí phách của dân tộc đã làm cả đến thế lực phù thủy hắc ám cũng phải bó tay thất bại. Và quả thực, Việt Nam từ buổi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, dù mạnh dù yếu, đã luôn ở thế độc lập với ngoại bang: “Non sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác”, “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/ Song hào kiệt thời nào cũng có”. Những đời vua luồn cúi ngoại bang đều thảm bại nhanh chóng và bị dân chúng lên án nghìn năm, như vua nhà Mạc hay Lê Chiêu Thống nhà Lê.
… đến chuyện giữ gìn long mạch cho Hà Nội
Thuật phong thủy khẳng định, các thành phố lớn trên thế giới đều phải gắn liền với sông hồ, có sông hồ làm nơi tụ khí. Nhìn trên giác độ khoa học, đó phải chăng là do thời xưa, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, giao thông khó khăn, người ta cần “tụ” về các khu vực có sông có nước để dễ bề đi lại, vận chuyển (bằng đường thủy)? Ngoài ra, điều này còn có thể xuất phát từ những lý do đã được nhắc tới nhiều, như môi trường sông nước thường là nơi khí hậu trong lành, mát mẻ, tốt cho sức khỏe và sinh hoạt của con người. Trong lịch sử, các đô thị lớn ở nhiều nước trên thế giới đều có một dòng sông lớn chảy trong lòng thành phố. Như thủ đô Washington DC của nước Mỹ có sông Potomac, Paris có sông Seine, London có sông Thames, Thượng Hải có sông Hoàng Phố… Đó đều là những con sông đẹp đẽ, thơ mộng, tô điểm cho cảnh quan. Có lẽ chẳng phải ngẫu nhiên mà trong quá khứ, khi còn chưa có khái niệm “quy hoạch” hiện đại, mảnh đất nơi những sông này chảy qua đã được dân chúng lựa chọn mà tụ về, dần dà trở thành thủ đô hay thành phố lớn.
So với các kinh đô cổ khác ở Việt Nam (cũng đều có núi có sông bao bọc), thì Thăng Long – Đông Đô - Hà Nội vẫn là nơi linh khí mạnh nhất do hội đủ các yếu tố tích cực về địa thế. Những nơi khác, dù sông núi bao quanh, thảy đều không đủ mạnh, không đủ lực. Ví như thành Tây Đô của nhà Hồ ở Thanh Hóa chỉ là phần kéo dài của “tay hổ” ở Hà Nội, nên không tồn tại được lâu. Nhà Mạc chọn Cao Bằng tuy đất đai hiểm trở nhưng chỉ có núi đồi, đường đi khó khăn, không chứa được muôn dân, không thể hội tụ dân về định đô muôn đời. Xứ Huế với sông Hương núi Ngự, thì núi không cao, sông không sâu, nước chảy lờ đờ, đất không rộng rãi, nên chỉ làm thành phố chứ không làm thủ đô được. Giới phong thủy cũng có người nghiên cứu cả Sài Gòn – thủ phủ của miền Nam trước 1975: “Ở đây chỉ có sông nước mênh mông bao la chứ không có thế rồng cuộn hổ chầu. Thành quách trống trải, đất rộng nhưng mỏng... Đó là thế đất không chỗ dựa, có thể tụ tập được muôn dân nhưng không giữ được muôn dân. Không thể là thủ đô muôn đời, đại diện cho đất nước được”.
Gạt bỏ những yếu tố tâm linh chưa giải thích được ngay một cách rộng rãi, thì thuật phong thủy nhấn mạnh rằng Hà Nội, với long mạch rất đẹp là Hồ Tây, sông Hồng, vượng vô cùng cho nên sẽ là đế đô muôn đời của Việt Nam. Đất nước Việt Nam cũng sẽ trường tồn, với điều kiện Hà Nội được vững mạnh. Nhưng thế phong thủy của Hà Nội đã bị đã bị hư hại đi nhiều, cần phải được chấn chỉnh khẩn trương và toàn diện để làm kinh đô của một quốc gia độc lập và hùng mạnh. Muốn vậy thì con người phải hiểu biết về quê hương đất nước, về địa lý, lịch sử, văn hóa… để cải tạo, bảo vệ, khơi thông cho sông hồ sạch sẽ, nhằm giữ long mạch, nuôi khí thiêng. Một nhà nghiên cứu phong thủy lâu năm khẳng định: “Sông hồ là mạch máu của Hà Nội, Hà Nội muốn tụ khí phải có hệ thống sông hồ đẹp đẽ, trong mát, thay vì đen sì như nước “cống Tô Lịch” hay bị lấp kín như hồ Bảy Mẫu, làm mạch máu yếu đi. Đấy mới là tâm linh, chứ chẳng có cái trục nào cả”.
* * *
Dạo bước dưới chân thành cổ nhà Hồ, tha thẩn trong thành nội Huế, hay thắp nén nhang trong thành Cổ Loa, người ta khó mà không bồi hồi khó tả, khi cảm thấy quá khứ xa xưa như đang vọng về trong từng ngọn cỏ, lớp đá, từng viên gạch cũ…; khi nhìn lại những nơi mà theo sử sách mô tả, từng là chốn lầu son gác tía nguy nga tráng lệ ngày xưa, nay chỉ còn là phế tích.
Việt Nam từ buổi lập nước tới nay, trải qua các thời đại, đã có nhiều kinh đô: thành Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội), Hoa Lư (Ninh Bình), Thăng Long - Đông Đô (Hà Nội), kinh thành Huế. Nhà Hồ (1400-1407) và nhà Mạc (1527-1592) bị sử cũ coi là “ngụy triều”, cũng có lập thành Tây Đô ở Thanh Hóa và thành nhà Mạc ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang. Theo các chuyên gia sử học và khảo cổ học, về kiến trúc mà xét, cấu trúc điển hình của một tòa thành, với tư cách một kinh đô, bao giờ cũng gồm ba phần căn bản làm nên “tam trùng thành quách”: La Thành là vòng bảo vệ ngoài cùng, Hoàng Thành là lớp giữa, và Tử Cấm Thành là vòng trong cùng, nơi chỉ có vua và những người cực kỳ thân cận của vua được đi lại. Đến nay, ở nước ta, phần lớn các ngôi thành đều đã hoang phế, nhiều chỗ chỉ còn để lại dấu vết.
Còn về phương diện phong thủy, xây thành bao giờ cũng được coi là một câu chuyện đậm tính tâm linh, từ chọn hướng đất tới hoạch định kiến trúc, rồi trấn yểm, giữ thành. Những chuyện ấy luôn thần bí và chính vì thế, luôn thu hút sự tò mò của dân chúng. Người viết bài này đã tìm gặp một vài chuyên gia phong thủy địa lý chân truyền (ẩn danh) ở Hà Nội để tìm hiểu về thuật phong thủy của người xưa khi xây thành, và được nghe khẳng định rằng: “Trong tất cả các kinh thành trên toàn cõi nước Nam, chỉ Hà Nội là có vượng khí rực rỡ với thế phong thủy hoàn hảo và rộng lớn, sẽ là thủ đô muôn đời của Việt Nam, không thể nào di chuyển”.
Từ truyền thuyết “Cao Biền trấn yểm”…
Theo các nhà nghiên cứu về phong thủy này, tất cả thành quách dù lớn dù nhỏ đều là nơi phồn hoa đô hội, dân chúng tụ tập, “bé thì là thị trấn, thị tứ, lớn thì làm thành phố, cực thủ thì trở thành thủ đô”. Tất cả thành quách đều có sông núi bao quanh, như Tây Đô có sông Mã, sông Bưởi và núi Thổ Tượng, Đún Sơn; kinh đô Huế có sông Hương, núi Ngự… Hà Nội lấy núi Ba Vì làm tọa sơn, phía tả có tay long chạy từ Tam Đảo chạy ra tận Quảng Ninh, phía hữu có tay hổ là dãy núi chạy dài qua Ninh Bình, Tam Điệp, ra cửa biển Thần Phù. Tay long dài, tay hổ ngắn, tạo thành thế “Long bão Hổ” không gì quý bằng. Đằng trước là cả một vùng châu thổ sông Hồng làm “minh đường” (được hiểu như khoảng đất, khoảng sân trống trước cửa nhà), rộng mênh mông, xa hơn nữa là Biển Đông vỗ sóng. Đó là một thế đất cực vượng, đúng như Lý Thái Tổ đã tuyên trong chiếu dời đô năm Canh Tuất 1010: “Thành Đại La (…) ở giữa khu vực trời đất, được thế rồng chầu hổ phục, chính giữa nam bắc đông tây, tiện nghi núi sông sau trước. Vùng này mặt đất rộng mà bằng phẳng, thế đất cao mà sáng sủa, dân cư không khổ thấp trũng tối tăm, muôn vật hết sức tươi tốt phồn thịnh. Xem khắp nước Việt đó là nơi thắng địa, thực là chỗ tụ hội quan yếu của bốn phương, đúng là nơi thượng đô kinh sư mãi muôn đời” (Đại Việt Sử ký Toàn thư, bản dịch của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam).
Đi sâu hơn, các nhà nghiên cứu phong thủy trên cho rằng thành Hà Nội dồi dào vượng khí là nhờ có long mạch quá đẹp, long mạch đó chính là Hồ Tây và các con sông, hồ khác ở Hà thành chứ không nằm ở Ba Vì: “Hồ Tây lấy nước từ sông Hồng, rồi đổ vào các con sông chảy quanh Hà Nội, đó là mạch long cực đẹp. Về mặt địa lý mà nói thì Hà Nội có thế rồng hổ vững như thế, có sông hồ đẹp như thế, là nơi tụ khí rất tốt. Mà nguyên tắc của phong thủy là khí tụ thì vật tụ, vật tụ thì tài tụ, tài tụ thì người tụ lại. Hội được nhiều yếu tố tốt đẹp như thế nên Lý Thái Tổ mới lấy đất này làm nơi đóng đô nghìn năm, và nó sẽ còn thịnh vượng mãi mãi, nếu được tu bổ”.
Truyền thuyết kể rằng, viên Tiết độ sứ của nhà Đường là Cao Biền, ở Giao Châu từ năm 866 tới năm 875, đã cưỡi diều giấy nhìn về Hà Nội ngắm địa thế, thấy khí vàng tía bốc lên. Biền biết đây là đất của đế đô và xứ Giao Châu này có khí đế vương, tức là khí độc lập dân tộc rất mạnh, người tài đời nào cũng có, không khi nào chịu làm nô lệ, làm quận huyện cho ngoại bang. Y bèn tìm cách trấn yểm, cắt đứt các long mạch để dứt mầm “phản loạn” đi. Nhưng cao tay mấy cũng không thắng nổi mệnh trời vì vượng khí nước Nam quá mạnh: Cao Biền đang hành sự thì bị đá trên núi lăn xuống làm gãy chân, không bắt quyết niệm chú được... Câu chuyện đầy màu sắc hoang đường này có lẽ nhằm nói rằng khí phách của dân tộc đã làm cả đến thế lực phù thủy hắc ám cũng phải bó tay thất bại. Và quả thực, Việt Nam từ buổi Lý Công Uẩn dời đô về Thăng Long, dù mạnh dù yếu, đã luôn ở thế độc lập với ngoại bang: “Non sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác”, “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau/ Song hào kiệt thời nào cũng có”. Những đời vua luồn cúi ngoại bang đều thảm bại nhanh chóng và bị dân chúng lên án nghìn năm, như vua nhà Mạc hay Lê Chiêu Thống nhà Lê.
… đến chuyện giữ gìn long mạch cho Hà Nội
Thuật phong thủy khẳng định, các thành phố lớn trên thế giới đều phải gắn liền với sông hồ, có sông hồ làm nơi tụ khí. Nhìn trên giác độ khoa học, đó phải chăng là do thời xưa, khoa học kỹ thuật chưa phát triển, giao thông khó khăn, người ta cần “tụ” về các khu vực có sông có nước để dễ bề đi lại, vận chuyển (bằng đường thủy)? Ngoài ra, điều này còn có thể xuất phát từ những lý do đã được nhắc tới nhiều, như môi trường sông nước thường là nơi khí hậu trong lành, mát mẻ, tốt cho sức khỏe và sinh hoạt của con người. Trong lịch sử, các đô thị lớn ở nhiều nước trên thế giới đều có một dòng sông lớn chảy trong lòng thành phố. Như thủ đô Washington DC của nước Mỹ có sông Potomac, Paris có sông Seine, London có sông Thames, Thượng Hải có sông Hoàng Phố… Đó đều là những con sông đẹp đẽ, thơ mộng, tô điểm cho cảnh quan. Có lẽ chẳng phải ngẫu nhiên mà trong quá khứ, khi còn chưa có khái niệm “quy hoạch” hiện đại, mảnh đất nơi những sông này chảy qua đã được dân chúng lựa chọn mà tụ về, dần dà trở thành thủ đô hay thành phố lớn.
So với các kinh đô cổ khác ở Việt Nam (cũng đều có núi có sông bao bọc), thì Thăng Long – Đông Đô - Hà Nội vẫn là nơi linh khí mạnh nhất do hội đủ các yếu tố tích cực về địa thế. Những nơi khác, dù sông núi bao quanh, thảy đều không đủ mạnh, không đủ lực. Ví như thành Tây Đô của nhà Hồ ở Thanh Hóa chỉ là phần kéo dài của “tay hổ” ở Hà Nội, nên không tồn tại được lâu. Nhà Mạc chọn Cao Bằng tuy đất đai hiểm trở nhưng chỉ có núi đồi, đường đi khó khăn, không chứa được muôn dân, không thể hội tụ dân về định đô muôn đời. Xứ Huế với sông Hương núi Ngự, thì núi không cao, sông không sâu, nước chảy lờ đờ, đất không rộng rãi, nên chỉ làm thành phố chứ không làm thủ đô được. Giới phong thủy cũng có người nghiên cứu cả Sài Gòn – thủ phủ của miền Nam trước 1975: “Ở đây chỉ có sông nước mênh mông bao la chứ không có thế rồng cuộn hổ chầu. Thành quách trống trải, đất rộng nhưng mỏng... Đó là thế đất không chỗ dựa, có thể tụ tập được muôn dân nhưng không giữ được muôn dân. Không thể là thủ đô muôn đời, đại diện cho đất nước được”.
Gạt bỏ những yếu tố tâm linh chưa giải thích được ngay một cách rộng rãi, thì thuật phong thủy nhấn mạnh rằng Hà Nội, với long mạch rất đẹp là Hồ Tây, sông Hồng, vượng vô cùng cho nên sẽ là đế đô muôn đời của Việt Nam. Đất nước Việt Nam cũng sẽ trường tồn, với điều kiện Hà Nội được vững mạnh. Nhưng thế phong thủy của Hà Nội đã bị đã bị hư hại đi nhiều, cần phải được chấn chỉnh khẩn trương và toàn diện để làm kinh đô của một quốc gia độc lập và hùng mạnh. Muốn vậy thì con người phải hiểu biết về quê hương đất nước, về địa lý, lịch sử, văn hóa… để cải tạo, bảo vệ, khơi thông cho sông hồ sạch sẽ, nhằm giữ long mạch, nuôi khí thiêng. Một nhà nghiên cứu phong thủy lâu năm khẳng định: “Sông hồ là mạch máu của Hà Nội, Hà Nội muốn tụ khí phải có hệ thống sông hồ đẹp đẽ, trong mát, thay vì đen sì như nước “cống Tô Lịch” hay bị lấp kín như hồ Bảy Mẫu, làm mạch máu yếu đi. Đấy mới là tâm linh, chứ chẳng có cái trục nào cả”.
Subscribe to:
Posts (Atom)