Sunday, January 31, 2010

Bài báo khó nhất năm 2009

Năm 2009 Trang the Ridiculous lên cơn lố bịch, húc đầu vào đá mấy lần, nói chung cuối cùng đá cũng vỡ mà đầu mình cũng vỡ. Tuy nhiên... thôi, chuyện đó không bàn đến ở đây khi đã trèo qua tường lửa. Nhìn lại thì năm 2009, bài sau đây là bài thật sự khiến tôi phải cân nhắc từng chữ một, và khi phỏng vấn thì phải biến mình thành một robot, nghĩa là cố gắng càng khách quan và lạnh lùng càng tốt.

Bài cũng mang lại cho Trang the Ridiculous một số phiền phức, nhưng... lại thôi, chuyện đó không bàn ở đây. Hôm nay nhân ngày 31/1 (chẳng biết là ngày gì, tí nữa phải check thử Today in History xem thế nào), xin cóp lại bài báo đó ở đây CHO VUI và xin các anh chị em, các bạn nghiên cứu luật học vui lòng cho ý kiến chỉ giáo.

* * *

http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1957

Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ tin mình sẽ thắng kiện

Khiếu kiện Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tuyên bố sẽ đưa đơn lên Tòa án Tối cao, và mới đây lại vừa khiếu nại Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội về thông báo “anh Cù Huy Hà Vũ không phải luật sư”, những việc ông Cù Huy Hà Vũ làm đang gây đủ tâm trạng cho dư luận trong và ngoài nước: ngạc nhiên, thắc mắc khó hiểu, thích thú, khâm phục, nghi ngờ và khó chịu.

Hy vọng cuộc phỏng vấn sau đây (kéo dài ba giờ đồng hồ) với TS Luật Cù Huy Hà Vũ có thể giải đáp phần nào những điều mà phần đông dư luận còn thắc mắc trong vụ “Cù Huy Hà Vũ kiện Thủ tướng”.

Cuộc trò chuyện diễn ra tại Văn phòng luật sư Cù Huy Hà Vũ trên đường Điện Biên Phủ (Hà Nội), sáng 30-6. Văn phòng gọn gàng, không quá xa hoa sang trọng, cũng không bình dân nhếch nhác. Bên ngoài, trên cả cổng chính quay ra đường Điện Biên Phủ lẫn cổng hậu trên đường Trần Phú, đều treo tấm biển vàng rực kẻ chữ đỏ nổi bật, mang phong cách… khẩu hiệu rõ nét. Lúc phóng viên đến, văn phòng đang nhộn nhịp khách ra vào. Trên tường treo vài bức tranh do ông Cù Huy Hà Vũ vẽ, trong đó có ký họa chân dung Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khá đẹp.

Chủ nhà – Tiến sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ – là một người đàn ông mập mạp, hơi thấp, tiếp phóng viên rất vồn vã cởi mở. Trên gương mặt ông vẫn phảng phất nhiều nét của thân phụ - nhà thơ quá cố Cù Huy Cận. Ông nói nhiều và nói to, phong thái tự tin toát lên rõ rệt.

Trong giới luật sư và luật học, Cù Huy Hà Vũ là một gương mặt nổi đình đám với nhiều vụ việc mang tính chất scandal, đến mức nhiều người nghĩ tới ông là nghĩ tới một nhân vật có “tiền sử” đi kiện các cơ quan chính phủ và làm những việc “chẳng giống ai”. Có thể kể tới vài vụ “Cù Huy Hà Vũ đáo tụng đình” điển hình như sau:
• Năm 2005, phản đối quan điểm cho rằng di tích đền Cẩu Nhi trên hồ Trúc Bạch (Hà Nội) gắn với việc Lý Thái Tổ định đô ở Thăng Long.
• Năm 2005, khởi kiện UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế về quyết định cấp phép đầu tư xây dựng khách sạn trên đồi Vọng Cảnh.
• Năm 2006, nộp đơn tự ứng cử vào chức Bộ trưởng Văn hóa - Thông tin (không được Thủ tướng lựa chọn vì lý do “đã có quy hoạch cán bộ từ trước”).
• Năm 2006, kiện album “Chat với Mozart” của ca sĩ Mỹ Linh xâm phạm bản quyền tác giả.
• Năm 2007, kiện Bộ Văn hóa - Thông tin về Quyết định của Bộ thành lập Phòng lưu niệm Nhà thơ Xuân Diệu, đòi bồi thường 100 triệu đồng thiệt hại tinh thần.

Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn với TS luật Cù Huy Hà Vũ. Trong cuộc trao đổi này, phóng viên và ông Hà Vũ nhiều lần phải ngắt lời nhau để hỏi, nhắc nhau trở lại các trọng tâm và để trình bày quan điểm của mình.


۩


“Không phải ai cũng kiện được Thủ tướng”

- Việc một công dân đâm đơn kiện Thủ tướng, theo tôi, đòi hỏi công dân đó phải có hiểu biết về luật pháp, nếu ở nước ngoài, có lẽ còn phải thuê luật sư tư vấn vì bị đơn trong trường hợp này thật đặc biệt. Đối với ông - một tiến sĩ luật, tất nhiên có kiến thức luật sâu rộng - ông mất bao lâu để thảo lá đơn này?

- Hai ngày, tính từ lúc tôi bắt đầu có ý định kiện, ngày mồng 9 tháng 6, cho tới khi tôi gửi đơn đến Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội, ngày 11 tháng 6. Mọi việc đều diễn ra trong thời gian Quốc hội họp (kỳ họp thứ năm, Quốc hội khóa XII).

- Ý định kiện Thủ tướng đã đến với ông như thế nào?

- Ý định kiện Thủ tướng nảy sinh sau khi tôi đọc báo đưa tin về kỳ họp Quốc hội, có một số đại biểu lên tiếng chất vấn Chính phủ về các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên.
Thực ra, kiện Thủ tướng đối với tôi là cực chẳng đã. Tôi đã từng hy vọng Chính phủ và Thủ tướng sẽ dừng việc khai thác bauxite tại Tấy Nguyên. Nhưng chúng ta đều đã chứng kiến việc Đại tướng Võ Nguyên Giáp gửi ba lá thư về chuyện bauxite, không một lá thư nào có hồi âm. Việc hàng nghìn trí thức ký tên vào bản kiến nghị gửi Quốc hội cũng vậy, không hề có phản hồi. Văn bản trả lời của Ủy ban Pháp luật Quốc hội còn đề nhầm tên Giáo sư Nguyễn Huệ Chi thành Giáo sư Nguyễn Thị Huệ, thì đủ thấy người ta coi thường mình đến thế nào.
Cho nên ngay lúc thấy các đại biểu chất vấn tại Quốc hội, tôi đã tự nhủ “thế này thì nguy quá”. Tôi thấy trước rằng việc chất vấn sẽ không đi đến đâu, Quốc hội nếu có tâm huyết thì cũng không thể hủy các dự án này nếu như cái gốc của các dự án là Quyết định số 167/2007/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007-2015, có xét đến năm 2025 (sau đây gọi tắt là Quyết định 167 – NV) vẫn còn đó. Thế rồi tôi nghĩ, lập pháp không mang lại hiệu quả thì tôi “chơi” tư pháp, và phải “chơi” ngay, không đợi kết thúc chất vấn.

- Cù Huy Hà Vũ lâu nay cũng là một cái tên “nổi” trong nhiều trường hợp khác nhau. Một số người vẫn thắc mắc, chưa hiểu động cơ gì đứng sau việc ông là công dân Việt Nam đầu tiên trong lịch sử kiện Thủ tướng Chính phủ. Họ cho rằng ông làm thế để lại một lần nữa “chơi nổi”. Sự thực thì mục đích của ông khi kiện Thủ tướng là gì?

- Tôi xin phép được dành thời gian nói hơi nhiều một chút, về gia cảnh và danh tiếng của bản thân, để chứng minh rằng tôi về mặt vật chất cũng như danh tiếng đều đã có thừa rồi. Tôi sinh ra trong gia đình dòng dõi về cả nghệ thuật lẫn chính trị. Ông nội tôi là Cù Huy Chương, từng làm chủ tịch xã thời Xô-viết Nghệ Tĩnh. Bố đẻ tôi là nhà thơ Cù Huy Cận. Bố nuôi, bác ruột tôi là nhà thơ Xuân Diệu…


۩

… Đến đây ông Cù Huy Hà Vũ dành khá nhiều thời gian để nói về dòng dõi gia đình và các thành công ông đã đạt được. Thân phụ ông là nhà thơ Cù Huy Cận (1919-2005), một trong những gương mặt nổi tiếng nhất của phong trào Thơ Mới, một bộ trưởng (Bộ trưởng Canh Nông) trong Chính phủ đầu tiên của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Theo ông Cù Huy Hà Vũ thì cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, và một số nhân vật khác, ông Cù Huy Cận đã là một trong những người đầu tiên ký vào bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo.

Ông Cù Huy Hà Vũ nói thêm rằng bản thân ông cũng tự tạo được danh tiếng cho mình chứ không dựa vào vị thế của gia đình. Ông có bằng Thạc sĩ Văn chương của Pháp, bằng Tiến sĩ Luật ở Đại học Sorbonne. Ông là Hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam, sở trường là thể loại ký họa chân dung, hiện đang nắm giữ một bộ sưu tập chân dung các nhân vật nổi tiếng trên chính trường Việt Nam do ông ký họa, trong đó có hai bức vẽ Đại tướng Võ Nguyên Giáp. “Đại tướng khen “Cù Huy Hà Vũ là người duy nhất trực họa tôi thành công”” – ông Vũ nói.

Ông cho biết cũng có nghiên cứu sử và từng chiến thắng trong vụ kiện bảo vệ di sản văn hóa đồi Vọng Cảnh, Đài Âm hồn (Huế), đền Cẩu Nhi ở hồ Trúc Bạch (Hà Nội).

Ở lĩnh vực văn học, ông nói đã viết bài phát hiện nhà văn Trần Tiêu (em ruột nhà văn Khái Hưng, ông nội của diễn viên Trần Lực) không phải là thành viên Tự lực Văn đoàn. Mọi người biết nhiều hơn đến ông trong vụ kiện hy hữu giữa hai nhà Kiều học Nguyễn Quảng Tuân và Đào Thái Tôn. Ở phiên phúc thẩm, bên nguyên thua kiện nhưng đại diện nguyên đơn Cù Huy Hà Vũ vẫn tươi cười rất hữu hảo với bên bị giữa chốn pháp đình.



- Trở lại câu chuyện kiện Thủ tướng, ông vẫn khẳng định đây không phải là trò “chơi trội” hay nhằm mục đích thu hút sự chú ý của dư luận tới Cù Huy Hà Vũ?

- Tôi xin nói là nếu là người cơ hội, thích PR, thì tôi đã có thể nhảy lên như con choi choi để phản đối chủ trương khai thác bauxite ngay từ đầu rồi. Đằng này tôi chờ đến khi ba lá thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, kiến nghị của hàng nghìn trí thức, đều đã gần như bị bỏ ngoài tai, bao nhiêu người nản rồi, tôi mới vào cuộc, tất nhiên bằng “sở trường” của tôi là pháp luật. Vụ đồi Vọng Cảnh năm 2005 cũng thế, mọi người thất bại hết rồi, không còn hy vọng gì nữa, tôi mới tham gia đấy chứ. Không phải cái gì tôi cũng đâm đơn kiện, cái gì khó, có khả năng bế tắc, tôi mới làm.

- Vâng, tuy nhiên việc nào khó tới mức không thể thực hiện thì chắc không ai dại gì lao vào. Còn ông thì, theo như ông nói, đến thời điểm bao nhiêu người nản rồi, ông mới vào cuộc. Có phải bởi vì ông tự tin rằng, vụ việc khó nhưng chắc chắn ông sẽ làm được?

- Tôi chắc chắn. Vì thứ nhất, tôi rất hiểu toàn bộ Ban Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay. Nên nhớ tôi là con dòng cháu giống của một người từng làm công tác nội chính. Nói cách khác, tôi là con nhà “nòi” chính trị nên kiện Thủ tướng – một hành vi chính trị theo nghĩa nào đó – là rất thích hợp với tôi.
Thứ hai, tôi dựa trên luật pháp và tôi đúng về mặt luật pháp.
Thứ ba, tôi có cái tâm, tôi có chính nghĩa. Nói cho đúng, tôi chỉ làm cái việc mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp và hàng nghìn người ký Kiến nghị đã và đang làm là yêu cầu Nhà nước chấm dứt việc khai thác bauxite tại Tây Nguyên chí ít vào thời điểm này, do những hiểm họa khôn lường đối với đất nước mà nó mang lại.
Và thứ tư, rất quan trọng, tôi có cái uy. Nếu không cần uy thì chẳng nhẽ đến anh xe ôm ngoài đường kia cũng kiện được Thủ tướng à?
Tóm lại, tôi cho cách chống những gì đang diễn ra trong vụ khai thác bauxite của tôi sẽ là một biện pháp hiệu quả, sau khi một số biện pháp khác không thành công.

- Hàng ngày, văn phòng tiếp nhận đơn khiếu nại, đơn kiện ở tòa án chắc cũng đầy đơn mới. Ông làm cách nào để lá đơn của ông không những không bị chìm giữa các đơn khác, mà còn được dư luận chú ý đến thế?

- Tôi xác định đây là một vụ kiện liên quan đến lợi ích của cả cộng đồng vì các vấn đề như môi trường, quốc phòng, di sản văn hóa, càng nhiều người biết càng tốt, nên ngay sau khi gửi đơn tới Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội, tôi đã gửi bản photo đơn gốc đến một số tờ báo lớn trong nước: "VietNamNet", "Tuổi Trẻ", "VnExpress", "Dân Trí", "Tiền Phong"… Sau đó, RFI (Radio France Internationale – Đài Phát thanh Quốc tế Pháp) là cơ quan truyền thông đầu tiên gọi điện phỏng vấn tôi dù tôi không có liên hệ với họ, rồi đến các báo khác ở nước ngoài.

- Gần đây có một số ý kiến phân tích cho rằng đơn kiện Thủ tướng của ông còn nhiều sơ hở về mặt luật học nên bị bác. Khi đệ đơn kiện, ông có nghĩ đơn sẽ bị bác không?

- Không phải là đơn bị bác, mà là bị Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trả lại như chính tiêu đề “Thông báo trả lại đơn khởi kiện” của Tòa án đã chỉ rõ. Cũng có thể nói đơn đã không được Tòa thụ lý. Nhân đây cần nói rằng “bác đơn” chỉ có thể áp dụng trong trường hợp Hội đồng Xét xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tức đơn khởi kiện đã được Tòa án thụ lý và vụ án đã được đưa ra xét xử.
Ngày 11 tháng 6, tôi gửi đơn đến Tòa, thì đến 15 tháng 6, Tòa có thông báo trả lời tôi rằng “theo quy định tại Điều 12, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, thì Tòa án chỉ có thẩm quyền giải quyết đối với những khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính của Bộ, cơ quan ngang Bộ, và cấp tương đương trở xuống và quyết định hành chính, hành vi hành chính của thủ trưởng các cơ quan đó. Do đó, việc ông khởi kiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án bằng vụ án hành chính”.
Như vậy, Tòa án Hà Nội trả lại đơn là do không đủ thẩm quyền xét xử Thủ tướng. Điều này tôi hoàn toàn biết ngay từ lúc nộp đơn. Nhưng tôi cũng đã tính hết cả rồi. Không tòa án này thì tòa án khác giải quyết đơn kiện của tôi.

- Vậy thì Tòa án nào ở Việt Nam có thẩm quyền xét xử Thủ tướng? Có văn bản nào quy định điều này không, thưa ông?

- Theo logic của chính Thông báo của Tòa án Hà Nội thì đó sẽ là Tòa án Nhân dân Tối cao, vì trên Tòa án Hà Nội nói riêng, tòa án cấp tỉnh nói chung, không còn tòa án nào khác.
Theo logic ấy, nếu Tòa Hà Nội chỉ đủ thẩm quyền xét xử từ cấp Bộ trở xuống, thì Tòa Tối cao “chắc” là Tòa đủ quyền thụ lý đơn khởi kiện Thủ tướng Chính phủ.

- Vậy tại sao ông không gửi đơn lên thẳng Tòa án Nhân dân Tối cao ngay, mà vẫn gửi đến Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội trước để khỏi bị trả lại đơn?

- Tôi và Thủ tướng Chính phủ, tức nguyên đơn và bị đơn, đều ở Hà Nội, nên việc tôi gửi đơn khởi kiện đến Tòa án Hà Nội là theo nguyên tắc đơn khởi kiện phải được gửi ra Tòa án nơi nguyên đơn và/hoặc nơi bị đơn cư trú.
Ngoài ra, đây cũng là suy tính của tôi. Tôi muốn làm mọi chuyện “bung ra” một cách có hệ thống, từ dưới lên trên.

- Bây giờ nói về khía cạnh kỹ thuật của đơn kiện. Như ông nêu trong đơn, nó dựa trên nguyên tắc pháp luật “chủ thể của mọi hành vi – ban hành văn bản hành chính, lời nói, hành động… - trái pháp luật” đều là đối tượng khởi kiện, nếu chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.
Nhưng, có ý kiến cho rằng, Quyết định 167 mà Thủ tướng ban hành lại không phải là một quyết định hành chính (tức văn bản áp dụng pháp luật) mà là một văn bản quy phạm pháp luật. Do vậy, đơn kiện không đủ căn cứ pháp lý. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

- Tôi thấy ý kiến này hoàn toàn vớ vẩn, nhầm lẫn giữa phạm trù (quy phạm pháp luật) và tính chất (hành chính). (Giở sách, đọc nhấn từng chữ) Điều 109 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam định nghĩa “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, là cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam”. Điều 4 Luật tổ chức Chính phủ quy định “Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ”, tức người đứng đầu cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất. Thủ tướng có thẩm quyền ban hành quyết định, chỉ thị, theo Điều 15 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Vậy quyết định của Thủ tướng không phải là quyết định hành chính thì là cái gì? Điều đáng lưu ý là quyết định hành chính của Thủ tướng có thể là văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản áp dụng pháp luật.

- Xin phép hỏi vượt ra ngoài vụ kiện Thủ tướng này một chút. Giả sử rằng đây là một văn bản quy phạm pháp luật, thì liệu có kiện được chủ thể ban hành nó không? Nói cách khác, công dân Việt Nam có quyền khởi kiện một đạo luật đã được ban hành không?

- Không được, vì luật pháp Việt Nam hiện hành chỉ quy định về khởi kiện đối với quyết định hành chính. Vả lại Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao do Quốc hội bầu ra nên Quốc hội có quyền bãi bỏ các văn bản của Tòa án Nhân dân tối cao chứ không có chuyện ngược lại. Rõ ràng đây là một bất cập vì văn bản do Quốc Hội ban hành, trong đó có luật, rất có thể trái Hiến pháp.
Ở những nước có nền luật pháp tiến bộ, họ có Tòa án Hiến pháp, độc lập tuyệt đối và có quyền xem xét hủy bất cứ luật nào Quốc hội ban hành nếu thấy trái với Hiến pháp. Ở ta không có Tòa án Hiến pháp. Quốc hội tuy trên văn bản, giấy tờ là có quyền bãi bỏ các quyết định trái pháp luật của Thủ tướng, nhưng thực tế chưa bao giờ làm thế cả.

- Đó là về căn cứ pháp lý của đơn kiện. Còn về tư cách khởi kiện của ông thì…?

- Tôi khởi kiện Thủ tướng với tư cách cá nhân và điều này được luật pháp cho phép.
Ngay khi có ý định dùng nhánh tư pháp để chống sự khai thác bauxite trong vụ này, tôi đã nghiên cứu báo cáo mà Chính phủ trình Quốc hội về dự án và tôi thấy ngay rằng những điểm yếu về môi trường là kẽ hở để tôi tận dụng. Theo Điều 128 Luật Bảo vệ môi trường thì “tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền hoặc khởi kiện tại Tòa án về hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình”. Như vậy, tôi hay bất kỳ công dân Việt Nam nào khác cũng hoàn toàn có quyền khởi kiện Thủ tướng ban hành quyết định vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.
Việc Tòa án Hà Nội trả lại đơn khởi kiện với lý do không đủ thẩm quyền giải quyết đơn kiện Thủ tướng cũng đã xác nhận tư cách khởi kiện của tôi. Còn chuyện người ta bảo tôi không phải luật sư, tôi là công chức Bộ Ngoại giao, thì trong đơn, tôi đâu có ghi người khởi kiện là luật sư, công chức Bộ Ngoại giao Cù Huy Hà Vũ đâu. Và xin nhấn mạnh là cho dù có làm nghề gì, tôi cũng có quyền kiện Thủ tướng hết, miễn là tôi chưa bị mất quyền công dân.

- Vậy ông có tính tới khả năng đơn kiện của ông bị vô hiệu lực, khi người ta chứng minh được ông phạm tội gì đó và vì thế, ông bị tước quyền công dân?

- Không bao giờ có khả năng này cho dù người ta có muốn đến đâu! Tôi chưa bao giờ làm gì phạm pháp cả.

- Nhưng ông có thể có những sai sót trong kinh doanh, ví dụ chưa đủ tư cách hành nghề thì đã mở công ty tư vấn luật?
- Văn phòng luật sư Cù Huy Hà Vũ là do vợ tôi, Nguyễn Thị Dương Hà, đứng tên giám đốc. Văn phòng được thành lập đúng thủ tục và hoạt động tuân thủ pháp luật.

- Ông có phải luật sư không, theo quy định của luật pháp Việt Nam?

- Tôi có đủ điều kiện về bằng cấp, và tôi từng cãi cho một số vụ kiện dân sự. Theo luật thì tôi được phép bào chữa cho các vụ kiện dân sự.
Tôi chưa bao giờ xưng danh luật sư bởi tôi đang là công chức Bộ Ngoại giao, mà theo Luật luật sư thì công chức không được làm luật sư. Thực tế là tôi cũng chưa từng xin tham gia đoàn luật sư nào cả. Việc Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội đột nhiên ra văn bản nói rằng tôi không phải thành viên của họ, quả thật rất vô lý và vô duyên, vì tôi có xin vào đó bao giờ đâu.


۩

“4 khả năng phản ứng của Tòa án Nhân dân Tối cao”

- Ông nói rằng ông đã lường trước hết và tính toán tất cả, ví dụ ngay khi gửi đơn cho Tòa án Nhân dân Thành phố Hà Nội, ông đã biết trước đơn sẽ không được thụ lý vì Tòa không đủ thẩm quyền. Vậy nếu ngay cả Tòa án Nhân dân Tối cao cũng không đủ thẩm quyền thì sao?

- Điều 127 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định: “Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể thành lập Tòa án đặc biệt”. Chuyện một công dân khởi kiện Thủ tướng là việc chưa từng có tiền lệ ở Việt Nam, nên đây là “tình hình đặc biệt” rồi. Tòa Tối cao sẽ phải báo cáo Quốc hội, đề nghị thành lập một tòa án đặc biệt để thụ lý vụ việc.

- Ông dự đoán Tòa án Nhân dân Tối cao sẽ phản ứng ra sao với đơn kiện Thủ tướng của ông? (Ngày mồng 3 tháng 7, ông Cù Huy Hà Vũ đã gửi đơn kiện Thủ tướng tới Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao).

- Tôi xác định là phản ứng của Tòa Tối cao không nằm ngoài bốn khả năng sau:
Thứ nhất, Tòa Tối cao sẽ thụ lý đơn kiện. Trong trường hợp này, chắc chắn tôi sẽ thắng kiện, vì Tòa không thể vin vào luật nào mà cãi cho Thủ tướng được.
Thứ hai, Tòa Tối cao sẽ báo cáo Quốc hội, đề nghị thành lập Tòa án đặc biệt để thụ lý đơn kiện.
Thứ ba, bản thân Tòa Tối cao cũng không xác định nổi tòa án nào ở Việt Nam có thẩm quyền thụ lý vụ việc.
Và thứ tư là… lờ lớ lơ. Tức là Tòa sẽ chẳng nói gì cả. Tuy nhiên, tôi tin là không có khả năng này, bởi vì Tòa bắt buộc phải có hướng dẫn đối với một công dân đang trong quá trình tố tụng. Tôi cũng chỉ là một công dân, chẳng có gì đáng sợ để Tòa phải tránh trả lời.

- Hai khả năng đầu có vẻ tích cực. Khả năng thứ tư ông cho rằng sẽ không thành hiện thực. Vậy còn khả năng thứ ba, nếu ngay cả Tòa Tối cao cũng chịu, không có cách giải quyết nào, thì ông sẽ làm gì tiếp theo?

- Đến lúc đó thì tôi sẽ làm đơn gửi Quốc hội, đề nghị Quốc hội xác định tòa án nào có thể thụ lý vụ việc của tôi. Tất nhiên tôi sẽ gợi ý khả năng thành lập Tòa án đặc biệt.
Tôi sẽ làm tới cùng. Tôi sẽ đẩy vụ việc tới mức Tòa án buộc phải thụ lý đơn kiện.

- Nếu Quốc hội không làm theo gợi ý của ông thì sao?

- Điều này có nghĩa là Quốc hội xóa sổ nguyên tắc “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật” được quy định tại Điều 52 Hiến pháp. Một khi Hiến pháp bị chính cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước vi phạm thì còn gì để nói nữa! Thế giới người ta sẽ nghĩ sao về Nhà nước này? Như vậy, từ một lá đơn của tôi mà đã đập tung cả cơ chế, cả hệ thống luật, từ dưới lên trên. Đó là cách làm của tôi.

- Ông dự đoán khả năng nào sẽ xảy ra?

- Tôi nghĩ họ sẽ rút lại chủ trương khai thác bauxite Tây Nguyên, bởi vì thà rút còn hơn đưa Thủ tướng ra tòa xử. Nếu đưa ra tòa, tôi cũng sẽ thắng kiện với những chứng lý mà tôi đã trình bày rõ trong đơn. Tất nhiên tôi cũng hiểu việc rút lại dự án có thể gây một số hậu quả cho Nhà nước trong quan hệ với Trung Quốc. Có thể sẽ phải tính đến khả năng bồi thường cho nhà thầu Trung Quốc vì đã đơn phương hủy hợp đồng, như Australia mới đây đã làm cũng với nhà thầu Trung Quốc. Tuy nhiên, tôi xác định là cứ từ từ đã, làm từng bước một. Và nhất thiết là Nhà nước với nhân dân phải cùng xử lý tình hình. Lo bên ngoài trước đã rồi trong nhà mới ngồi lại bàn chuyện sai, đúng, luận tội sau.

- Tiền bồi thường lấy từ đâu ra, nếu không phải từ tiền thuế mà dân đóng góp, mà người dân đâu có lỗi gì?
- Tôi tin rằng toàn thể người dân Việt Nam vì lợi ích của chính mình sẽ chung tay cùng Thủ tướng và Chính phủ để lo khoản bồi thường này.

- Từ hôm kiện Thủ tướng, ông có gặp bất kỳ một phản ứng nào từ phía cơ quan công quyền không? Hạ nhục, làm mất uy tín ông chẳng hạn?
- Hoàn toàn không. Không một lời đe dọa hay khuyên nhủ, không một tin nhắn. Chỉ có chuyện Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội ra thông báo nói rằng tôi không phải luật sư, nêu đích danh “anh Cù Huy Hà Vũ”. Tôi sẽ kiện họ tội xâm phạm danh dự, uy tín công dân.
(Ngày mồng 1 tháng 7, ông Cù Huy Hà Vũ đã có đơn khiếu nại về thông báo của Đoàn Luật sư Thành phố Hà Nội).

- Ông có nghĩ tới một khả năng nào gọi là xấu nhất, cho chính ông không?

- Tôi chẳng sợ. Tôi nói rồi, tôi đã tính rất cẩn thận. Khi xác định đi kiện Thủ tướng là tôi đã biết sẽ phải “đấu trí” rồi. Tôi kiện Thủ tướng là trên cơ sở luật pháp và vì vậy luật pháp sẽ bảo vệ tôi.
Tôi có những nguyên tắc của tôi:
1. Tôi dựa vào Hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, trong đó Điều 52 quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”.
2. Tôi dựa vào Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, trong đó quy định “Mọi quyết định hành chính đều có thể là đối tượng bị khởi kiện”.
3. Tôi dựa vào nguyên tắc chung của luật pháp trên toàn thế giới: Công dân được quyền làm những gì luật pháp không cấm. Nhà nước, cơ quan công quyền chỉ được quyền làm những gì luật pháp cho phép. Và tôi kiện Thủ tướng với tư cách một công dân.

Friday, January 22, 2010

BÁ QUYỀN VĂN HÓA ĐE DỌA VIỆT NAM

Nhìn vào độ chiếm sóng của phim Trung Quốc trên các đài truyền hình ở Việt Nam, nhiều người lo ngại về khả năng Việt Nam bị “đồng hóa” bởi anh bạn láng giềng. Khả năng đó có thật, và nó là biểu hiện của một hình thức bá quyền tinh vi: bá quyền văn hóa - một phần quan trọng trong chính sách bá quyền của nước lớn, một xu hướng đang phát triển mạnh mẽ.

* GIAI ĐIỆU CHỦ

Câu chuyện bắt đầu từ năm 1987...

Tháng 3-1987, Bộ Phát thanh - Truyền hình Trung Quốc triệu tập một hội nghị gồm đại diện của tất cả các đơn vị sản xuất truyền hình khắp cả nước. Tại đây, Bộ cảnh báo về xu hướng "giải trí hóa" phim ảnh trên sóng truyền hình, đồng thời đưa ra chính sách mới: tích cực, chủ động dồn lực sản xuất những bộ phim "giai điệu chủ" nhằm mục đích truyền bá lịch sử, văn hóa, tư tưởng và thẩm mỹ của Trung Hoa tới mỗi người dân Trung Quốc và thế giới.

Chính sách này phân loại phim truyền hình thành một số thể loại chính, nằm trong một khái niệm chung mà Chủ tịch Giang Trạch Dân gọi là "giai điệu chủ":

• Dòng phim về những đề tài mang tính thực tiễn, ca ngợi người tốt việc tốt - gọi chung là phim "thần tượng tuổi trẻ";

• Dòng phim cổ trang, gồm phim lịch sử ("Tam Quốc Diễn Nghĩa", "Vương triều Ung Chính", "Khang Hy", "Thái Bình Thiên Quốc"…), dã sử ("Tể tướng Lưu Gù", "Hoàn Châu Cách Cách"...)

• Dòng phim gia tộc luân lý ("Mùa quít chín", "Gia tộc Kim Phần"…)

• Dòng phim cách mạng, dựng lại ngữ cảnh thời xưa ("Khát vọng", "Câu chuyện Thượng Hải"…) hoặc tái hiện chân dung những nhân vật nổi tiếng (Tôn Trung Sơn, Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình…)

• Dòng phim hình sự, chống tham nhũng ("Xứng danh anh hùng", "Khống chế tuyệt đối"…)

Những phim này được Nhà nước hỗ trợ nhiều mặt, chẳng hạn ưu tiên chiếu ở các đài địa phương lớn vào giờ vàng.

Đặc biệt, chúng nằm trong kế hoạch tuyên truyền của Nhà nước: Tất cả các phim, chỉ trừ dòng hình sự, chống tham nhũng, đều được hỗ trợ xuất khẩu, nhằm mục đích cao nhất là phổ biến "giá trị Trung Hoa" tới các quốc gia trong khu vực.

Trong số những nước mà Trung Quốc hướng tới, Việt Nam nổi lên như một tiền đồn, bởi "đây là nước Đông Nam Á duy nhất chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc thay vì văn hóa Ấn Độ", như lời tác giả Hạo Kiện viết trong cuốn "Phim truyền hình Trung Quốc - nghiên cứu văn hóa và nghiên cứu loại hình" (NXB Điện ảnh Trung Quốc, 2008).

Phần lớn các phim "giai điệu chủ" đã được giới thiệu ở Việt Nam, khán giả nước ta chẳng xa lạ gì với chúng. Các phim đều được xuất khấu với giá hết sức ưu đãi sang Việt Nam, thậm chí một số phim cho không (như "Khát vọng", "Tây du ký", "Vương triều Ung Chính") theo thỏa thuận hợp tác giữa các đài truyền hình hai nước.

* Ồ ẠT “XÂM LĂNG VĂN HÓA”

Song song với việc xuất khẩu các sản phẩm văn hóa, nhất là phim truyền hình, sang các nước trong khu vực mà đặc biệt là Việt Nam, Trung Quốc cũng tiến hành "Trung Hoa hóa" các sản phẩm của những nước này.

Bất chấp việc giới truyền thông Việt Nam đưa tin đậm về những phim hợp tác giữa hai nước như "Hà Nội Hà Nội" hay "Nguyễn Ái Quốc ở Hong Kong", các bộ phim này chưa bao giờ được ưu tiên chiếu giờ vàng trên sóng truyền hình của bất cứ đài nào ở Trung Quốc. Ví dụ, "Hà Nội Hà Nội" chỉ được phát trên đài tỉnh Quảng Tây, Nam Ninh vào lúc… đêm khuya thanh vắng.

Với nhiều tác phẩm điện ảnh và truyền hình nổi tiếng đến từ các nước khác, Trung Quốc thực hiện làm mờ tính nước ngoài của chúng. "Vua Kungfu" (Forbidden Kingdom) dù là phim của Mỹ và từ đạo diễn đến quay phim, phục trang đều là người Mỹ, nhưng khi đến đại lục, phim mặc nhiên được giới truyền thông nhào nặn thành sản phẩm Trung Hoa.

Lý Mỹ Kỳ (Maggie Q), mẹ là người Việt, cha mang quốc tịch Mỹ, sinh tại Hawaii, nhưng vẫn bị đa số khán giả Trung Quốc nghĩ là người Hoa

Các ngôi sao châu Á của Hollywood cũng bị "Trung Hoa hóa" tương tự. Khán giả Trung Quốc nói riêng và châu Á nói chung dễ lầm tưởng rằng Dương Tử Quỳnh, Maggie Q. (Lý Mỹ Kỳ - mẹ là người Việt Nam) là người đại lục.

Trung Quốc cũng khéo léo lờ đi chuyện quốc tịch của nhiều diễn viên nổi tiếng trong nước họ: Hầu như rất ít người biết rằng ngôi sao Trương Thiết Lâm mang quốc tịch Anh, Tư Cầm Cao Oa là người Thụy Sĩ, Ninh Tĩnh là người Pháp, còn mỹ nhân Chương Tử Di gốc gác Hong Kong.

* ĐẰNG SAU CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU VĂN HÓA CỦA TQ

Một nước lớn với dân số hùng hậu như Trung Quốc khó mà chấp nhận tầm ảnh hưởng ít ỏi ở thế giới. Và trên con đường "trỗi dậy hòa bình" để trở thành bá quyền ít nhất là trong khu vực, Trung Quốc mau chóng nhận thấy sức mạnh của văn hóa - thứ "quyền lực mềm" đầy quyến rũ.

Chẳng riêng Trung Quốc biết điều đó. Như một nhà nghiên cứu người Hungary, Márkus Péter, đã viết: Trong lịch sử quan hệ quốc tế, thoạt tiên, khi không có sự khác biệt đáng kể trong kỹ thuật, sức mạnh chân tay - quân sự thô kệch còn chiếm vai trò chế ngự. Thế kỷ 16-19, những mối quan hệ kỹ thuật - kinh tế từng bước chiếm ưu thế. Từ thế kỷ 20, văn hóa và truyền thông bắt đầu lên ngôi.

Bên cạnh kinh tế và quân sự, các quốc gia sẽ thực hiện cả tham vọng gây ảnh hưởng và lấn át các nước khác trên bình diện văn hóa, tư tưởng. Sau Chiến tranh Lạnh, ở châu Âu, bên cạnh ngoại giao về chính trị và kinh tế, thì ngoại giao văn hóa ngày càng nở rộ, và dần dần sẽ trở thành hình thức bá quyền chủ yếu.

Pháp và Đức là hai quốc gia rất chú trọng tới vấn đề "bá quyền văn hóa" này. Các hoạt động “xuất khẩu văn hóa” của họ được tiến hành mạnh mẽ. Chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy điều đó ngay tại Việt Nam: Chương trình hoạt động thường niên của Trung tâm Văn hóa Pháp (L’Espace) và Viện Goethe sôi nổi hơn hẳn so với Hội đồng Anh (British Council) hay Viện Cervantes của Tây Ban Nha.

Và đến đây thì chúng ta cũng có thể nhận thấy những hình thức ngoại giao văn hóa mà Trung Quốc đang tiến hành đối với Việt Nam, trong nhiều ví dụ thực tế. Phim truyền hình Trung Quốc chiếm sóng các đài ở Việt Nam, cả trung ương lẫn địa phương. Khán giả thuộc sử Trung Quốc hơn sử Việt Nam. Các ca sĩ thời thượng rành rẽ về trang phục của đời Thanh và chắc chắn là sẽ không trả lời được câu hỏi vua chúa nhà Nguyễn ngày xưa ăn mặc như thế nào.

Ngay trong giới trí thức, tâm lý sùng bái văn hóa Trung Hoa đã rất nặng. Một số đông trí thức Việt Nam có thể dễ dàng trích dẫn các điển tích, điển cố của Trung Hoa thay vì của phương Tây hay thậm chí của chính nước mình. Nói tới văn hóa Trung Hoa là nói tới một nền văn học với những tác phẩm vĩ đại, tới triết học thâm sâu, tới sân khấu kinh kịch có sức sống trường tồn, tới điện ảnh với những nhân tài mà ngay cả Hollywood cũng phải kiêng nể.

Điều này không sai, tuy nhiên, cái đáng nói ở đây là nhiều trí thức Việt Nam luôn vị nể quá mức thay vì đặt văn hóa Trung Hoa vào tương quan đúng mực với các nền văn hóa khác trên thế giới - cũng rực rỡ và vĩ đại như thế.

Khái niệm bá quyền văn hóa - tư tưởng mãi tới thập niên 30 của thế kỷ 20 mới ra đời (1). Trên thực tế, Trung Quốc đã thực hiện bá quyền văn hóa - tư tưởng với láng giềng Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua. Ngày nay, với sự phát triển của truyền thông, dường như cuộc "xâm lăng văn hóa" này diễn ra một cách mạnh mẽ và rõ ràng hơn bao giờ hết.

* VẤN ĐỀ TỪ PHÍA NHỮNG KẺ BỊ “XÂM LĂNG”

Bá quyền không đơn thuần là sức mạnh bạo lực, vì vậy, để có được bá quyền, không thể thiếu được cách cư xử mang tính đồng thuận, chấp nhận và góp phần của những kẻ bị bá quyền.

Riêng trên địa hạt văn hóa - tư tưởng, các học giả nghiên cứu về bá quyền văn hóa đều cho rằng bá quyền văn hóa, nếu được thực hiện, không thể thiếu sự đồng thuận một phần hoặc toàn thể của kẻ bị bá quyền.

Như thế, việc Trung Quốc tiến hành bá quyền văn hóa thành công còn phụ thuộc cả vào cách cư xử của nước bị bá quyền, ở đây là Việt Nam.

Điều đó nghĩa là Việt Nam cần có thái độ và ứng xử phù hợp. Chẳng hạn, nên có sự trao đổi văn hóa song phương với Trung Quốc một cách tương xứng.

Việt Nam có thể thỏa thuận các chương trình trao đổi văn hóa với Trung Quốc, theo đó, đồng thời với việc nhập khẩu các sản phẩm văn hóa của nước láng giềng, Việt Nam sẽ xuất khẩu văn hóa theo hướng ngược lại, xuất bản sách, tổ chức những ngày văn hóa, tuần văn hóa Việt Nam... tại Trung Quốc.

Theo một thống kê (3) được công bố trên tờ "China Daily", năm 2004, Trung Quốc nhập khẩu 4.000 đầu sách từ Mỹ, nhưng chỉ xuất khẩu 14 đầu sách sang nước này; nhập 2.000 đầu sách từ Anh, nhưng chỉ xuất sang đây 16 đầu sách.

Từ năm 1999 đến năm 2002, hơn 280 đoàn nghệ thuật Nga biểu diễn ở Trung Quốc, trong khi chỉ có 30 đoàn nghệ thuật Trung Quốc sang biểu diễn tại Nga. Giai đoạn 2000-2004, Trung Quốc nhập khẩu trên 4.000 phim và chương trình truyền hình, nhưng xuất khẩu không đáng kể. Dòng phim "giai điệu chủ" hầu hết chỉ tiêu thụ được ở khu vực Đông Nam Á mà trong đó Việt Nam là "tiền đồn".

Đã đành Nga, Mỹ và Anh là ba nước lớn nên Trung Quốc không dễ tiến hành bá quyền văn hóa như với Việt Nam. Nhưng ngay cả một quốc gia nhỏ bé ở Đông Âu là Hungary - diện tích chỉ bằng một phần ba Việt Nam, dân số 10 triệu - thì cũng từng tổ chức Năm Văn hóa Hungary tại Trung Quốc (2007-2008), và dựng tượng đại thi hào dân tộc Petőfi Sándor ở Thượng Hải.

Những thông tin này có gợi cho chúng ta một suy nghĩ gì chăng?


*****

(1) Khái niệm “bá quyền văn hóa” (cultural hegemony) do Antonio Gramsci (1891 - 1937) - triết gia chính trị, sáng lập viên Đảng Cộng sản Ý - đưa ra từ những năm 30 của thế kỷ trước. Gramsci cho rằng, để có được và duy trì quyền lực chính trị, giai cấp vô sản phải thực hiện bá quyền văn hóa, phải có tiếng nói thống trị trong truyền thông đại chúng và giáo dục, cũng như phải tiến hành kiểm soát toàn diện trên bình diện tư tưởng và tín ngưỡng.

(2) Đầu tháng 4, Văn phòng Chính phủ đã có công văn số 1992/VPCP-QHQT gửi Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Văn phòng Trung ương Đảng thông báo ý kiến của Thủ tướng Chính phủ cho phép thành lập thí điểm một học viện Khổng Tử tại Việt Nam.

Học viện này có chức năng đào tạo tiếng Trung, tư vấn du học, tổ chức các hoạt động văn hóa. Trung Quốc có kế hoạch thiết lập khoảng 100 học viện Khổng Tử tại nhiều nước nhằm mục đích phổ biến văn hóa Trung Hoa ra thế giới.

Truyền bá văn hóa của đất nước mình là điều bất kỳ chính phủ nào cũng nên làm. Vấn đề chỉ là làm sao để có sự trao đổi văn hóa song phương và mọi quan hệ đều là hợp tác tương hỗ.

(3) Số liệu lấy từ bài "Trung Quốc tăng cường trao đổi văn hóa" trên "China Daily". Báo "Người đại biểu nhân dân" dịch và đăng lại, 26-12-2006.

Bài đăng trên Nhịp Cầu Thế Giới: http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=1895

17.05.2009

Saturday, January 16, 2010

BẢN GỐC ĐÂY - mình không chịu trách nhiệm về bài trên VNN

PHÁT NGÔN ẤN TƯỢNG: KHUYẾN KHÍCH SV DẤN THÂN VÌ CHỦ QUYỀNn

Bên cạnh phát ngôn khẳng định và huy động sức mạnh của sinh viên, tuần vừa qua cũng chứng kiến nhiều phát ngôn khác liên quan tới “dân”, tới “trí tuệ tập thể”, tuy nhiên lại không mang nhiều tích cực như vậy.

*****

Khuyến khích sinh viên dấn thân bảo vệ chủ quyền đất nước

Phó Bí thư thường trực Thành ủy TP.HCM Nguyễn Văn Đua khẳng định tại Đại hội Đải biểu Sinh viên Việt Nam: “Chủ quyền quốc gia là thiêng liêng, bảo vệ chủ quyền đất nước là nghĩa vụ của mọi người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ… Chúng ta cần nhận thức rõ điều đó và thực hiện nó bằng sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc. Hơn ai hết và hơn lúc nào hết, tôi nghĩ đây chính là lúc các bạn trẻ thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của chính mình...”. (VietNamNet)

Nếu ông Nguyễn Văn Đua là thầy giáo, sau khi phát biểu như vậy trên bục giảng, chắc chắn ông sẽ được sinh viên vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Bởi vì lời khẳng định ấy quá “trúng” tâm lý sinh viên.

Lời khẳng định ấy là sự bác bỏ những ý kiến theo kiểu “truyền thống” trước đây, rằng nhiệm vụ của lớp trẻ là học cho giỏi, lao động cho hăng say, còn những chuyện quốc gia đại sự như biên giới, quan hệ quốc tế, chủ quyền của đất nước… là việc của lãnh đạo, của Nhà nước, đã có Nhà nước và các cấp lãnh đạo lo, các bạn trẻ chỉ nên làm tốt nhiệm vụ của mình.

Trên thực tế, việc sinh viên muốn dấn thân bảo vệ chủ quyền đất nước vừa xuất phát từ tình cảm rất thiêng liêng, từ lòng nhiệt tình và tự hào dân tộc của tuổi trẻ, vừa từ bổn phận, trách nhiệm công dân.

“Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”, huống chi sinh viên là những trí thức trẻ. Trong điều kiện đất nước hiện nay, tài năng và nhiệt tình của tầng lớp trí thức trẻ này càng cần được huy động, hay như ông Đua nói, “đây chính là lúc các bạn trẻ thể hiện bản lĩnh và trí tuệ của mình”. Sinh viên không thể chỉ cắm cúi học và học, mặc kệ quốc gia, nhường phần yêu nước cho người khác “lo hộ”.

***

Giá công an khẩn trương vào cuộc

Trả lời phỏng vấn về vụ ba phóng viên (của báo Tiền Phong và Người Lao Động) bị hành hung cùng một ngày, ông Nguyễn Quang Thống, Trưởng ban Kiểm tra Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam, cho rằng cần xử lý rốt ráo vụ việc; nếu không, các phóng viên không được bảo vệ sẽ nản lòng trong việc đấu tranh với tiêu cực xã hội.

Tiếc thay, trên thực tế, theo như ông Thống phản ánh, tỷ lệ hồi đáp cho các vụ việc mà Hội Nhà báo có yêu cầu xử lý chỉ đạt khoảng 50%. Ông giải thích là do “có những vụ họ vẫn làm nhưng không thông tin lại cho mình; có những vụ cơ quan chức năng không vào cuộc do cho rằng vụ việc không nghiêm trọng, hoặc cho rằng vụ việc xảy ra do lỗi giữa nạn nhân (phóng viên) và hung thủ là ngang nhau…”. (Tiền Phong)

Có thể tin tưởng rằng, các chiến sĩ công an của chúng ta có nghiệp vụ rất tốt (cứ nhìn vào sự ổn định chính trị và tỷ lệ tội phạm thấp trong một số lĩnh vực ở ta, đặc biệt nếu so với các nước trong khu vực) là thấy. Thậm chí có thể phát biểu một cách khách quan rằng trong vô số vụ việc phải xử lý, cơ quan điều tra có thể phá án trong thời gian ngắn ngủi, gần như “muốn là được”.

Bản thân ông Thống cũng nói thêm: “Kinh nghiệm cho thấy, chỗ nào mà sau khi xảy ra sự việc cơ quan công an vào cuộc rốt ráo, thì xử lý rất nhanh...”.

Như vậy có lẽ nguyên nhân quan trọng của việc cơ quan chức năng chậm xử lý các đề nghị của Hội Nhà báo là “không vào cuộc do cho rằng vụ việc không nghiêm trọng”, hoặc tồn tại một lý do nào khác khiến cơ quan chức năng cảm thấy chưa cần ra tay xử lý rốt ráo vụ việc. Hay đó là…

***

… vụ việc nhạy cảm?

Cũng liên quan tới vụ phóng viên bị hành hung, ngày 12/1, Bí thư Tỉnh ủy Hà Tĩnh Nguyễn Thanh Bình có cuộc trao đổi với báo Tiền Phong, là tờ báo có phóng viên gặp nạn: “Vụ phóng viên Tiền Phong bị hành hung là vấn đề nhạy cảm, được báo chí và dư luận cả nước quan tâm theo dõi. Quá trình xử lý phải đảm bảo đúng trình tự pháp luật”.

Không rõ có gì “nhạy cảm” trong vụ việc này? Chẳng cần phải là một chuyên gia về luật pháp, cũng biết rằng hành hung người là tội hình sự cho dù người đó là ai (cho dù kẻ côn đồ đánh trọng thương nhà báo Võ Minh Châu được xác định là Dương Đình Trang - em trai Chủ tịch UBND xã Kỳ Thọ - đi nữa, thì bản chất sự việc cũng vẫn vậy).

Nếu nạn nhân bị hành hung là nhà báo đang tác nghiệp, thậm chí còn có thể coi đó là ngăn cản, chống người thi hành công vụ. Cơ quan chức năng cứ căn cứ vào đó để điều tra, xử lý theo đúng pháp luật mà thôi, chứ nếu coi đó là “vấn đề nhạy cảm”, e lại khó làm việc.

Hy vọng Bí thư Nguyễn Thanh Bình dùng từ “nhạy cảm” ở đây là theo một nghĩa khác của riêng ông, ví dụ nó tương đương với nghĩa “nghiêm trọng”.

***

“Dân bức xúc chủ yếu với các vụ tham nhũng nhỏ”

Tại cuộc họp triển khai công việc năm mới, Chánh văn phòng Ban chỉ đạo Phòng chống tham nhũng Trung ương, ông Vũ Tiến Chiến, dẫn ra một số vụ tham nhũng quy mô nhỏ, như trưởng thôn biển thủ 80kg ngô giống, người khác tư túi 90 triệu đồng tiền công đức... Ông đi tới kết luận: “Dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ. Chủ yếu là quan hệ của cán bộ với dân”.

Mới nghe qua phát biểu này thì người ta có thể nghĩ, như vậy nước ta cũng ít vụ tham nhũng lớn, không có nhiều vụ nghiêm trọng tới mức dân phải bức xúc. Tuy nhiên, nghĩ kỹ thì có thể thấy điều bất ổn: Tại sao người dân lại không bức xúc với các vụ tham nhũng quy mô lớn?

Tất nhiên, dân chúng sẽ bất bình với những trường hợp “ăn nhỏ”, “ăn vặt” mà họ chứng kiến hàng ngày ở nơi họ ở, hay tại cơ quan họ làm việc, tại công sở mà họ bị “hành”. Nhưng như thế không có nghĩa là họ bỏ qua những vụ tham nhũng lớn tầm quốc gia, ảnh hưởng đến lợi ích chung của đất nước, thậm chí đến quốc thể, đến các thế hệ tương lai. Nói cho đúng là, do nhiều khi thông tin “nhạy cảm” bị giữ kín, người dân không được biết tới nội tình các vụ tham nhũng quy mô lớn.

Nếu tham nhũng nhỏ có thể chỉ là một hành vi sai phạm, thì tham nhũng lớn phải bị coi là tội ác cần tiêu diệt. Nếu “dân bức xúc chủ yếu với các vụ việc nhỏ”, thì chứng tỏ họ không được biết tới các vụ việc lớn, và sự minh bạch thông tin của xã hội chúng ta “có vấn đề”. Quan chức nên lấy thực tế đó làm điều lo ngại.

***

“Người dân cần thông cảm với nhà đầu tư”

Bộ trưởng Giao thông Vận tải Hồ Nghĩa Dũng cho biết, thanh tra Bộ đã kết luận không có tiêu cực ở các trạm thu phí trên đường Bắc Thăng Long - Nội Bài (Hà Nội).

Trước tình trạng các trạm thu phí đặt trên quốc lộ khá dày đặc và nhiều trạm có mức thu khá cao khiến người tham gia giao thông bức xúc, ông Hồ Nghĩa Dũng nói: “Mức thu phí do Bộ Tài chính quy định, với các tuyến đường do nhà nước đầu tư có mức thu thấp hơn, còn các tuyến được doanh nghiệp đầu tư theo hình thức BOT thì cao hơn 1,5- 2 lần để hoàn vốn”.

Về việc một số trạm thu phí không bán vé tháng hoặc vé trên nhiều tuyến, gây phiền hà cho người dân, Bộ trưởng nói: “Các trạm thu phí BOT do tư nhân quản lý thì họ càng phải kiểm soát chặt chẽ, vé xuất ra thì phải thu hồi ngay chứ quay lại thì dễ làm giả. Theo tôi, người dân cần thông cảm với nhà đầu tư”.

Mặc dù khuyến khích tư nhân đầu tư vào cơ sở hạ tầng là hoàn toàn đúng đắn, song nếu nhìn từ quyền lợi của người dân, sẽ thấy việc Nhà nước đấu thầu và lựa chọn nhà đầu tư như thế nào, người dân đâu có biết (càng không được tham gia chọn nhà thầu), nên nếu bắt họ phải trả phí cao hơn trên những đoạn đường Nhà nước “bán” cho đơn vị đầu tư nhân nào đó, là không công bằng đối với họ.

Ấy là chưa kể, với tư cách “khách hàng”, người dân cũng không được chọn lựa tuyến đường nào thu phí phù hợp hơn, tức không được chọn sản phẩm dịch vụ có giá cả cạnh tranh hơn. Đây là tình trạng khách hàng bị “ép” giá, Nhà nước và nhà đầu tư nên thông cảm và tìm biện pháp phục vụ quyền lợi của khách hơn là kêu gọi họ thông cảm ngược lại.

Ở những quốc gia dân chúng “khó tính”, ít chịu “thông cảm”, thì họ không cần biết đường họ đang đi là do ai xây, và không chấp nhận việc trả phí chỗ này cao hơn chỗ khác chỉ vì lý do chỗ này nhà đầu tư phải bỏ ra nhiều tiền hơn chỗ khác.

***

Đổi tên trường Ams “cần trí tuệ tập thể”

Tuần qua, diễn đàn của học sinh trường Hà Nội – Amsterdam xôn xao chuyện Thành phố định đổi tên trường vào giữa năm 2010, khi công trình xây dựng một ngôi trường mới (trên khu đất khác, do Ban Giám hiệu trường Hà Nội – Amsterdam làm chủ đầu tư) được khánh thành.

Ngay sau đó, một vị lãnh đạo thành phố đã nói với VnExpress rằng, không có chuyện đổi tên trường Hà Nội – Amsterdam hiện nay; còn tên trường ngôi mới sẽ do Ban giám hiệu của Hà Nội – Amsterdam đề xuất, có điều Thành phố sẽ quyết định một tên gọi để phù hợp với tính chất của công trình kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long.

Về phía Sở GD-ĐT thành phố, Giám đốc Sở, ông Nguyễn Hữu Độ, cho biết có hai phương án: Hoặc chuyển trường Hà Nội – Amsterdam sang vị trí mới và đổi tên, hoặc thành lập tại vị trí mới đó một ngôi trường mới.

“Điều đó sẽ được bàn bạc kỹ trong lãnh đạo Sở để quyết định… Còn đặt tên là gì, sau đây, chúng tôi sẽ tiếp tục nghĩ và bàn thêm sau khi thống nhất phương án có chuyển hay không… Đây là một vấn đề cần phải được quyết định bằng trí tuệ tập thể sau khi họp bàn thống nhất, chúng tôi sẽ thông tin với báo chí. Có thể đặt tên theo địa danh là Trường Chuyên Hà Nội”. (VietNamNet, 14/1)

Như vậy, cho đến giờ, việc trường Hà Nội – Amsterdam “được” đổi sang tên khác mới chỉ là một trong các khả năng chứ chưa phải là “Thành phố đã quyết định”. Sở dĩ có nhiều ý kiến thắc mắc và bức xúc, là bởi lẽ ngôi trường đang xây kia cũng do Ban Giám hiệu Hà Nội – Amsterdam đầu tư, nên dư luận dễ tưởng là trường mới cũng thuộc về Hà Nội – Amsterdam. Rắc rối là ở chỗ đó.

Còn vấn đề tên, nhưng ông Nguyễn Hữu Độ nói, là vấn đề “cần phải được quyết định bằng trí tuệ tập thể sau khi họp bàn thống nhất” – cũng là hoàn toàn chính xác. Tuy thế, không rõ “trí tuệ tập thể” bao gồm những tập thể và cá nhân nào, nhưng hình như trong số đó không có đại diện của học sinh hiện nay cũng như các cựu học sinh Hà Nội – Amsterdam – những người đã góp phần đáng kể làm nên thương hiệu gần 30 năm nay của ngôi trường chuyên nổi tiếng nhất Hà thành.

Ngay cả ý kiến của Ban Giám hiệu trường thì cũng chỉ là một “đề xuất”, trên cơ sở đó lãnh đạo Thành phố sẽ ra quyết định. Điều này có lẽ là hơi vô lý, nhất là khi Ban Giám hiệu trường lại là chủ đầu tư của công trình xây dựng trường mới kia – lẽ nào lại không được quyền tự chọn tên cho mình?

“Trí tuệ tập thể” có được huy động thật hay không, dân chủ cơ sở có được thực thi hay không, là thể hiện ở những trường hợp như thế này. Ngoài ra, cũng cần phải nói thêm rằng nếu đổi tên cho một ngôi trường đã có thương hiệu gần ba chục năm thì cần một lý do nào đó thật sự quan trọng hơn việc “kỷ niệm 1000 năm Thăng Long”.

***

Mê mải tri ân nền giáo dục Xô Viết trên sóng VTV

Sau năm tháng đều đặn phát các phóng sự về chủ đề “Thầy trò Xô - Việt”, Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) tổ chức chương trình truyền hình trực tiếp cũng với tên gọi “Thầy trò Xô - Việt”.

Ông Trần Đăng Tuấn, Phó TGĐ VTV, phát biểu: “Không chỉ là một việc làm tình nghĩa, chúng ta cũng cần nhân dịp này để tìm kiếm và suy nghĩ lại xem nền giáo dục Xô Viết đã làm cho chúng ta được những gì. Vì tại sao đến lúc này, chúng ta đã có hàng trăm ngàn du học sinh đến hàng trăm nước khác trên thế giới, nhưng không du học sinh Việt Nam ở đâu có sự gắn bó đến máu thịt như chúng tôi ngày xưa với nước Nga?”. (Tuổi Trẻ)

Thực ra, nếu VTV tiến hành phỏng vấn nhiều lưu học sinh ở các nước khác, sẽ thấy rằng nền giáo dục khác và người dân các nước XHCN khác (Hungary, Romania, CHDC Đức…) cũng đối xử tình nghĩa không kém với lưu học sinh Việt. Cũng không có gì đảm bảo là “chúng ta đã có hàng trăm ngàn du học sinh đến hàng trăm nước khác trên thế giới, nhưng không du học sinh Việt Nam ở đâu có sự gắn bó đến máu thịt như chúng tôi ngày xưa với nước Nga”.

Có chăng, chỉ là lượng lưu học sinh Việt Nam ở Liên Xô khi trước đông gấp nhiều lần lưu học sinh tới các quốc gia khác, nên dễ tạo cảm giác như vậy. (Đấy là còn chưa nói đến chuyện ngay Mỹ và nhiều nước phương Tây khác cũng là các quốc gia mà từ thời mở cửa, đã đào tạo hiệu quả không ít học sinh, sinh viên cho chúng ta).

Ngoài ra, trên cương vị một đài truyền hình quốc gia, hoạt động chính thức bằng kinh phí Nhà nước (cũng là tiền thuế của nhân dân), VTV nên có sự cân đối giữa tình cảm (của lãnh đạo, hoặc nhiều hơn, của một nhóm – cộng đồng những người từng học ở Nga) với những lợi ích khác cho khán giả và quốc gia, tóm lại là nên công bằng hơn.

Tại sao lại không có những sự kiện được quảng bá rầm rộ như thế, tổ chức cho thầy cô giáo và du học sinh ở các nước khác? Nếu được biết VTV có sự “nhất bên trọng…” này, những nước khác có thể nghĩ gì về chúng ta?